Tuesday, September 27, 2011

27/09 Singapore rất hài lòng về môi trường đầu tư ở VN

Hai bên cần tiếp tục tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, trong đó có ASEAN, ASEAN +1, ASEAN+3, ARF, EAS.
Theo Đặc phái viên TTXVN, nhận lời mời của Tổng thống Singapore, Ngài Tony Tan Keng Yam và Phu nhân, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao nhà nước Việt Nam đã tiến hành chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore từ ngày 26-28/9.

Ngay sau lễ đón được tổ chức long trọng tại Dinh Tổng thống Istana chiều 26/9, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có cuộc hội kiến với Tổng thống Singapore Tony Tan Keng Yam.

Tại cuộc hội kiến, Tổng thống Tony Tan Keng Yam đánh giá cao việc Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chọn Singapore là nước đầu tiên đến thăm sau khi nhậm chức; bày tỏ tin tưởng chuyến thăm sẽ thành công tốt đẹp, góp phần quan trọng đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Singapore và Việt Nam phát triển lên tầm cao mới.

Chúc mừng những thành tựu to lớn mà Chính phủ và nhân dân Singapore đã đạt được trong thời gian qua, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bày tỏ vui mừng được lần đầu tiên đến thăm Singapore trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam; bày tỏ mong muốn chuyến thăm sẽ góp phần làm sâu sắc và mở rộng hơn quan hệ Việt Nam-Singapore.

Hai bên bày tỏ hài lòng về những bước phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ trong quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước trong thời gian qua; nhất trí cần tăng cường trao đổi đoàn cấp cao và các cấp, nhất là cấp Bộ trưởng, nhằm thúc đẩy các hợp tác cụ thể của từng ngành và từng lĩnh vực; đồng thời tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau.

Hai nhà lãnh đạo hài lòng về kết quả triển khai Hiệp định khung Kết nối Việt Nam-Singapore và nhất trí thúc đẩy việc lập thêm các Khu Công nghiệp Việt Nam-Singapore (VSIP) trong thời gian tới.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao việc Singapore luôn duy trì là đối tác thương mại và đầu tư hàng đầu của Việt Nam trong nhiều năm qua.

Tổng thống Singapore khẳng định doanh nghiệp nước này rất hài lòng về môi trường kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam và sẽ tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với Việt Nam.

Hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực khác như quốc phòng, an ninh, du lịch, văn hóa... Hai nhà lãnh đạo cũng khẳng định sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với nhau trong khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế như ASEAN, ASEAN+1, ASEAN+3, EAS, ASEM, APEC…

Cuộc hội kiến đã diễn ra trong bầu không khí hữu nghị, chân tình, tin cậy và hiểu biết lẫn nhau. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã mời Tổng thống Tony Tan Keng Yam và Phu nhân thăm Việt Nam vào thời gian thích hợp.

Chiều cùng ngày, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu tại Dinh Tổng thống Istana.

Tại buổi tiếp, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bày tỏ khâm phục trước những thành tựu quan trọng của Singapore trong thời gian qua, nhất là về tăng trưởng kinh tế; đặc biệt đánh giá cao vai trò của cá nhân cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu đối với con đường phát triển của Singapore.

Ông Trương Tấn Sang đã thông báo với cựu Thủ tướng một số nét về tình hình phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam thời gian gần đây, trong đó có việc Việt Nam vừa thông qua Chiến lược Phát triển Kinh tế-Xã hội giai đoạn 2011-2020.

Trao đổi về quan hệ song phương, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu bày tỏ vui mừng về sự phát triển tốt đẹp của quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước trong nhiều năm qua. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao việc Singapore luôn duy trì là một trong những đối tác kinh tế, thương mại và đầu tư hàng đầu của Việt Nam.

Hai bên hài lòng về việc triển khai ngày càng hiệu quả Hiệp định khung Kết nối Việt Nam-Singapore cũng như các VSIP; nhất trí cho rằng hợp tác trong các lĩnh vực an ninh-quốc phòng, giáo dục-đào tạo, du lịch… cần tiếp tục được quan tâm thúc đẩy, nhằm đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới.

Hai bên cũng trao đổi về các vấn đề khu vực cùng quan tâm, trong đó có vấn đề Biển Đông; nhất trí các bên liên quan cần tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982; thực hiện nghiêm túc DOC, hướng tới xây dựng COC.

Cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu cũng cho rằng hai bên cần tiếp tục tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, trong đó có ASEAN, ASEAN +1, ASEAN+3, ARF, EAS. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác và phối hợp chặt chẽ trong quá trình đàm phán tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Tối cùng ngày, Tổng thống Tony Tan Keng Yam và Phu nhân đã chiêu đãi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Dinh Tổng thống Istana./.
Theo TTXVN/Vietnam+

28/09 中国側「通常の海洋調査で正当な権利」 尖閣周辺航行


 沖縄県・尖閣諸島付近の排他的経済水域(EEZ)で中国の海洋調査船が25日に航行したことについて、中国外務省の洪磊・副報道局長は27日の記者会見で、「通常の海洋科学調査であり、正当な主権の行使だ」と述べた。同諸島が中国の固有領土だと強調した上での発言だ。
 中国の調査船は25日、日本政府から事前に同意を得ていた海域から外れたEEZ内で科学調査を実施。日本側は北京の日本大使館を通じて抗議していた。(北京=峯村健司)

Fw: bài viết của Hạ Đình Nguyên mới lên trang

----- Forwarded Message -----
From: Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
To: nguoilotgach_group <nguoilotgach_group@googlegroups.com>
Sent: Wednesday, September 28, 2011 12:09 AM
Subject: Re:bài viết của Hạ Đình Nguyên mới lên trang

'DỨT KHÓAT, TÔI ĐẨY RA !"



