Monday, April 30, 2012

Fw: [Exryu-ww-Forum] Tôi muốn…làm nô bộc




----- Forwarded Message -----
From: nguyen phong quang <nguyen_phongquang@yahoo.fr>
To: exryu-ww forum <Exryu-ww-Forum@yahoogroups.com>; "exryu-ww-vannghe@yahoogroups.com" <exryu-ww-vannghe@yahoogroups.com>; Exryu WW <exryu-ww@yahoogroups.com>
Sent: Sunday, April 29, 2012 5:31 AM
Subject: [Exryu-ww-Forum] Tôi muốn…làm nô bộc

 
Tôi muốn…làm nô bộc
Thứ sáu, 27/4/2012
Hồ Hồng Tuyến
 
 
 
(Tamnhin.net) - ...tôi muốn làm nô bộc từ lâu rồi bác ạ, chỉ cần một nhiệm kỳ…à một năm thôi, chuộc lại trâu, trả hết nợi, xây được cái nhà tầng, mua cái xe máy xịn, có đủ vốn để hai thằng con học hành là tôi hạ cánh ngay...
 
 
- Này bác, nô bộc là gì nhỉ?

- Là đầy tớ, phải trung thành, cần cù làm việc cho chủ nhân. Mà sao tự dưng lại hỏi như thế ?

- Là lâu nay, trước dân không thấy ông cán bộ nào nói đến cụm từ này nên thấy nhơ nhớ.

- Cũng có lý do của nó, như xấu hổ vì đây đó đã xẩy ra nhiều chuyện cán bộ tham nhũng, cán bộ lừa dân, mạo danh "chủ", lợi dụng "chủ" để tư túi, trục lợi…

- Cũng có lý, mà cũng không có lý, vì chẳng lẽ ông cán bộ nào cũng như thế cả sao ?

- Nhưng đã xẩy ra nhiều vụ rồi nên dân mất niềm tin, nghe nô bộc nói, thấy nô bộc làm là người ta sợ. Như ở TP Việt Trì xin, chạy bằng được lên TP loại 1, tỉnh Vĩnh Phúc qua "Vụ án nuốt đất". Phía sau đó dân chỉ có chết, còn quan chức- nô bộc thì giàu sụ lên. Vụ án nông trường Sông Hậu, nô bộc quyết tâm đưa nữ anh hùng An Sương liêm khiết vào tù vì tội lập quỹ đen, vụ Tiên Lãng, gia đình ông Đoàn Văn Vươn tan nát, vào tù vì nô bộc, rồi vụ DN Đức Hoa ở thị xã Thái Hòa Nghệ An điêu đứng vì tất khuất đền bù GPMB ở cầu Khe Tọ…

- Thôi, thôi, bác kể thế thì đến khi nào cho hết, xem ra bức tranh xám xịt quá. Có chuyện gì về nô bộc vui vui không ? Ở làng xã ta, hoặc đâu đó trên báo chí cũng được.

- Trước đây, cách đâu mấy chục năm có một số báo viết về ông Trương Đình…gì đó làm bí thư tỉnh ủy ta. Ông này từng đi xe lai, đi xe đạp về các vùng nông thôn nhạy cảm để thị sát thực tế cuộc sống của dân, sau đó đề xuất, quy hoạch cho từng vùng trồng cây gì, nuôi con gì..

- Hiệu quả thế nào ? Cộng, trừ , nhân, chia cuộc sống của dân có khởi sắc ?

- Lâu rồi tôi cũng không nhớ nữa, nhưng chắc không nhiều thì ít. Ngoài chuyện nô bộc này ra thì không thấy chuyện nào khác.

- Thế thì sợ nô bộc quá bác nhỉ, trong lúc đó Chính phủ từ lâu đã thành lập phong trào phòng chống tham nhũng, Quốc hội cũng sửa luật để các điều khoản sát với thực tế trong xử phạt, vậy mà xem ra vấn nạn nô bộc vẫn không giảm, mà càng tinh vi hơn. Đó là chuyện mua quan bán tước, sau đó làm được chức nô bộc cao thì bằng mọi cách thu vốn lấy lời. Như XDCB, đường xá, trường học, đê đập thủy lợi, dự án càng lớn lợi nhuận càng cao, tiền vào túi càng nhiều. Không như thế mà có nhà lầu, xe hơi, vợ ăn chơi, con du học…mà lương của họ thì được mấy. Chỉ một phép cộng, trừ đơn giản là biết ngay. Bây giờ cán bộ nào cứ lương ba đồng ba cọc xem có ai phấn đấu, kể cả cho không xem có mấy nô bộc lên ghế nọ, ghế kia để vì dân, vì nước.

- Chú suy diễn theo kiểu vơ đũa cả nắm rồi đấy, không khéo ếch chết vì miệng có ngày. Nếu nói ông tòa án nọ, công an kia, ông chủ tịch huyện ăn hối lộ, tham nhũng chỉ là một phần ít, còn hàng ngàn, hàng vạn cán bộ khác cũng thế cả sao.

- Những chuyện tiêu cực báo chí phanh phui ra thì không nói nữa, còn bao chuyện chưa ai biết, mà ai dám chắc trong đó nô bộc hoàn toàn trung thành vì dân.

- Chưa biết thì không nói, đừng làm nản lòng. Thôi bây giờ chú với tôi ta nói nói kinh tế gia đình xem nào, phải biết làm giàu chính đáng.

- Làm nhà nông bao giờ cho đủ ăn được nói chi đến giàu, tôi nhớ câu thơ ông Phạm Việt Thư ở báo NNVN "Mẹ ngồi dưới vạt khoai lang, từ đây đến chộ giàu sang mịt mù".

- Thì bứt phá lên, năng động lên, khối người từ bụi mía, luống khoai đi lên đấy thôi.

- ý bác nói là kiếm một số vốn, như vay lãi ngân hàng, bán đi vài con trâu, hoặc vay mượn thêm để mua một chức nô bộc. Đúng, đúng, chỉ có cách này mới bằng chị bằng anh được. Nhưng mà bác ơi làm chức nô bộc phải có trình độ trên giấy, như bằng thạc sỹ, tiến sỹ. Còn trình độ thật là giỏi lọc lừa dưới, nịnh bợ trên, giỏi đi lại với từng đối tác…
Ông bác cười ! cười chảy cả nước mắt.

- Chú đã giỏi thật, trình độ thật, làm được nô bộc thật, về nhà bàn với vợ con mà tiến hành đi.

- Cũng nói thật, tôi muốn làm nô bộc từ lâu rồi bác ạ, chỉ cần một nhiệm kỳ…à một năm thôi, chuộc lại trâu, trả hết nợ, xây được cái nhà tầng, mua cái xe máy xịn, có đủ vốn để hai thằng con học hành là tôi hạ cánh ngay, chẳng tham kẻo thâm.
Hồ Hồng Tuyến

__._,_.___
Recent Activity:
.

__,_._,___


Fw: [Exryu-ww-Forum] Nhân ngày 30 tháng 4 nhắc lại chuyện cũ về thi sĩ Vũ Hoàng Chương



----- Forwarded Message -----
From: nguyen phong quang <nguyen_phongquang@yahoo.fr>
To: exryu-ww forum <Exryu-ww-Forum@yahoogroups.com>; "exryu-ww-vannghe@yahoogroups.com" <exryu-ww-vannghe@yahoogroups.com>; exryu-france <exryu-france@yahoogroupes.fr>; Exryu WW <exryu-ww@yahoogroups.com>
Sent: Sunday, April 29, 2012 12:24 PM
Subject: [Exryu-ww-Forum] Nhân ngày 30 tháng 4 nhắc lại chuyện cũ về thi sĩ Vũ Hoàng Chương