2011/9/27 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
THUYEN NHAN - CHUYEN KHONG THE KHONG BIET PDF In E-mail
Người viết: Thái Bá Tân   
27/09/2011
Trên dưới 30 năm trước, toàn thế giới đã phải đặc biệt chú tâm đến Việt Nam, nơi mà hàng ngàn và hàng ngàn con người quyết tâm rời bỏ quê hương, rời bỏ gia đình, tài sản và kỷ niệm, để vượt biển ra đi trên những con tàu mong manh chưa biết đi đâu về đâu và chấp nhận mọi hiểm nguy trên biển.
 
Biến cố 30/4/1975

Làn sóng người mà hành trang mang theo chỉ là một quyết tâm rời bỏ quê hương yêu dấu đã làm thành sự kiện độc nhất vô nhị trên thế giới, và những thảm cảnh mà họ gặp trên đường hải hành đã gây xúc động sâu xa cho mọi người, đã đánh động lương tâm nhân loại.
Theo số liệu của Cao Uỷ Tin Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), tính tới năm 2000 đã có 796.310 thuyền nhân đến được các trại tị nạn, trong số này 720.000 người đã được định cư tại một nước thứ ba trong số trên 15 quốc gia mở rộng vòng tay đón nhận họ.
Những con người can đảm và may mắn này đã xây dựng thành một Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại lớn mạnh, đáng ngưỡng mộ.
Nhưng còn những người ra đi mà không đến thì sao? Bao nhiêu người đã bỏ mình trong cuộc hải hành trên Biển Đông? Không ai biết được con số chính xác.
Nhưng nếu ra đi một sống hai chết và số người thành công là gần 800.000 thì số người thất bại e cũng gần bằng con số ấy.
Thuyền nhân Việt Nam trong 1/4 cuối Thế Kỷ XX là một sự kiện lịch sử không thể xoá nhoà và mong sẽ không bao giờ lập lại.
Một trong những người rời nước bằng tàu Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà ngày 29, luật sư trẻ Nguyễn Hiền hồi năm 1975, hồi tưởng:
"Nha Trang thất thủ, gia đình chúng tôi vào Sài Gòn. Sau những toan tính bất thành tìm đường ra đi như nhiều gia đình khác lúc bấy giờ thì sự đi khỏi Việt Nam kịp lúc của gia đình chúng tôi trước khi Sài Gòn thất thủ hoàn toàn do may mắn.
Nhờ anh tôi trong binh chủng hải quân mà gia đình chúng tôi đi được gần hết. Sự may mắn vào phút chót đó phải nói không tiền bạc nào có thể mua được.
 

Chiếc tàu thuộc Hải Quân Việt Nam đưa chúng tôi đi từ bến Bạch Đằng (Sài Gòn) vào đêm 29 rạng 30-4-1975, chỉ vài tiếng đồng hồ trước khi Sài Gòn hoàn toàn bị xâm chiếm.
Chuyến đi vất vả, thiếu thốn, tinh thần hoang mang trong mấy ngày đầu. Nhưng bây giờ nhìn lại mới thấy nhung khổ sở của chúng tôi lúc đó không thể so sánh với cảnh địa ngục trần gian mà nhiều đồng bào boat people của chúng tôi phải trải qua trong những chuyến vượt biên những năm sau đó.
Tàu lớn được Hạm Đội 7 Mỹ đón tiếp ngoài khơi, sau cùng chuyển chúng tôi sang tàu dân sự và đưa chúng tôi đến đảo Guam an toàn. Chúng tôi không hề phải lo lắng về an toàn sinh mạng của mình."

Thuyền nhân

Ngay trong Ngày 30 Tháng Tư vài chục chiếc tàu, nguyên là tàu đánh cá hay chở hàng cũ, chứa đầy những người tự thấy không thể sống dưới chế độ cộng sản, đã xuôi theo mọi dòng sông và kinh rạch của Miền Nam ra Biển Đông.
Đó là những người tiên phong của phong trào thuyền nhân diễn ra ồ ạt trong vài ngày kế tiếp, rồi âm ỉ nhưng kiên quyết kéo dài nhiều năm sau đó.
Số người được dự đoán ra đi trong đợt này vào khoảng 200 ngàn, trong đó khoảng từ 130 đến 160 ngàn được tiếp nhận tại đảo Guam, và sau đó định cư tại Hoa Kỳ.
Số thuyền nhân VN đến được các trại tị nạn trong hai năm 1975-1976 là 5.947 người, nhiều nhất là Thái Lan với 2.699 người và Malaysia với 1.160 người. Qua năm 1977 số thuyền nhân đến được các trại tị nạn là 17.126 người. Năm kế tiếp là 87.164 người. Và đến năm 1979 được mô tả là năm cao điểm của phong trào thuyền nhân, số người đến được các trại tị nạn là 201.189 người.
Bà Dân Biểu Madeleine P. Bordalllio, lúc đó là phu nhân của Thống Đốc đảo Guam, nhớ lại rằng những thuyền nhân đầu tiên đó phần lớn đói khát, bệnh hoạn và mệt mỏi.
Những thuyền nhân trong đợt đầu tiên này phải được kể là may mắn nhất bởi gần như không xảy ra tai nạn nào trên biển và hầu hết ngay sau đó được định cư tại Hoa Kỳ hay tại các quốc gia Tây Phương khác. Họ chính là những người tiên phong của Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại.
Sau khi đất nước đã chính thức thống nhất và nhiều chính sách đặc biệt cho người dân Miền Nam được áp dụng, số người vượt biển tìm tự do đã dần dần tăng lên.

Theo số liệu của Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, số thuyền nhân đến được các trại tị nạn trong hai năm 1975-1976 là 5.947 người, nhiều nhất là Thái Lan với 2.699 người và Malaysia với 1.160 người.
Qua năm 1977 số thuyền nhân đến được các trại tị nạn là 17.126 người. Năm kế tiếp là 87.164 người. Và đến năm 1979 được mô tả là năm cao điểm của phong trào thuyền nhân, số người đến được các trại tị nạn là 201.189 người.
Một câu hỏi lại phải được đặt ra là để có được số người như thế đến được bến bờ tị nạn thì đã có bao nhiêu người bỏ mình trên biển?
Năm 1979 cũng là năm mà toàn thế giới không thể không nói đến, không thể không xúc động trước sự kiện thuyền nhân.

Có những nhân vật nổi tiếng chống chiến tranh Việt Nam trước kia từng chính thức lên tiếng tranh đấu chống lại phía Hoa Kỳ và đồng minh Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến, thì nay lên tiếng công khai xin lỗi và rút lại sự ủng hộ đối với phía Hà Nội. Đó là triết gia Jean Paul Sartre của Pháp, cô đào Jane Fonda, hay ca sĩ Joan Baez.


Tự Do, 2 chữ Tự Do

Vấn đề là tại sao người Việt Nam vốn yêu quê hương đất nước, vốn gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn, vốn không bao giờ muốn rời xa nơi có mồ mả ông bà, dấu vết tổ tiên, lại đành đoạn dứt áo ra đi trong một chuyến đi biết chắc sẽ vô cùng gian nan, sẽ chín chết một sống, sẽ có thể bị đoạ đày, tủi nhục?
Trước hết là trường hợp của chị Trịnh Thanh Tùng với chuyến hải hành nổi tiếng, trong đó người sống phải ăn thịt người chết vì tàu lênh đênh trên biển với máy hỏng và không còn thức ăn hay nước uống, mà lại không được các tàu qua lại cứu giúp:
"Trước 75 là đi học. 75 vô thì  mấy ông Việt Cộng đâu có cho học nữa, thì phải đi buôn đi bán, đi làm ruộng, đủ thứ hết, phụ mẹ nuôi ba đi ở tù, nuôi ông xã đi ở tù 14 năm luôn mà. Mấy mẹ con ở nhà, trời ơi, khổ lắm. Còn bị lấy nhà đủ thứ nữa chớ đâu phải...
Họ đuổi ra, họ không có cho ở nhà cuả mình (khóc). Mà ba đi ở tù về thì má mất. Ba tôi về là cuối năm 1979. Đến năm 1988 ông xã mới được về. Mỗi vài ba tháng là phải xách đồ đi thăm nuôi, phải nấu cơm, bới đồ lên thăm nuôi ảnh chớ không thôi đói chết sao. Ôi, nhắc tới khổ lắm! "
Trường hợp của bà Lê Thị Sen vượt biên hai lần:
"Cái lần đầu tiên thì tôi đến Galang (Indonesia) là năm 1989. Tôi ở đó gần 7 năm thì khi đó họ cưỡng bức hồi hương. Mấy năm tôi mới về thì công an hay để ý. Công ăn việc làm xin cũng khó nữa.
Khó hoà nhập vào cuộc sống lắm, cho nên tôi quyết định đi nữa.  Ban đầu là vì tôi đạo Hoà Hảo cho nên tôn giáo của tôi không được thoải mái, không có được đi lại hội quán cho sinh hoạt tôn giáo của mình.
Thứ hai nữa là vì chồng tôi là quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, cho nên tôi cũng bị phân biệt đối xử, bị ngược đãi nhiều lắm. Gia đình tôi bị đi kinh tế mới ở Cờ Đỏ (Giá Rai) cực khổ lắm. Rồi hồi tôi chưa lập gia đình thì ba tôi cũng đạo Hoà Hảo, khi tôi thi vô đại học thì đơn không được chấp nhận, không được đối xử bình thường, cho nên tôi phải bỏ nước ra đi hồi năm 89."
Và trường hợp của cô Nguyễn Thị Hoa Hương:
"Tại sao mình cũng là con người mà mình lại không có được những quyền tự do đối với chính bản thân mình? Sau ngày 14-3-1989 tất cả mọi người hầu như bị bắt trở về Việt Nam với cái chương trình thuyền nhân hồi hương, tất cả thuyền nhân bị khủng hoảng tinh thần.
Mình rất là sợ bị trở về Việt Nam. Mọi người chia xẻ là họ không muốn trở về cái nơi mà họ đã bỏ ra đi. Họ rất là sợ hãi. Trở về với cái lý lịch lại không xin được công ăn việc làm mà thực tế họ chỉ muốn những công việc bình thường thôi."
Trong số những người đau khổ nhất sau ngày 30-4-1975 phải nói đến những quân nhân, công chức Việt Nam Cộng Hoà được chính quyền mới gọi một cách tử tế là "chế độ cũ" hay một cách miệt thị là "nguỵ quân, nguỵ quyền" thì hầu hết bị "tập trung cải tạo" mà thực chất là bị bắt giam trong những trại tù xa xôi hẻo lánh, thường thì vài ba năm, nhwng nhiều người đã phải ở lại đến mười mấy năm.
Những người tù ấy không biết đến ngày về bởi họ chỉ được hứa là sẽ được trở về với gia đình khi nào "học tập tốt", nhưng lại không thể rõ thế nào là "tốt"? Nhiều người đã bỏ xác tại nơi bị lưu đày, nhưng bao nhiêu thì cho tới nay vẫn chưa có con số chính xác.
Người phụ nữ Việt Nam  trong hầu hết những hoàn cảnh ấy đã chứng tỏ phẩm chất của mình khi thay chồng nuôi dạy con trong hoàn cảnh bị kỳ thị và hầu như mọi cánh cửa mưu sinh đều bị đóng chặt.
Có những người vợ đã nhìn thấy nỗi tuyệt vọng cho mình cũng như cho tương lai của con cái nên dù chồng đang chịu đọa đày trong trại cải tạo, vẫn cùng con lên thăm chồng, xin chồng cho vượt biên để tìm đường sống.