 
Nhân ngày 30 tháng 4 nhắc lại chuyện cũ về thi sĩ Vũ Hoàng Chương
26/04/12
Sông Lô
 
http://www.danchimviet.info/archives/56869
 
Nàng trả con về nơi xóm cũ
Nghẹn ngào trở lại đẩy xe nôi
Rồi từ hôm ấy ôm con chủ
Trong cánh tay êm luống ngậm ngùi
Nàng nhớ con nằm trong tổ lạnh
Không chăn, không nệm ấm, không màn
Biết đâu trong những giờ hiu quạnh
Nó gọi tên nàng giọng đã khan
Rồi từ đêm ấy những đêm sau
Hồi hộp nàng ra tựa cửa lầu
Ngó xuống ven trời đầy bóng nặng
Tìm nghe trong gió tiếng con đâu
Gió vẫn vô tình lơ lửng bay
Những tàu cau yếu sẽ lung lay
Xạc xào động cánh… nàng mơ tưởng
Như tiếng lòng con vẳng tới đây
Nàng nhớ con u sầu rũ rượi
Gục đầu thổn thức trên bàn tay
Bạn ơi, nguồn gốc sầu kia bởi
Số mạng hay do xã hội này
 
Đây là một trong những bài thơ gối đầu giường của tôi, khi còn là học sinh trung học. Ở Miền Nam lúc bấy giờ, những bài thơ hay, được phổ biến của các thi sĩ thời tiền chiến rất được giới học sinh chúng tôi yêu chuộng. Thậm chí có những bài thơ còn được đưa vào chương trình học ở nhà trường, bất kể là thi sĩ sáng tác bài thơ ấy đang phục vụ cho chế độ chính trị nào, dù là Miền Nam hay là Miền Bắc.
Bài thơ Vú Em ở trên của nhà thơ Tố Hữu, đối với tôi lúc nào cũng vẫn là một bài thơ hay. Tác giả đã sáng tác bài thơ này trước khi đến với đảng CSVN, tả lại tình cảnh một người mẹ trẻ nghèo phải đi ở vú cho người khác, lấy sữa của nàng cho con chủ bú và ấp ủ con chủ trong vòng tay ấm áp của mình. Trong lúc ấy, con của nàng nơi xóm nghèo "tổ nhỏ", khóc đến khản tiếng vì đói lạnh và thèm thuồng một vòng tay ấp yêu của mẹ. Càng nhớ càng thương con bao nhiêu, càng đau đớn bấy nhiêu, nhưng biết làm sao hơn, thôi thì chỉ biết tấm tức khóc thầm, xót xa cho thân phận hẩm hiu của mình. Cuối cùng tác giả kết luận, vì đâu mà có cảnh éo le như vậy, phải chăng đó là số phận hay là do cái xã hội bất công này? Đây là một kết luận nhân bản và đấy ắp tình người. Xa hơn, qua bài thơ, tác giả muốn nhắn nhủ với những ai đã từng là nạn nhân của đói nghèo và cam phận, của áp bức và bất công hãy tự thoát ra làm chủ cuộc sống, làm chủ đời mình, đừng vịn vào số phận để rồi cam chịu.
Nhắc lại bài thơ trên như nhắc lại dĩ vãng một thời mà đối với tôi chỉ còn là vang bóng, nó đã gợi cho tôi sống lại cái thuở thanh bình ngắn ngủi, vào những năm 56, 57, 58 ở miền Trung với nhiều luyến tiếc.
Cái thuở thanh bình xa xôi ấy, được sống trong môi trường hiền hòa chân thật, ấm no thịnh trị, được nuôi dưỡng trong tình thương của cha mẹ anh em, của bà con chòm xóm, của lũy tre làng, của giòng sông xanh hiền hòa trong mát.
Với một môi trường như vậy, lẽ dĩ nhiên con người cũng ảnh hưởng theo mà rất dễ chạnh lòng trước bất cứ một hiện tượng bất công nào, cho dù hiện tượng ấy chỉ được diễn đạt trong thi ca.
Thế nhưng càng về sau, theo tuổi lớn, sống trong chiến tranh loạn lạc của quê nhà, với bom đạn xới cày, với ngút ngàn thù hận, tôi bước vào đời bằng chiếc áo trận của người lính Thủy Quân Lục Chiến, miệt mài nơi tuyến đầu lửa đỏ với quyết tâm bảo vệ quê hương, bảo vệ phần đất tự do còn lại. Nhưng than ơi, sau đó…!!! Nhất là với những năm tháng "được" nằm trong trại "học tập cải tạo" sau năm 1975.
Thấm thía và chiêm nghiệm được sự chân thật và dối trá, tình đời và lòng người, hai mặt của một đồng tiền, xa hơn là cái con người của quần chúng và con người của cá nhân trong đó có cái con người cá nhân đối với con người cá nhân hay con người cá nhân đối với con người của quần chúng cũng như con người của tham vọng và con người của quyền lực, mà con người của tham vọng và con người của quyền lực, thì sao mà ghê gớm quá.
Từ cảm nhận trên, tôi thường chủ quan đánh giá hay nhìn bất cứ một đối tượng nào đều thiên về bản chất hơn là hiện tượng. Cũng vậy, cái nhìn đối với nhà thơ Tố Hữu, thần tượng thi ca một thời của tôi, đùng một cái, xụp đổ tơi bời.
Qua cái nhìn thiên về bản chất ấy, bằng những nhân chứng sống, bằng những tài liệu đáng tin cậy được phổ biến, tôi biết đó là một ông quan văn nghệ đầy tham vọng và nham hiểm, nó hoàn toàn trái ngược với một số bài thơ "hiện tượng" đầy ắp tình người mà ông đã sáng tác trước khi ông sáng tác bài thơ "Từ Ấy". Cũng "Từ Ấy" cái ác hầu như chiếm tỷ lệ cao ở trong ông, cũng "Từ Ấy" ông sợ bằng con đường vương đạo sẽ không có chỗ cho ông tiến thân hoặc nếu có thì cũng chỉ có từ rất chậm đến chậm mà thôi, nên chi ông không ngần ngại chọn con đường bá đạo kể cả tạo ra những "hoạn lộ" cho những thi hữu cùng thời với ông để đường tiến thân của ông được suông sẻ mà vươn lên.
Thương dân thương nước thương nhà
Thương con thương cháu thương cha ông mình Thương chi ông Sit-ta-lin Để cho Từ Ấy hằn in vết chàm Bầm Ơi! có thấu chăng Bầm Mặc ai khổ nhục vinh thân là mình Chiến trường đổ Máu ba quân Trung ương Hoa nở tưng bừng Bầm ơi
Chân dung của nhà thơ Tố Hữu mà tôi đã cố gói ghém trong tám câu lục bát này không ngoài tham vọng là để cho bất cứ một người yêu thơ nào khi đọc lên là sẽ bắt được ngay ý của tôi.
Đối với những người VN quan tâm đến thi ca, cho dù là thi ca cận đại hay là thi ca tiền chiến mà không biết đến thơ của Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận v.v.. thì cũng chẳng khác nào những người quan tâm đến nhạc tiền chiến mà không biết đến những nhạc sĩ Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Văn Cao, Đỗ Nhuận, Đặng Thế Phong v.v..
Riêng khi nói đến nhà thơ Tố Hữu, hơn năm mươi bốn năm nay những người yêu thơ ở trong nước cũng như ở hải ngoại, không ai là không nhắc đến hai câu lục bát "nổi tiếng" trong bài thơ "Đời Đời Nhớ Ông" mà nhà thơ đã sáng tác vào năm 1953 khi nghe tin Stalin bị chết.
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười
 
Tố Hữu là một nhà thơ có tài, sáng tác rất khoẻ, ông mất đi đã để lại cho đời nhiều bài thơ nổi tiếng, có giá trị văn học, thậm chí có nhiều bài thơ của ông trong thời chiến tranh đã và đang được đưa vào dạy ở học đường XHCN, như bài "Bầm Ơi" sau đây là một điển hình:
Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm
Bầm ơi, có rét không Bầm
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn tay cấy mạ non
Mạ non Bầm cấy mấy đon
Ruột gan Bầm lại thương con mấy lần
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương Bầm bấy nhiêu
Bầm ơi, sớm sớm, chiều chiều
Thương con Bầm chớ lo nhiều Bầm nghe
Con đi trăm suối nghìn khe
Đâu bằng muôn nỗi tái tê đời Bầm
Con đi chiến đấu mười năm
Đâu bằng khổ nhọc đời Bầm mấy mươi
 
Và còn biết bao nhiêu bài thơ hay khác mà trong một xuất thần ông đã để trào ra đầu ngọn bút, có sức truyền cảm lạ thường, khiến cho người thưởng thức rung động với niềm cảm thông như tâm sự chính mình.
Đó là những đứa con "tinh thần" cũng mang nặng đẻ đau của một "bà mẹ"
đúng nghĩa, đó là những vần thơ được ông vắt ra từ lý lẻ của con tim, bằng những gì chân thật nhất. Lẽ dĩ nhiên nó là những đứa con được ông thừa nhận trong niềm kiêu hãnh. Nhưng, cũng như hai mặt của một đồng tiền, ở mặt này là giá trị của tấm huy chương óng ả nạm vàng và mặt còn lại là vết thẹo của đớn hèn, tủi hổ. Tố Hữu cũng có những đứa con hoang, những đứa con vô thừa nhận mà ông lỡ đã làm giấy khai sinh, những đứa con mà trong một lúc bồng bột ông đã cấu thành.
Ông biết lắm chứ, những đứa con này thì ông muốn khai tử, muốn vứt quách cho rồi. Trong thâm tâm, đối với ông đó là những đứa con mang nhiều bệnh tật, hớm hỉnh và dị đời. Đúng vậy, hai câu lục bát:
 