Thảm cảnh trên Biển Đông

Thảm cảnh trên Biển Đông có lẽ sẽ không bao giờ nhạt nhoà trong ký ức của thuyền nhân Việt Nam, khi những chiếc thuyền mong manh đưa họ vượt trùng dương tìm đến bến bờ tự do sau biến cố 30/4/1975, hầu như thường xuyên gặp nạn.
 
Khỏang một triệu người may mắn đến được những nơi muốn đến, thì cũng chừng ấy số người đã vĩnh viễn ở lại dưới lòng biển cả.
Mỗi năm cứ mỗi lần đến thời điểm 30 Tháng Tư là người Việt tị nạn tại hải ngọai không khỏi bùi ngùi nhớ lại thân nhân, bạn bè hay chính mình đã trải qua những chuyến vượt biển thập tử nhất sinh.
Ngoài khỏang một triệu người may mắn đến được những nơi muốn đến, thì cũng chừng ấy số người đã vĩnh viễn ở lại dưới lòng biển cả.
Riêng với những thuyền nhân sống sót, thì không ít người gặp phải thảm cảnh ở biển khơi, tiêu biểu nhất là bị bão, hải tặc hay tàu chết máy.
Chẳng hạn như, chị Nguyễn Thị Hoa Hương, hiện đang định cư tại Hoa Kỳ, đã ra sức tìm đến bến bờ tự do hồi năm 1989 và gặp nạn, như chị mô tả:
"Mình không có chỗ nằm, mình chỉ ngồi mà co hai chân lại, ngồi đủ chỗ thôi. Lâu lâu mình duỗi được cái chân thôi chứ không có được nằm. Đó là một kỷ niệm mà em không bao giờ quên khi mà tàu đi 7 ngày trên Thái Bình Dương thì đã bị bão biển rất là lớn và đã đánh tan chiếc tàu ra, chỉ còn lại thân chiếc tàu, còn đầu tàu và đuôi tàu thì bị đứt ra.
Trong cơn nguy cập đó thì người ta đã chuyển tất cả mọi người vô giữa thân của con tàu. Lúc bấy giờ sự chết kể như 90% rồi, tại vì bão kéo dài mấy ngày trời liên tục. Con tàu không còn bộ phận lái gì hết, tự con tàu trôi đi thôi. Trong mấy ngày như vậy thì lương thực hết rồi, mọi người bắt đầu nhịn đói, chỉ có những giọt nước để dành lại và mọi người chia nhau ra để mà uống.
Có những tiếng la khóc bởi vì sự chết đã đột tới (khóc). Bắt đầu có những người bị kiệt sức quá mà bắt đầu xỉu, trong đó cũng có em mê man không biết gì hết, chỉ nhớ là những người xung quanh đọc kinh cầu xin nhận cho nếu mà có bị chết thì xin cho linh hồn được siêu thoát một cách nhẹ nhàng.
Trong lúc trôi như vậy thì một sự may mắn đến với tất cả những con người trên tàu đó là được tàu của Hạm Đội 7 Mỹ đang tập trận ở Thái Bình Dương cứu vớt. Khi cứu lên sàn tàu thì các phụ nữ và trẻ em đều vô phòng cấp cứu bởi vì đã bị kiệt sức quá rồi, không còn sự sống.
Một kỷ niệm mà nếu những ai đi con tàu đó thì chắc không bao giờ quên là các người Mỹ họ đã săn sóc, họ điều trị những người chết đi sống lại, cho phục hồi sức khoẻ rồi mới bắt đầu đưa vô Thái Lan. Trại đó là trại Banatnikhon. Em ở đó là gần 9 năm."
Một thảm cảnh khác trên Biển Đông có liên quan đến chị Lê Thị Sen, hiện cũng đang ở Mỹ. Tàu chị Sen gặp cướp biển như chị cho biết :
"Trên đường vượt biển thì gặp cướp biển. Ở trên tàu nó thả canô xuống qua tàu mình. Mấy người đàn bà con gái bị họ hãm hiếp và họ định đập cho tàu mình chìm nữa. Tiền bạc vòng vàng ai mà có đều nộp cho họ hết. Khi bị cướp xong chạy được một hồi thì tới dàn khoan của Mã Lai. Dàn khoan nó mới kéo tàu vô.
Nếu mà không gặp dàn khoan đó thì chắc chìm chết rồi vì tối hôm đó sóng gió quá chừng, mà tàu thì cũng nhỏ nữa, giống như mấy chiếc thuyền đánh cá, mà ở dưới tàu là 126 người nằm sát nhau. Có nhiều đứa bé nó ói quá con mắt trắng dờ tưởng như nó chết rồi."
Ngược dòng thời gian hơn nữa, hồi năm 1979, bà Kim Liên, hiện định cư tại Bỉ, đã từ Vũng Tàu vượt trùng dương đến Indonesia. Nhưng thảm cảnh Biển Đông cũng không dung tha gia đình nữ thuyền nhân ấy :
"Trên đường biển cả trời mưa dông gió, đã vào nhiều đảo nhưng họ không nhận, gặp nhiều tàu cầu cứu không vớt. Cuộc hành trình lênh đênh trên biển cả đã 13 ngày, chúng tôi gặp một chiếc tàu đậu ở biển khơi  mà chúng tôi cứ nghĩ đấy là một hòn đảo.
Lúc đêm thì mình thấy như vậy, đến 8 giờ sáng thì trông nó lù lù ra là một cái tàu, thì ra cái tàu dầu nó đậu ở đó, ở biển khơi đó. Chúng tôi cố chạy vào cầu cứu, họ chẳng vớt, và thuyền trưởng ra lệnh cho thợ máy nhổ neo chạy.
Vì chiếc tàu nó lớn, chân vịt nó quay, nước xoáy quá mạnh và nó lôi kéo tàu chúng tôi vào chân vịt. Cánh quạt chém tàu tôi hai phát, úp lật con tàu. Mọi người tung xuống biển vì tàu bị bể ra rồi.
Lúc đó nó chổng lên, mới chìm phân nửa, còn nổi phân nửa. Người nào biết bơi thì bơi vào trong chiếc tàu vì nó chưa chìm hết thì họ cũng bám vào đấy. Người nào khoẻ thì đi cứu những người không biết bơi, lôi kéo nhau vào đó, bám chung quanh.
Tàu làm cho chúng tôi bị chìm nó bỏ đi nửa tiếng gì đó. Tàu này của nước Libya. Tôi thấy nó thả 2 cái bo-bo xuống, nó đi vớt chúng tôi. Khi nó vớt thì cũng đã chết hết 11 người rồi. 68 người chết hết 11 người, nhưng mà vớt được 3 người, nước cuốn đi 8 người trôi đâu mất rồi, trong đó có con gái tôi.".