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười
 
Là một trong những "hoang tử" đó. Tuy không được đưa vào học đường, tuy ít được chính ông nhắc đến, nhưng nó đã dính liền với ông như bóng với hình, kể từ lúc "khai sinh" ra nó cho đến bây giờ, dù ông đã mất.
Nó như vết xăm, xăm lên người, không thể nào tẩy xoá. Nó tréo cẳng ngỗng, nó trớ trêu làm sao ấy… nó chẳng khác nào như một người VN nói mình là người yêu nước, yêu dân tộc, yêu đồng bào, với gần mấy mươi năm lưu lạc xứ người, bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước… nỗi nhớ nước thương nhà luôn canh cánh bên lòng, thế mà khi về lại, vừa nhìn thấy ngọn núi quê hương, vừa nhìn thấy dòng sông đất nước đã vội vàng đặt cho những cái tên của "ông tây bà đầm" tận đẩu tận đâu ấy.
Với cách hành xử của một con người như vậy lẽ nào bảo đó là người VN truyền thống, là người VN đúng nghĩa? Theo tôi nếu là một người VN chân chính, đúng nghĩa khi rơi vào trường hợp này sẽ không hành xử như vậy, còn nếu làm như vậy mà bảo đó là hành động của người yêu nước chân chính thì quả là mỉa mai…!!!
Trở lại chuyện dài Tố Hữu, số là sau 1975 khi Sài Gòn bị đổi tên thành thành phố HCM, Tố Hữu lúc bấy giờ là quan văn nghệ từ trung ương ngoài Bắc vào Nam có ghé đến nhà Thanh Nghị, một quan Văn Hoá vừa từ trong bưng ra, có một ngôi biệt thự xinh xắn do chiếm được ở góc đường Thống Nhất và Hai Bà Trưng. Ông này cũng như tôi thuở "vụng dại", xem Tố Hữu là thần tượng của mình.
Để làm hài lòng thần tượng và là xếp lớn, Thanh Nghị liền tụ tập một số những nhà thơ lão thành tiền chiến tên tuổi, tổ chức một đêm "họp văn nghệ", nói là để đánh giá sơ khởi thi ca cả hai miền như là tiền đề cho sự thống nhất văn học sau này. Nhưng mục đích chính là để "hóa giải", để "thẩm định" lại, cho đúng đắn hai câu thơ của Tố Hữu đã thường xuyên bị "bia miệng" dân gian ví von, xách mé và châm chọc.
Theo như tác giả Vân Xưa trong bài "Thơ Tố Hữu" đăng trên Quê Mẹ số 63/64 có kể rằng:
Thanh Nghị trình bày ý kiến của mình trước và cho rằng ví von, châm biếm vì ác ý hơn là vì nghệ thuật đúng đắn. Hai câu lục bát này thật ra không thể chê vào đâu được. Nó vừa khẩu chiếm vừa xuất thần mà khẩu chiếm và xuất thần là những tiêu chuẩn cao nhất, định giá trị thi ca VN. Nó đồng thời thể hiện truyền thống thi ca bình dân nước ta, qua hai vần lục bát thật thoát sáo, vừa giữ vẹn hồn tính một ca dao vừa đưa loại thi ca giọng quê lên ngang giọng bác học.
Với vỏn vẹn có 14 chữ, trong đó từ "thương" bẩy lần láy lại và còn 7 chữ kia "cha, mẹ, chồng, mình, ông, một & mười" đều là những từ không có mấy thi tính. Thế mà Tố Hữu đã ghép lại và khi ta ngâm lên thì thấy rõ ràng thần tính từ 14 chữ (đúng ra là 8 từ) ấy cuồn cuộn thoát ra, thâm nhập hồn người thưởng ngoạn, khiến hồn tính con người rung động như tơ đồng trên phím, khi nhạc sĩ vuốt vào giây, thật là hết ý.
Thanh Nghị vốn khéo ăn khéo nói, lại thao thao bất tuyệt nên cử tọa bị lôi cuốn theo mà "đồng thanh tương ứng" nhận cách ông thẩm định hai câu thơ của Tố Hữu là xác đáng. Thế rồi có ai đó yêu cầu các thi sĩ có mặt ở "hiện trường" xác minh thẩm định trên, dựa theo những câu thơ đắc ý của chính mình. Lấy những vần ít bác học mà so, Xuân Diệu đem hai câu mình đắc ý trong bài Buồn Trăng,
Ngẩng đầu ngóng mãi chưa xong nhớ
Hoa bưởi thơm rồi, đêm đã khuya
Mà cho rằng, không thể truyền cảm sâu sắc hơn hai câu thơ của Tố Hữu được. Huy Cận thì đọc hai câu thơ trong bài Áo Trắng mà mình cho là tâm đắc,
Em lùa gió biếc vào trong tóc
Thổi lại phòng anh cả núi non
Để phải nhận rằng, hai câu thơ của Tố Hữu gây xúc động mạnh hơn, dồn dập hơn trong khu vực tình cảm mỗi bên, khi muốn dùng thi ca để tác động tâm hồn yêu thơ. Chế Lan Viên không muốn nhắc đến lũ "Ma Hời" một thời vật vờ than khóc của mình mà đưa hai câu cuối trong bài "Mùa Xuân Chín" của thi tài thiên bẩm Hàn Mặc Tử, được sáng tác lúc còn là học sinh trung học ở Quy Nhơn mà ông cho là tuyệt bút,
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang
Để so với hai câu của Tố Hữu, họ Chế cho rằng hai bên đều là thơ hay ở mức độ cao, cách phổ diễn niềm đau trước cuộc tình bỗng dứt, một bên vì dang dở, một bên vì tử biệt sinh ly. Nhưng phải chịu là hai câu của Tố Hữu gần hồn tính bình dân, hai câu của Hàn Mặc Tử không sao sánh kịp.
Các nhà thơ khác không ai dám "cầm đèn chạy trước ô tô", mà dây vào qua cách dùng thơ của mình để mổ xẻ và so sánh như các bậc thi bá "lẫy lừng" được. Có thể là vì biết thân biết phận, vì tự trọng hoặc sợ họa vào thân không chừng, hay cũng có thể là cả ba. Nhưng nói chung, đa số đều im lặng, mà im lặng có nghĩa là tán đồng những thẩm định đã nêu, theo đánh giá chủ quan trong hoàn cảnh tế nhị lúc bấy giờ.
Hoài Thanh, tác giả "Thi Nhân VN" mà Hà Sĩ Phu sau này có vẽ chân dung của ông như sau:
"Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên"
Nét này vẽ bác Lan Viên
Bác Hữu, bác Cận hay riêng bác Hoài
Chân dung các bác ngời ngời
Chém cha cái nửa phần đời phía sau
Cuộc đời hai nửa vì đâu
Nửa say quỷ kế nửa đau nhân tình
Xuân Sách thì lâu rồi, đã nhất quyết là không bõ qua, chẳng những thế, chân dung của nhà phê bình văn học này còn được ông chiếu cố hết mình.
Cũng nên nhớ rằng hai câu: "Vị nghệ thuật nửa cuộc đời, nửa đời sau lại vị người ngồi trên" là thơ truyền khẩu dân gian theo kiểu Bút Tre.
Ông Xuân Sách và ông Hà Sĩ Phu đã ứng dụng vào để làm rõ thêm chân dung của tác giả Thi Nhân VN.
"Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên"
Thi nhân còn có chút duyên
Lại vò cho nát, lại lèn cho đau
Bình thơ đến thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi đau nhân tình
Giật mình, mình lại thương mình
Tàn canh, tỉnh rượu, bóng hình cũng tan!
Vì sao? Tiện đây người viết cũng xin đôi chút dài dòng về nhà phê bình văn học này. Thời tiền chiến, Hoài Thanh là nhà phê bình văn học có tiếng trước khi gặp "cách mạng", vào những năm 1935,1936 Thiếu Sơn cùng với ông và một số anh em văn học đã khởi xướng cuộc tranh luận trên văn đàn VN "Nghệ Thuật Vị Nghệ Thuật hay Nghệ Thuật Vị Nhân Sinh".
Ông là người đứng đầu phe "nghệ thuật vị nghệ thuật" với chủ trương văn chương là văn chương còn phe bên kia "nghệ thuật vị nhân sinh" với chủ trương là, nền văn học của một thời đại nào cũng chỉ là cái phản ánh của cuộc đấu tranh giai cấp, mỗi chế độ kinh tế tất có một nền văn học tương đương và nền văn học nào thì bên vực cho chế độ kinh tế ấy mà người đứng đầu là Nguyễn Khoa Văn bạn thân của Tố Hữu, bí danh Hải Triều, một cán bộ tuyên huấn xứ ủy Trung Kỳ, ông này cũng là cha đẻ của Nguyễn Khoa Điềm làm bộ trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin dưới thời Phan Văn Khải là thủ tướng. Cuộc tranh luận kéo dài nhiều năm, cho mãi đến gần tháng 8 năm 1945 thế sự xoay vần, con cờ đã lộ, Hoài Thanh thức thời vội bõ ngay quan điểm cũ của mình mà "nhập vai" hòa đồng với đường lối văn hóa văn nghệ "đúng đắn" của đảng, đó là nền văn hóa văn nghệ "nghệ thuật vị nhân sinh" dựa trên ba điểm chính: Dân Tộc, Khoa Học và Đại Chúng do ông Trường Chinh khởi xướng. Cũng từ đó Hoài Thanh trở thành "người gác cổng văn học" vừa trung thành vừa mẫn cán của nền văn học hiện thực XHCN.
Lẽ dĩ nhiên, không chính thức có làm thơ, nên không có thơ, được quyền khỏi so sánh và mổ xẻ. "Hú hồn", tuy vậy, ai cũng hướng về ông như muốn ông cùng nhập cuộc. Với mái tóc muối nhiều hơn tiêu cái chắc là Hoài thanh dại gì mà dây vào, hơn nữa ăn được cái giải gì mà vào "cuộc chơi" chỉ có thua này. Thế là chưa ai kịp lên tiếng mời ông thì ông đã vội mời Vũ Hoàng Chương thẩm định.
Nhà thơ họ Vũ vốn người không mấy cân quắc, lại ăn nói ôn tồn nhỏ nhẹ, nãy giờ chìm lỉm dưới làn kinh truyện tuôn từ các bậc thi bá đắc thời, không ai nhìn thấy ông.
Hoài Thanh gọi đến Vũ Hoàng chương cốt để né tránh thật nên đề nghị là phải có một nhà thơ của miền Nam góp ý. Nhưng chắc hẳn lòng dạ không muốn chờ đợi từ nhà thơ họ Vũ phát ra một "ánh sáng" hay một "tia chớp" bất ngờ nào.
Vũ Hoàng Chương biết thế nên cứ từ tạ, nhưng rồi Thanh Nghị "mớm mồi" ép thêm vào mà trong bụng tin rằng con người Vũ Hoàng Chương hiền hòa, ắt không sợ xảy ra cảnh "Hán Sở tranh hùng" hay "Bác anh hùng tôi cũng anh hùng" như ông Hồ đối đáp một mình với đức Trần Hưng Đạo.
Ai đã biết Vũ Hoàng Chương, ắt phải biết cái đanh thép bên trong tấm thân nhỏ bé ọp ẹp của ông. Đôi ba lần từ tạ không được, đành nhảy vào nhập trận "hò kéo pháo", nhưng trước khi vào cuộc họ Vũ đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái "sáng giá" của đêm họp "văn nghệ đặc biệt" này, bởi "tất tần tật" đã thẩm định rồi.
Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương do người có bổn phận điếu đóm đêm hôm ấy thuật lại.
"Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.
Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được "đóng khung" tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên. Đạt đến một mức độ điêu luyện cao. Lời thẩm định của Thanh Nghị thật xác đáng, tôi chịu.
Nhưng thơ không phải chỉ có thế. xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt. Tức chưa phải là hay. Thơ hay vừa phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép.
Vấn đề của thơ nói cho đến nơi, là ở đây, có nghĩa là thơ phải thực.
Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ VN, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ VN yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca, nhưng trước hết phải biết bà mẹ VN đó có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?
Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài "Đời Đời Nhớ Ông", Tố Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:
Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin
Chắc chắn là không có một bà mẹ VN nào, kể cả bà Tố Hữu mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu ta đang mổ xẻ.
Một tình tự không chân thực, dù được luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay mà chỉ là thơ khéo làm, đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thơ thợ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi cho một tuyên truyền nào đó. Tố Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Những bà mẹ VN trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm".
Rồi ông kết luận, hai câu lục bát của Tố Hữu, theo ý mình, chỉ là những lời thơ khéo, không thể so sánh với những câu thơ của những nhà thơ vừa nêu ở trên, bản chất khác hẳn.
Lời thẩm định trên của Vũ Hoàng Chương đã gây sôi nổi, sôi nổi vì bất bình nhiều hơn là vì tranh luận. Một vài cử tọa muốn đẩy họ Vũ đến chỗ bí, để hóa giải thẩm định ngược dòng của ông. Họ đã yêu cầu ông nói về thơ và sự thực mà ông đã đưa ra để chê Tố Hữu và cùng nghĩ rằng Vũ Hoàng Chương khó lòng mà đưa ra một luận cứ vững vàng được. Nhưng Vũ Hoàng Chương cứ vẫn ôn tồn "giải trình" tiếp:
Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại tình tự hư hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng, nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy. Tôi xin nhắc: Sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca.
Vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời. Sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống.
Hình như những ngày sau "cái đêm hôm ấy" Vũ Hoàng Chương đã bị bắt đi học tập và chết vào ngày 06 tháng 9 năm 1976 khi được tha về không bao lâu, có người nói Vũ Hoàng Chương là người dại, nhưng cũng có người nói Vũ Hoàng chương là người can đảm. Theo tôi, ở vị trí kẻ sĩ, ông là một con người tự do, con người tự do của kẻ sĩ không phải quỳ lụy trước bất cứ một áp lực nào, con người tự do của kẻ sĩ tự nó đã có tính tự trọng cao và là con người can đảm. Như Phùng Quán nói:
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không bảo yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không bảo ghét thành yêu
Những người nói ông dại, không biết phía sau chữ dại ấy có ẩn chứa gì không? Nhưng sao thấy nó bất ổn quá chừng, nó chỉ biện minh được một điều duy nhất, đó là tính yếu kém của con người, nói rõ hơn, nó như dấu diếm một cái gì vừa bí hiểm vừa hèn hạ. Hơn nữa, nếu ai đó nói cách xử sự của thi sĩ họ Vũ trong hoàn cảnh như vậy là dại, cũng có thể với hàm ý là, giữ sự im lặng trong hoàn cảnh như vậy là hành động của kẻ trí? và nếu vậy thì sẽ không có bài viết này.
Thôi thì cứ huỵch toẹt như Nguyễn Tuân, tuy rằng có cay đắng nhưng mà thành thật: "Sở dĩ tôi còn sống cho đến ngày hôm nay là vì tôi còn biết sợ" lời nói thành thật này không phải là hành động của một người can đảm hay sao.
Cũng nhân bài viết này chúng ta thử giải thích vì sao những dòng thơ tiền chiến của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên thì được giới yêu thơ mến mộ, cho dù chỉ dăm ba câu đi nữa! Còn những dòng thơ sau này của cả ba có ai nhắc đến đâu? Họa hoằn lắm cũng chỉ được một số ít người.
Phải chăng cái thực của muôn đời so với các thực của một thời là vậy?
Cái thực một thời của cả ba là cố ép những vần thơ tài hoa của mình lặng hụp trong dòng đấm đá đấu tranh giai cấp mất cả tính người. Nó gượng gạo và trơ trẽn làm sao ấy. Tiếc thật…
Biển khổ mênh mông sóng ngập bờ
Khách trần chèo một mái thuyền chơi
Thuyền ai ngược sóng ai xuôi sóng
Cũng ở trong cùng biển khổ thôi
© Sông Lô, Đức Quốc
© Đàn Chim Việt
 