Khi người phải ăn thịt... người

Và một cảnh vô cùng đau xót và kinh hoàng đã xảy đến cho một chiếc tàu phát xuất từ Saigòn hồi năm 1978 chở theo hơn 100 người, khi chỉ có 43 người đến được bến bờ. Chị Kim Chi kể lại câu chuyện thương tâm này :
Chị Kim Chi : Tại lúc đó đói quá thì có người trước chết họ mới nói là tại sao không ăn thịt người để sống. Thì người đó chết và người đó là người bị ăn đầu tiên để nuôi vợ và con họ được sống sót. Thì ý tưởng đó bắt đầu từ lúc đó, sau đó thì những người khác họ thấy như vậy họ mới bắt đầu thôi.
Thanh Quang :  Thưa chị, xin lỗi chị. Chị ở trong chuyến tàu đó, phải không?
Chị Kim Chi : Dạ.
Thanh Quang :  Thưa, như vậy chị có ăn thịt người không, do hoàn cảnh bắt buộc ?
Chị Kim Chi :  Có chớ.
Thanh Quang : Cái cảm giác của chị lúc đó như thế nào ?
Chị Kim Chi :  Nói đúng ra thì cũng ghê chứ. Tại vì nói chung là trong lúc người ta đói quá thì hình như là người ta không còn lý trí nữa nhiều để mà suy xét nữa.
Thanh Quang :  Dạ. Như vậy là đi bao lâu ngày mà rồi gặp nạn như vậy, thưa chị? Tàu đó có mấy người?
Chị Kim Chi : Tàu đi cũng đông lắm, anh. 143 người tất cả nhưng mà chỉ còn sống sót 34 người.
Thanh Quang : Tàu phát xuất từ đâu, thưa chị?
Chị Kim Chi : Dạ, từ Sài Gòn.
Thanh Quang : Đi bao lâu?
Chị Kim Chi : Đi khoảng 65 ngày.
Thanh Quang : Lâu như vậy bởi lý do ra sao, thưa chị?
Chị Kim Chi : Lúc đó còn bé thì cũng không nhớ rõ nữa, nhưng nếu không lầm thì chân vịt tàu bị quấn lưới, bị gãy, không nhúc nhích được nữa nên tàu cứ lênh đênh thôi, thì nó cứ lênh đênh trên biển vậy đó.
Thanh Quang : Dạ.
Chị Kim Chi : Rồi cho tới ngày nó mắc cạn tấp vô đảo. Không phải là cái đảo, nó thuộc dạng đảo ngầm của Đài Loan. Cái đảo đó nằm giữa biển, khi nước biển dâng lên thì như là cái biển vậy thôi tức cái niveau của nó bằng mặt nước biển, nhưng khi nó tụt xuống thì xung quanh mình là biển thì tàu mình bị tụt xuống nhưng mà nước vẫn còn khoảng tới đầu gối, tức là cạn nhất vẫn tới đầu gối. Nói là cái đảo thì cũng không hẳn nhưng mà nó là cái đảo, đảo giữa lòng biển.
Thanh Quang : Dạ rồi tất cả thuyền nhân một trăm mấy chục người ở trên tàu đó rồi dần dà cạn lương thực, cạn thức ăn và thức uống, có phải không ạ?
Chị Kim Chi : Thì nói chung là vậy. Tại vì tàu đi đâu có dự định đi tới mấy chục ngày như vậy, thì họ mới không đủ thức ăn rồi mới  bắt đầu đói khát này kia rồi mới sanh ra cái đó. Nói chung, người đầu tiên là ông cậu của mình.
Ngày xưa ổng là một nhà giáo nhưng khi ổng nhìn thấy con ổng đói rồi vợ ổng đói như vậy đó, lúc đó ổng cũng yếu sức lắm, ổng đói lã rồi, tức là ổng gần chết rồi, ổng mới nói là sau khi ổng chết thì hãy dùng thịt của ổng mà cho con ổng ăn với vợ ổng ăn đi để mà nuôi sống được vợ con ổng.
Chính vì như vậy cho nên khi ổng chết rồi thì mới lấy ý tưởng của ổng để mà bắt đầu ăn để nuôi sống mình rồi nuôi sống vợ con ổng luôn chứ không phải một mình vợ con ổng không đâu.
Rồi những người trong tàu, những gia đình khác họ thấy như vậy, lúc đầu thì họ cũng chửi rủa, phản đối dữ lắm, tại vì họ nói tàn nhẫn, vô nhân đạo, thế này thế nọ tùm lum hết.
Nhưng mà qua một đêm như vậy, sáng ra thì họ ăn căp hết trơn, tức là người của ổng chỉ còn là bộ xương thôi. Người ta chửi thì vẫn chửi nhưng người ta ăn cắp thì người ta vẫn ăn cắp thịt của ổng để người ta ăn.
Thanh Quang : Ăn sống như vậy?
Chị Kim Chi :  Thì đó là cái ý tưởng đầu tiên của ổng đó.
Thanh Quang : Rồi sau đó những người khác tiếp tục, sắp hấp hối rồi chết đi thì những người sống còn lại cũng lóc thịt họ ăn?
Chị Kim Chi :  Thì những người đó, nói chung là gia đình nào thì ăn thân nhân gia đình đó. Không phải là mình được ăn tùm lum đâu, tại vì không phải là ai cũng ăn được đâu. Đa số những người mà họ chết trong gia đình thì họ mới được quyền dành xác đó mà ăn thôi chớ không phải mạnh ai mà nấy ăn đâu. Hổng phải người ta chết mà mình đè ra mà ăn đâu.
Thanh Quang : Thế thì những người trong gia đình không có người chết đói thì làm sao họ sống ?
Chị Kim Chi :  Thì họ xin. Có nhiều phương pháp lắm: xin, ăn cắp. Tại vì xác chết đâu phải như miếng đồ ăn mà cất vô tủ mà xác chết chỉ nằm ở đó, sau một đêm nhiều khi mình ngủ dậy thì họ ăn cắp hết rồi.
Thanh Quang : Thưa chị, lúc lóc thịt đó như vậy thì họ có nấu nướng gì không?
Chị Kim Chi : Lúc đó họ bắt dầu nạy gỗ tàu lên làm củi nấu chứ.
Thanh Quang : Dạ.
Chị Kim Chi : Những sàn gỗ của thân tàu thì họ bắt đầu dùng cái đó để nấu nướng, nhưng mà riết rồi cũng không còn nữa, tại vì nếu mà họ cứ nấu thì không còn chỗ nằm, với lại một phần nữa là thời gian hình như cuối cùng nếu không lầm thì giống như sống đánh cũng nhiều thành ra mất lửa. Không có lửa nên trong một khoảng thời gian có người họ ăn sống.
Thanh Quang : Dạ.
Chị Kim Chi : Rồi sau đó có tàu đến cứu kịp. Nói chung tình trạng đó kéo dài khoảng mười mấy ngày như vậy thì về sau có tàu đến rước mới thôi.
Thanh Quang : Khi có tàu đến rước thì số người trên tàu còn 34 người như chị nói hồi nãy, phải không?
Chị Kim Chi : Không. Không. Lúc đó còn 64 người, nhưng mà tại vì xui là gặp tàu đánh cá Đài Loan nó thuộc dân tham lam, tức là khi nó gặp người còn sống thì nó rước nhưng với điều kiện là nó bắt phải nộp tiền cho nó. Một đầu người là 7 chỉ vàng thì nó mới rước.
Mọi người đồng ý đóng tiền cho nó. Đến lúc đóng xong thì nó mới nảy ra lòng tham. Hầu như nó cảm thấy người Việt mình giàu, có tiền, nên nó mới nảy ra ý định thay vì trên con đường về từ cái đảo chìm này cho tới đất liền là khoảng 3 ngày thôi nhưng nó kéo dài ra tới 17 ngày bằng cách là nó cho tiếng máy tàu chạy giống như mình tưởng là tàu đang chạy mà thực sự tàu đứng tại chỗ.
Trong vòng 17 ngày như vậy người ta bắt đầu đói rồi người ta chết từ từ. Nó cũng không cho ăn. Nó tàn nhẫn lắm tại vì nó nghĩ là mình có tiền, thành ra những ai muốn ăn thì phải trả tiền cho nó. Nó cũng có một bữa cơm chính thức, tức là bữa đó nó cho ăn cháo. Ăn cháo nhưng mà cháo trắng thôi, không có muối, không có thịt, không có nước mắm, không có gì hết.
Nhưng mà nếu ai muốn thêm một cái gì thì phải bỏ tiền ra, thành ra nó kiếm tiền qua cái lợi nhuận đó. Rồi đến lúc nó cảm thấy người ta kiệt quệ không còn tiền và cũng không còn sức nữa, hầu như nó cũng không quết định cho mình về đất liền, tại vì lúc đó có thể nó tính ém luôn chuyện đó, nó cho người ta chết từ từ để nó khỏi đưa về.
Nhưng mà xui hôm đó tàu bị nổ tại vì gas bị xì làm nổ cả tàu và tàu bốc cháy thì cũng làm cháy  nhiều người lắm. Họ bị phỏng nặng và lúc đó tàu bị chìm xuống, nước vô.
Tất cả tai nạn đó xảy ra cũng một lúc trong vòng tích tắc, tức là vừa bị cháy vừa bị chìm, thế là ông thuyền trưởng sợ quá nên lúc đó ổng mới đánh điện về trong đất liền để xin viện trợ hay là xin đưa người vô mà mình không hiểu nữa. Thì lúc đó Đài Loan mới chấp nhận cho vô đất liền.
Về tới Đài Trung thì cảnh sát ra, rồi xe cứu hoả, xe cứu thương ra tùm lum hết. Tại vì lúc đó mấy người chết vì bị phỏng nặng quá thì nó mới đêm vô bệnh viện.
Lúc đó cảnh sát mới bắt đầu điều tra và họ nói là khi chủ tàu đánh điện tín gì đó kêu là 64 người mà tại sao bây giờ còn 34 người, thì lúc đó họ mới bắt đầu điều tra ổng, bắt ổng ở tù, tại vì lúc đó họ nghi ngờ.
Trong tình trạng nửa sống nửa chết nên không có ai tố cáo cũng chẳng có ai thưa kiện, tất cả nằm trong bệnh viện hết. Được vô nằm trong bệnh viện trong gần 2 tháng trời, lúc ra viện thì mới về trại tị nạn, lúc đó thì phái đoàn Mỹ mới xuống để điều tra.
Vì có tuyên thệ để đi Mỹ nên họ mới bắt đầu điều tra thì họ mới bắt đầu biết, từ cái chi tiết lúc đó mới lòi ra chuyện ăn thịt người.