__._,_.___
Recent Activity:
.

__,_._,___


Fw: [Exryu-ww-Forum] Ngày 30 Tháng Tư - Nguyễn Thụy Long


----- Forwarded Message -----
From: Bu`i Ba?o So+n <sonbui@yahoo.com>
To:
Sent: Sunday, April 29, 2012 12:37 PM
Subject: [Exryu-ww-Forum] Ngày 30 Tháng Tư - Nguyễn Thụy Long

 

 


From: DVAH <dvahung@yahoo.com> 

Nguyễn Thụy Long (1938-2 tháng 9, 2009), chụp tại Sài Gòn, với bà Nguyễn Lan Phương, đại diện báo Khởi Hành ở Paris. (Hình: Nguyễn Lan Phương cung cấp)


Ngày 30 Tháng Tư
Nguyễn Thụy Long

"Loan Mắt Nhung" Nguyễn Thụy Long viết bài này năm 2005 , ông ta chưa bao giờ ra khỏi Việt Nam.
(ông sinh ngày 9 tháng 8 năm 1938 tại Hà Nội, mất ngày 03 tháng 9 năm 2009 tại Sài Gòn).



Lại sắp đến ngày 30 tháng Tư, trên đất nước tôi nhà cầm quyền phát động ì xèo kỷ niệm ngày "chiến thắng vĩ đại, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước." Từ cả tháng trước, ngày nào người ta cũng nhắc
đến chiến thắng ấy của dân tộc, phỏng vấn những tướng lãnh chỉ huy trận đánh về
chiến lược, chiến thuật, những chiến sĩ anh hùng, tất cả đều được đưa lên báo
đài, cả những trang web bay đi khắp thế giới. Buổi sáng tôi dậy sớm nghe đài
nước ngoài, chương trình Việt ngữ, nhưng bị phá sóng nhiều quá, nghe câu được
câu không. Cũng ngày ấy cộng đồng người Việt trên khắp thế giới làm kỷ niệm,
nhưng gọi bằng nhiều cách khác nhau, Ngày Quốc Hận, Tháng 4 Đen hay gì đó còn
tùy.

Cũng ở trên đài Á Châu Tự Do tôi nghe cuộc
phỏng vấn một đạo diễn trẻ người Việt Nam ở nước ngoài, làm một cuốn phim về
ngày bại trận 30 tháng Tư lấy tên là ngày giỗ. Anh và các bạn anh thiếu thốn
rất nhiều tư liệu về ngày hôm ấy, nhưng chắp vá và lấy kỷ niệm của những người
lớn chứng kiến vào thời ấy rồi cũng xong. Bởi tại ngày anh ra đi, rời Việt Nam
anh còn quá trẻ, tuổi đâu khoảng 13 hay 14 chi đó, nhất là anh không có kinh
nghiệm tham gia vào cuộc bại trận ấy.

Người đạo diễn thanh niên này còn có tham
vọng làm cuốn phim khác nữa sau khi chế độ Việt Nam Cộng Hoà xụp đổ, về những
trại tù khổ sai mà người ta gọi là trại cải tạo. Tôi hy vọng anh ta và nhóm của
anh có tâm huyết thì cũng xong, có thể thành công. Việt Nam trong cuộc chiến
vừa qua có rất nhiều tư liệu quý giá, tôi đã dược xem một cuốn phim do Mỹ sản
xuất lấy tên là Trời và Đất. Cuốn phim đã nói lên được thân phận Việt Nam giữa
các thế lực, thân phận con người Việt Nam đáng thương.

Tôi là một người Việt Nam, sống và lớn lên,
trưởng thành trong thời buổi ấy, thời buổi đau thương nhất của đất nước, nay
lại sống suốt 29 năm trong chế độ, sắp sửa 30 năm, chưa một lần bị ngắt quãng,
vì không ra nước ngoài, hay đi đâu xa khỏi Việt Nam. Tôi là dân bại trận ở lại Việt
Nam.

Tôi không có gì ca tụng về ngày 30 tháng Tư ấy, nhiều đau thương hơn thì có,
gia đình tôi ly tán cũng vào ngày ấy. Đàn anh của tôi nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm
nhật báo SỐNG bị giết chết vì đạn pháo kích lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng Tư
năm 1975, trên chiếc tầu di tản mới chạy thoát ra được đến cửa biển Cần Giờ.

Hàng năm tôi chúng tôi làm giỗ anh Chu Tử
vào ngày đó, sau này không biết vì lý do gì, đổi sang ngày âm lịch là ngày 19
tháng ba (trùng với ngày 30-4-1975). Có phải vì người ta đang ồn ào làm lễ kỷ
niệm chiến thắng mà mình lại làm giỗ, than khóc và tưởng nhớ đến người đã chết
là chướng quá không, vì vậy gia đình ông Chu Tử mới đổi ngày giỗ cho yên. Tôi
cũng không bỏ một buổi giỗ nào của ông Chu Tử, dù có đổi ngày, nhưng dù làm vào
ngày nào anh em chúng tôi ngồi với nhau, nhắc lại và nói về những kỷ niệm là
ngày 30 tháng Tư năm 1975, gia chủ tổ chức giỗ ông Chu Tử cũng không có ý kiến
gì, buổi giỗ ấy anh em chúng tôi tự do hoàn toàn. Những buổi giỗ ông Chu Tử sau
này vắng bóng dần những người anh em thân thiết của ông, người thì ốm đau bệnh
hoạn đi không nổi, người thì đã "dạo chơi tiên cảnh" khỏi "cõi tạm" đầy đau thương
này. Như Tú Kếu, như nhà văn Mặc Thu, như ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương, vì
ông mới qua đời.