  http://thaibatan.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1055&Itemid=53

đau đớn quá ! Đừng bao giờ lập lại...

2011/9/25 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/09/thu-cam-on-cua-48-hoc-sinh-tu-fukushima.html

Thưa các bạn gần xa

Thế là bạn Lê Châu Anh ở Tokyo đã dịch xong 48 bức thư cảm ơn học sinh trường trần Quốc Thảo về 2000 con hạc giấy...xin chuyển đến các bạn đọc cho vui. Nhân đây xin chân thành cảm ơn bạn Lê Châu  Anh rất nhiều.
Chắc chắn những bức thư này sẽ chuyển đến để các thầy cô trường TQT để đọc cho các cháu nghe...và sẽ là tư liệu được lưu lại trong truyền thống nhà trường.

kính
NLG


27/09 Bội chi ngân sách khoảng 44,5 nghìn tỷ đồng


Thu nội địa là 284,4 nghìn tỷ đồng, bằng 74,5%; thu từ dầu thô 71,5 nghìn tỷ đồng, bằng 103,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 107,3 nghìn tỷ đồng, bằng 77,4%.
Theo số liệu Tổng cục Thống kê mới công bố, tổng thu ngân sách nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2011 ước tính đạt 467,1 nghìn tỷ đồng, bằng 78,5% dự toán năm. Tổng chi ngân sách tương ứng đạt 511,6 nghìn tỷ đồng và bằng 70,5%.

Từ dữ liệu nói trên, bội chi ngân sách nhà nước 9 tháng năm 2011 ước khoảng 44,5 nghìn tỷ đồng, xấp xỉ mức 36,9% kế hoạch cả năm. Các tháng từ đầu năm đến nay, bội chi ngân sách tăng khá đều, khoảng 4-5 nghìn tỷ đồng/tháng.

So với GDP theo giá thực tế 9 tháng năm 2011 là khoảng 1.710,2 nghìn tỷ đồng, bội chi ngân sách 9 tháng mới chỉ bằng khoảng 2,6% GDP, trong khi mục tiêu được Chính phủ đặt cho năm nay là khoảng 4,9% GDP.

Chi tiết con số thu, thông tin từ Tổng cục Thống kê cho hay, thu nội địa là 284,4 nghìn tỷ đồng, bằng 74,5%; thu từ dầu thô 71,5 nghìn tỷ đồng, bằng 103,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 107,3 nghìn tỷ đồng, bằng 77,4%. 

Trong số thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước bằng 68,2% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 67,7%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước bằng 74,8%; thuế thu nhập cá nhân bằng 91,7%; thu phí xăng dầu bằng 64,6%; thu phí, lệ phí bằng 63%.

Ở phía chi ngân sách, chi đầu tư phát triển là 108,2 nghìn tỷ đồng, bằng 71,2% dự toán năm (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 101,5 nghìn tỷ đồng, bằng 69,9%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể 334,7 nghìn tỷ đồng, bằng 71,3%; chi trả nợ và viện trợ 68,7 nghìn tỷ đồng, bằng 79,9%.

Theo Diệu Hương 
VnEconomy

Câu chuyện khg thể kể lại! đau đớn quá...



THUYEN NHAN - CHUYEN KHONG THE KHONG BIET PDF In E-mail
Người viết: Thái Bá Tân   
27/09/2011
Trên dưới 30 năm trước, toàn thế giới đã phải đặc biệt chú tâm đến Việt Nam, nơi mà hàng ngàn và hàng ngàn con người quyết tâm rời bỏ quê hương, rời bỏ gia đình, tài sản và kỷ niệm, để vượt biển ra đi trên những con tàu mong manh chưa biết đi đâu về đâu và chấp nhận mọi hiểm nguy trên biển.
 