Nhà báo Phan Nghị ở buổi giỗ nào còn oang
oang kể lại kỷ niệm với chủ nhiệm Chu Tử, nay cũng đã vắng bóng anh. Một đàn em
thân thiết như Đông con tuổi còn rất trẻ cũng không còn nữa. Nhưng buổi giỗ vẫn
đông đảo, tôi thấy có những anh em từ nước ngoài trở về, những Việt kiều đó ra
đi do vượt biên hay diện HO, những điện thư từ khắp nơi trên thế giới gửi về
cho gia đình con cái ông Chu Tử để tưởng nhớ ông.

Tôi đã qua 29 lần kỷ niệm vể ngày 30 tháng
Tư trên đất nước "Xã Hội Chủ Nghĩa VN," kể ra thêm mệt nhưng không thể không
kể. Tôi kiêu hãnh nói rằng tôi là một trong những nhân chứng lịch sử, tôi vừa
là nhà văn nhà báo, nói có nhận xét, dù rằng cái nhận xét của riêng mình, nhưng
đúng về mặt người cầm bút thì phải công bằng và chính xác, tôi phục vụ cho nghề
nghiệp và lý tưởng của nhà văn nhà báo chân chính, không phục vụ hoặc làm bồi
bút cho tổ chức hay đảng phái nào đó.

Đối với tôi thì ngày 30 tháng Tư nào tôi cũng
buồn, một người Việt Nam đang sống trên quê hương mình, tôi tự hỏi, được chứng
kiến những giây phút lịch sử trọng đại, đất nước Việt Nam thống nhất quang vinh
như thế mà buồn sao?

Sau đợt lùa những sĩ quan quân đội Việt Nam
Cộng Hoà bại trận đi học tập cải tạo, đến lượt văn nghệ sĩ chế độ cũ, và các vị
chức sắc tôn giáo vào những trại tập trung dài dài từ Bắc chí Nam. Các ông cai ngục, cai tù được
gọi là quản giáo, cán bộ dậy bảo, giáo dục cho các phạm nhân lầm đường lạc lối
hiểu biết đường lối của đảng, của cách mạng, và không ai có án rõ ràng, khi
được tha về phạm nhân được phát cho cái giấy ra trại. Đọc qua giấy này họ mới
té ngửa ra, lúc ấy mới biết tội danh của mình và thời gian học tập cải tạo là
bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng có khi còn bị ăn gian. Còn người ở lại được nhà
trại nói lấp lửng chừng nào "học tập tốt" thì về. Có người phải ở trong tù vài
chục năm vì bị nhà nước cho rằng họ chưa được tốt. Tôi không hiểu người ta dựa
vào tiêu chuẩn nào gọi là tốt và xấu để giam giữ người vài chục năm như vậy,
với lời kết án thật mơ hồ.

Tôi bị bắt nóng ngoài đường, không bị liệt
vào hàng ngũ văn nghệ sĩ phải học tập cải tạo, mà với một tội danh khác, tổ
chức phản động, một tội rất dễ chết. Khốn nạn cho cái thân tôi, thời chế độ cũ
đi lính binh nhì không xong, mà nay lại là người tổ chức chỉ huy một trung
đoàn, có tên trung đoàn Quyết Thắng trong hồ sơ phản động của tôi. Tôi bị tra
tấn, bị đánh và những người tra tấn tôi ngày nào cũng bắt tôi phải khai ra cái
trung đoàn Quyết Thắng này ở đâu! Vì bỗng nhiên mình lại mang một tội danh
"oai" như thế, một trung đoàn trưởng, nên tôi cũng phải phì cười ra nước mắt
sau những trận đòn tra tấn thừa chết thiếu sống.

Tôi cũng không biết người ta phong cho tôi,
chức gì, cấp bậc nào, tướng hay tá trong trung đoàn mà tôi bị đứng vào hàng
"chủ xị." Một trung đoàn không có quân số, không doanh trại, không có cả chiến
khu kháng chiến. Bản lấy cung của tôi bị bỏ dở dang, không có tôi ký tên nhận
tội. May quá thế là tôi thoát chết, tôi đã thấy nhiều người bị chết, bị mang ra
xử bắn vì những tội danh bá vơ ấy. Tôi nói với bạn bè đồng tù:

- Dù tao có là thằng nhà văn nhà báo ngu
dốt cũng không bao giờ đặt cái tên trung đoàn Quyết Thắng cho tổ chức quân sự
của tao, vừa quê vừa thối. Ai cũng biết các khẩu hiệu quyết thắng, quyết chiến,
quyết tử, quyết sinh là sản phẩm của các anh Việt Minh, các anh đã xài mòn teo
ra rồi, từ thời kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp kia, rồi đến thời chống Mỹ
cứu nước xài lại, nay không biết dùng làm gì nữa thì gán đại cho tao. Tao biết
ngay các anh độc lắm, lại một trò chụp mũ buộc tội cho người khác để mang ra xử
theo luật rừng.

Tôi lênh đênh qua nhiều nhà giam ở thành
phố, rồi mới bị đưa lên trại học tập trên rừng, an tâm học tập cải tạo ở nơi
đó, bao giờ học tập tốt thì được về xum họp với gia đình. Nhà nước, nhà cầm
quyền nói như thế. Chúng tôi ngắc ngoải sống trong lao động khổ sai, nhiều anh
em kiệt lực gục xuống bỏ xác trong các trại tù. Thân phận chúng tôi như những
nô lệ trong phim Tần Thủy Hoàng xây Vạn Lý Trường Thành hay những nô lệ xây Kim
Tự Tháp Ai Cập.

Nhiều lần lao động cuốc đất trúng mìn ngoài
bãi lao động, mìn nổ thương vong vô khối người, nhưng được giải thích là mìn đó
là của Mỹ Ngụy gài lại để giết nhân dân. Bây giờ chúng tôi có chết có thương
vong thì cũng chỉ là "gậy ông đập lưng ông" thôi. Chúng tôi nhiều lần đề nghị
với ban quản giáo xin được tự gỡ mìn để khỏi gây hại cho phạm nhân, nhưng được
lãnh đạo trại "nhân đạo" từ chối, vì sợ mất thì giờ lao động sản xuất kiếm ra
của cải cho đất nước chúng ta còn nghèo. Đồi nghĩa địa tù chật kín những mồ
hoang của anh em chúng tôi. Sáng đi lao động, chiều về nhìn mặt trời gác bóng
trên sườn núi Chứa Chan mới biết mình còn sống, mong sớm có ngày ra xum họp với
gia đình.

Tôi không nhớ rõ là mình ăn đến mấy cái
ngày kỷ niệm 30 tháng Tư trong trại cải tạo, vì từng bị bắt lên bắt xuống, như
bắt cóc bỏ đĩa, tha rồi lại bị bắt lại. Ngoài cái tội phản động, tôi còn tội
phản quốc bỏ quê hương mà trốn đi, tức là tội vượt biên mà không thoát. Phải
chi ngày đó tôi trốn thoát, thì bây giờ được nhà nước ưu ái gọi là Việt kiều
khúc ruột ngàn dặm được phép trở về thăm quê hương, được nâng như nâng trứng,
hứng như hứng hoa. Mấy anh Việt cộng từng đánh đấm bỏ tù, từng kết tội tôi là
Việt gian sẽ ngọt ngào khuyên tôi nên hòa hợp hòa giải, quên đi chuyện cũ, đóng
góp tất cả những gì tôi đang có để giúp cho đất nước quê hương Việt Nam mà các
anh đang cai trị. Tôi đã thấy những cuộc tiếp đón long trọng, những Việt kiều
trở về thăm quê hương được diện kiến những lãnh đạo trong nước và họ được huy
chương, và được ca tụng vì những đóng góp của họ đã được truyền thanh truyền
hình đi khắp mọi nơi. Họ thành người yêu nước, có ẩn chứa ý yêu và ủng hộ đảng
CS cầm quyền.

Trong trại học tập, ngày 30 tháng Tư mỗi
năm được tổ chức xôm tụ lắm, mà anh em chúng tôi gọi là ngày "đứt phim." Từ ba
giờ sáng một số trại viên có tay nghề trong việc nấu nướng đã được điều lên nhà
bếp để thọc tiết heo mổ bò làm đồ ăn, thổi cả cơm nữa, hương cơm phảng phất
khắp trại làm các trại viên chúng tôi tỉnh cả ngủ, dù là hương gạo mốc, không
phải gạo Nàng Hương chợ Đào. Những hương vị âm thanh hấp dẫn đó làm chúng tôi
trở nên háo hức, vì chúng tôi là những kẻ thường xuyên ăn đói mặc rách, cả năm
chỉ ăn khoai ăn sắn có biết cơm thịt là gì đâu, sức lao động bị vắt kiệt từng
ngày, nay có cơm thì mừng quá. Bao nhiêu năm qua chúng tôi sống trong một miền
Nam trù phú lúa thóc không bao giờ thiếu, người nông dân chỉ trồng một mùa cũng
ăn được cả năm. Mà nay phải thèm và nhớ cơm, tưởng tượng cũng không ra được bát
cơm nó thế nào? Tôi nói có quá không? Nhưng sự thật là vậy.

Ngày hôm ấy chúng tôi được nghỉ lao động và
sang ngày hôm sau là ngày quốc tế lao động 1-5, vị chi là hai ngày được ăn được
chơi trong vòng rào giây thép gai. Chúng tôi được nghe chính trị viên của ban
quản giáo giảng giải cho nghe ngày chiến thắng 30 tháng Tư. Nhưng chỉ là chuyện
nước đổ đầu vịt, chúng tôi chỉ nghĩ đến kỷ niệm cũ của chúng tôi vào ngày ấy.
Buổi trưa cả ngàn người tù chúng tôi - mỗi người được ăn một chén cơm, một
miếng thịt heo hay thịt bò chi đó bằng ngón tay, chan tí nước xốt cho mặn
miệng. Lòng lợn - tiết canh - thịt ngon miếng nạc mang lên nhà khung cho ban
giám hiệu và thủ trưởng đơn vị xơi, uống rượu hút thuốc. Lòng nhân đạo của đảng
vô biên, không thể nói hết được.

Về phía các cải tạo viên chúng tôi thì sao,
cũng chia ra mấy phe trong cuộc ăn uống ấy, không phải tranh nhau ăn, mà cách
ăn uống cũng khác lạ. Có phe còn nặng lòng với chế độ cũ mà anh đã phục vụ, nay
trở thành bại tướng trong ngày 30 tháng Tư, nhất định không ăn đồ ăn của "kẻ
thù" ban phát mà ăn gì đó với muối. Phe thứ hai lấy đồ thăm nuôi của mình ra
mời anh em ăn sạch. Phe thứ ba ăn ráo những gì được ban phát với lý luận: "Ta
ăn thứ này là của ta làm ra, chẳng ăn chực thằng nào hết, gạo này chính ta làm
ta cấy cầy, thịt này cũng chính chúng ta chăn nuôi, không ăn là dại. Ăn bám, ăn
trên xương máu chúng ta là những thằng cai tù chứ không phải chúng ta. Lý luận
nào cũng đúng cả, không ai đụng chạm tới ai.

Anh chán đời ngồi quay mặt vào tường "diện
bích" hết ngày 30 tháng Tư là chuyện của anh. Tự do của mỗi cá nhân được tôn
trọng tuyệt đối, nên cuộc ăn uống ấy cũng diễn ra êm thắm, không phải tinh thần
xôi thịt mổ cãi nhau như mổ bò ở các đình làng nhà quê. Dù sao tôi cũng nể phục
các anh cải tạo chịu ăn cơm muối lắm, các anh còn có liêm sỉ và sĩ khí của một
chiến sĩ, tôi không thể đánh giá thái độ ấy là sai hay đúng.

Tôi lại nghĩ đến những anh hùng trong sử
sách, đến một Hoàng Diệu, tuẫn tiết theo thành Thăng Long khi quân Pháp đánh
Bắc kỳ lần thứ nhất. Một Nguyễn Tri Phương không chịu cho kẻ thù buộc vết
thương khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai. Một Võ Tánh chất củi tự thiêu khi bại
trận. Một Trần Bình Trọng thà làm quỷ nước Nam hơn làm vương đất Bắc.

Trong đời làm báo của mình, trong trận
chiến cuối cùng ngày 30 tháng Tư, tôi đã thấy những người lính Nhẩy Dù trại
Hoàng Hoa Thám ở ngã tư Bảy Hiền ôm nhau cho nổ lựu đạn để cùng chết bên nhau,
sau khi có lệnh đầu hàng vô điều kiện của tướng Dương Văn Minh. Và sau đó nhiều
tướng tá của chế độ Cộng Hoà ở miền Nam tự sát khi nghe lệnh đầu hàng của "tổng
thống" tạm quyền.

Tôi chắc chắn rằng sử sách có ghi lại, dù
rằng chế độ ấy thua trận và bị bôi nhọ suốt bao nhiêu năm trời, bị vu cáo là có
bao nhiêu tội lỗi với "nhân dân." Chính sử không thuần ở trong tay kẻ chiến
thắng, mà ở trong lòng mọi người trên đất nước này, không thể bóp méo, không
thể như cục đất sét muốn nặn hình gì theo ý họ. Còn những thương binh của chế
độ Cộng Hoà sau khi bại trận ngày 30 tháng Tư năm 1975 thì sao? Tôi đã thấy họ
bị đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hoà chiều ngày 30 tháng Tư lịch sử ấy. Anh mù
cõng anh què. Anh đổ ruột vịn vai anh cụt tay. Họ đi hàng hàng lớp lớp suốt một
quãng đường dài, đau thương lắm, tiếc rằng không một phóng viên nhiếp ảnh nước
ngoài nào chụp được một tấm hình. Cái máy hình của tôi chụp được mấy tấm thì bị
đập bể tan nát, suýt nữa thì tôi nguy hiểm đến tính mạng vì những kẻ trở cờ
theo đóm ăn tàn, hoặc những tên lưu manh mà xã hội nào cũng có, mà hồi ấy chúng
tôi gọi cái đám ấy là cách mạng 30, nghĩa là mới gia nhập cách mạng vào ngày 30
tháng Tư năm 1975. Họ đang khao khát lập công để tìm cho mình một chỗ đứng,
hoặc được một tí ân huệ bố thí.

Tôi đã trải qua hai mươi chín cái ngày 30
tháng Tư, chỉ còn ít ngày nữa thì tròn 30 cái ngày kỷ niệm. Sao trong đầu tôi
lẩn quẩn hoài về những kỷ niệm đau thương ấy. Những người thương binh của chế
độ Cộng Hoà sau khi bi đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hoà. Họ đi về đâu? Mắt tôi
nhìn thấy có những người thương binh kiệt lực, kiệt sức ngã ngay trên đường đi,
trên lối cổng ra vào quân y viện và tôi đã nhìn thấy những giọt nước mắt uất
hờn còn đọng trên đôi mắt của những người thương binh này. Trong ngàn vạn con
người ấy trên đất nước VNCH thế nào không có kẻ sống sót, tôi cũng đã thấy anh
mù dắt anh què hát rong ngoài đường, xin đồng tiền bố thí của đồng bào. Họ bị
quên lãng đã ba chục năm nay, nên có sự công bằng cho người chết thì cũng nên
lo cho người còn sống, họ cũng đã hy sinh một phần thân thể trong cuộc chiến
nồi da xáo thịt này. Người ta đang nói tới chuyện phục hồi Nghĩa Trang Quân Đội
ở trên Biên Hòa.

Không biết chuyện này rồi sẽ đi đến đâu.
Tôi là người sống ở Sài Gòn đã gần 30 năm, nghe tin ấy tôi đã mong muốn được
thăm nghĩa trang quân đội xưa vì có người thân đã chôn xác ở đó. Nhưng theo tôi
biết đâu phải ai cũng được tự do ra vào để tưởng niệm người đã chết, ý nguyện
của tôi không được chấp nhận. Người ta nói phục hồi nghĩa trang quân đội chế độ
cũ, phục hồi thế nào tôi không biết, tôi thắc mắc trong việc làm ấy họ có phục
hồi pho tượng Tiếc Thương bị giật đổ trước cổng nghĩa trang quân đội từ ba chục
năm trước không. Sau 30-4-1975 hàng loạt tượng đài bị giật xập, và nay nghĩa
trang sẽ để tên gì cho phải đạo làm người, mồ mả còn không. Tôi nghe mất mát
cũng nhiều lắm, nếu còn thì là những nấm mồ hoang, kẻ nằm dưới đất kia là kẻ có
tội, không ai được quyến thăm viếng vì thăm viếng là bị "văng miểng." Tôi chỉ
mong muốn được đến đấy, thắp lên một nén nhang tưởng niệm, dù mồ mả của những
người chiến sĩ Việt Nam
Cộng Hoà có còn hay đã mất. Tôi cho chuyện làm ấy hay lời hứa hẹn ấy là phiêu,
chẳng có gì xất cả.

Tại tiệm phở Hòa, một tiệm phở nổi tiếng
cuối đường Pasteur trong thành phố Sài Gòn, tôi thường gặp một anh bán báo, cụt
cả hai tay, hai tay cụt đó được ráp hai tay sắt inox có kẹp, thao tác rất gọn
ghẽ, anh kẹp những tờ báo đưa cho khách hàng hoặc nhận tiền, thối lại tiền bán
báo. Không biết anh bán báo ở đó đã bao nhiêu năm.

Một hôm anh mời tôi mua báo. Tôi lấy tiền
ra biếu anh, vỉ sáng nay tôi đã mua báo ở sạp báo gần nhà. Anh ta nhìn tôi khẽ
lắc đầu:

- Không, cám ơn ông tôi không thể nhận
được.

- Vậy tôi mua báo. Tôi hỏi anh.

- Vâng ông chọn tờ nào?

Tôi chọn đại một tờ trong xấp báo mà anh ta
ôm trên người, tôi đưa tiền cho anh ta, nói:

- Thôi anh khỏi phải thối lại.

- Vâng cám ơn ông.

Tôi nhìn kỹ anh ta hơn, tôi hỏi thăm về hai
tay anh. Anh ta nói:

- Tôi không bị tai nạn mà là thương binh
chế độ Cộng Hoà

- Anh thuộc binh chủng nào hồi trước? Tôi
hỏi tiếp.

Anh ta không trả lời về binh chủng của anh
chỉ nói:

- Hồi đó tôi bị thương cụt cả hai tay ở mặt
trận Bình Long, chính quyền cũ làm cho tôi hai cánh tay này và tập cho tôi cách
xử dụng. Gần ba chục năm nay tôi đi bán báo để sinh sống.

Vì lý do gì đó anh không nhắc tên binh
chủng của mình. Nhưng khi tôi nói tên của vị tướng chỉ huy mặt trận, mắt anh
ngời sáng. Tôi không ngờ đã mấy chục năm qua anh không quên và dành cho cấp chỉ
huy mình sự tôn kính chân thành. Tôi ngưỡng mộ anh là người dũng cảm, liêm sỉ
từ tư cách đến việc phải kiếm sống, làm một con người. Đó là điều hiếm có, ít
có ai sống trong đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa dám biểu lộ cái tinh thần quật cường
ấy. Có ngài Việt kiều ngày xưa từng giữ những chức vụ quan trọng, từng là "cựu"
này "cựu" kia, ngày "đứt phim" chạy có cờ, bỏ đồng đội bỏ của chạy lấy người,
nay về thăm quê hương phát biểu linh tinh chả ra cái giống ôn gì, so ra tư cách
của ngài với anh chàng thương binh này, cách xa một trời một vực, thật là quá
chán. Tôi nói với anh:

- Anh rất can đảm, tôi ngưỡng mộ anh.

- Có gì đâu, tôi còn thua ông tướng chỉ huy
chúng tôi. Anh cười nhũn nhặn.

Tôi nghĩ đến tướng Lê Văn Hưng, tướng tử
thủ ở Bình Long Anh Dũng, người không trốn chạy mà tự sát như một số tướng lãnh
khác của chế độ Cộng Hoà ngày 30 tháng Tư, sau khi "tổng thống" Dương Văn Minh
đầu hàng vô đìều kiện.

Báo đài ngày nào cũng có bài ca tụng về
ngày lịch sử 30 tháng Tư, ngày chiến thắng vĩ đại của dân tộc, ngày chấm dứt
chiến tranh, thống nhất đất nước. Đoàn quân chiến thắng kéo quân vào thành phố
được sự đón tiếp nồng nhiệt của nhân dân thành phố, cùng nổi dậy với cách mạng,
bao nhiêu người ra phất cờ chào đón đoàn quân. Một hoạt cảnh mà tôi, một phóng
viên chiến trường đã hết thời, ghi nhận được đúng ngày hôm đó:

Cuộc bại trận nhanh quá, nhanh đến độ dân
Sài Gòn phải ngỡ ngàng. Kẻ nào không chạy thoát theo những chuyến di tản thì đổ
ra đường xem đoàn quân chiến thắng đi dép, đội mũ cối hay mũ tai bèo vào thành
phố. Có những xác người dân hoặc lính chế độ cũ chưa được thu nhặt còn sót ở
những góc đường, trên những quân trang quân dụng ném đầy trên đường đi, cả vũ
khí nữa chưa kịp thu nhặt.

Những con người đang đứng ngơ ngác ngỡ ngàng ở đó, bị nhét vào tay những lá cờ giấy, và anh "cách mạng" đeo súng mang băng tay đỏ mặt gườm gườm những kẻ không nhiệt tình vẫy cờ chào đón các anh bộ đội cụ hồ tiến vào thành phố. Tôi thấy một người đàn ông cũng bị nhét vào tay một lá cờ, một anh mang băng đỏ đeo súng ra huých vào sườn người đàn
ông đó một cái. Ông ta có lẽ hiểu ý liền nhẩy chồm lên phất cờ lia lịa, mồm la
hoan hô liên tục. Thế cũng là quá đủ, tôi lủi vào đám đông kiếm đường chạy về
nhà. Ngoài kia những dòng người dầy đặc dần trên đường, có người đang tìm kiếm
người thân, người tung hô những khẩu hiệu chiến thắng, người ngơ ngác ngẩn ngơ
đứng nhìn. Họ không chịu tin vào sự thực là Sài Gòn bị thất thủ.

Nguyễn Thụy Long







Bu`i Ba?o So+n CVA65
"When you cannot defend freedom through peaceful means, you have to use arms to fight..." Marek Edelman

WE SHOULD NOT BELIEVE WHAT THE COMMUNISTS SAID. INSTEAD, WE SHOULD WATCH WHAT THEY ACTUALLY DID.
Note: When forwarding this email, please have the courtesy to respect the privacy and confidentiality of the sender by deleting all previous email trails and addresses before you proceed to forward this email to others. This will also possibly help avoid your mailbox from SPAM.

__._,_.___
Recent Activity:
.

__,_._,___