Biến cố 30/4/1975

Làn sóng người mà hành trang mang theo chỉ là một quyết tâm rời bỏ quê hương yêu dấu đã làm thành sự kiện độc nhất vô nhị trên thế giới, và những thảm cảnh mà họ gặp trên đường hải hành đã gây xúc động sâu xa cho mọi người, đã đánh động lương tâm nhân loại.
Theo số liệu của Cao Uỷ Tin Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), tính tới năm 2000 đã có 796.310 thuyền nhân đến được các trại tị nạn, trong số này 720.000 người đã được định cư tại một nước thứ ba trong số trên 15 quốc gia mở rộng vòng tay đón nhận họ.
Những con người can đảm và may mắn này đã xây dựng thành một Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại lớn mạnh, đáng ngưỡng mộ.
Nhưng còn những người ra đi mà không đến thì sao? Bao nhiêu người đã bỏ mình trong cuộc hải hành trên Biển Đông? Không ai biết được con số chính xác.
Nhưng nếu ra đi một sống hai chết và số người thành công là gần 800.000 thì số người thất bại e cũng gần bằng con số ấy.
Thuyền nhân Việt Nam trong 1/4 cuối Thế Kỷ XX là một sự kiện lịch sử không thể xoá nhoà và mong sẽ không bao giờ lập lại.
Một trong những người rời nước bằng tàu Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà ngày 29, luật sư trẻ Nguyễn Hiền hồi năm 1975, hồi tưởng:
"Nha Trang thất thủ, gia đình chúng tôi vào Sài Gòn. Sau những toan tính bất thành tìm đường ra đi như nhiều gia đình khác lúc bấy giờ thì sự đi khỏi Việt Nam kịp lúc của gia đình chúng tôi trước khi Sài Gòn thất thủ hoàn toàn do may mắn.
Nhờ anh tôi trong binh chủng hải quân mà gia đình chúng tôi đi được gần hết. Sự may mắn vào phút chót đó phải nói không tiền bạc nào có thể mua được.
 

Chiếc tàu thuộc Hải Quân Việt Nam đưa chúng tôi đi từ bến Bạch Đằng (Sài Gòn) vào đêm 29 rạng 30-4-1975, chỉ vài tiếng đồng hồ trước khi Sài Gòn hoàn toàn bị xâm chiếm.
Chuyến đi vất vả, thiếu thốn, tinh thần hoang mang trong mấy ngày đầu. Nhưng bây giờ nhìn lại mới thấy nhung khổ sở của chúng tôi lúc đó không thể so sánh với cảnh địa ngục trần gian mà nhiều đồng bào boat people của chúng tôi phải trải qua trong những chuyến vượt biên những năm sau đó.
Tàu lớn được Hạm Đội 7 Mỹ đón tiếp ngoài khơi, sau cùng chuyển chúng tôi sang tàu dân sự và đưa chúng tôi đến đảo Guam an toàn. Chúng tôi không hề phải lo lắng về an toàn sinh mạng của mình."

Thuyền nhân

Ngay trong Ngày 30 Tháng Tư vài chục chiếc tàu, nguyên là tàu đánh cá hay chở hàng cũ, chứa đầy những người tự thấy không thể sống dưới chế độ cộng sản, đã xuôi theo mọi dòng sông và kinh rạch của Miền Nam ra Biển Đông.
Đó là những người tiên phong của phong trào thuyền nhân diễn ra ồ ạt trong vài ngày kế tiếp, rồi âm ỉ nhưng kiên quyết kéo dài nhiều năm sau đó.
Số người được dự đoán ra đi trong đợt này vào khoảng 200 ngàn, trong đó khoảng từ 130 đến 160 ngàn được tiếp nhận tại đảo Guam, và sau đó định cư tại Hoa Kỳ.
Số thuyền nhân VN đến được các trại tị nạn trong hai năm 1975-1976 là 5.947 người, nhiều nhất là Thái Lan với 2.699 người và Malaysia với 1.160 người. Qua năm 1977 số thuyền nhân đến được các trại tị nạn là 17.126 người. Năm kế tiếp là 87.164 người. Và đến năm 1979 được mô tả là năm cao điểm của phong trào thuyền nhân, số người đến được các trại tị nạn là 201.189 người.
Bà Dân Biểu Madeleine P. Bordalllio, lúc đó là phu nhân của Thống Đốc đảo Guam, nhớ lại rằng những thuyền nhân đầu tiên đó phần lớn đói khát, bệnh hoạn và mệt mỏi.
Những thuyền nhân trong đợt đầu tiên này phải được kể là may mắn nhất bởi gần như không xảy ra tai nạn nào trên biển và hầu hết ngay sau đó được định cư tại Hoa Kỳ hay tại các quốc gia Tây Phương khác. Họ chính là những người tiên phong của Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại.
Sau khi đất nước đã chính thức thống nhất và nhiều chính sách đặc biệt cho người dân Miền Nam được áp dụng, số người vượt biển tìm tự do đã dần dần tăng lên.

Theo số liệu của Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, số thuyền nhân đến được các trại tị nạn trong hai năm 1975-1976 là 5.947 người, nhiều nhất là Thái Lan với 2.699 người và Malaysia với 1.160 người.
Qua năm 1977 số thuyền nhân đến được các trại tị nạn là 17.126 người. Năm kế tiếp là 87.164 người. Và đến năm 1979 được mô tả là năm cao điểm của phong trào thuyền nhân, số người đến được các trại tị nạn là 201.189 người.
Một câu hỏi lại phải được đặt ra là để có được số người như thế đến được bến bờ tị nạn thì đã có bao nhiêu người bỏ mình trên biển?
Năm 1979 cũng là năm mà toàn thế giới không thể không nói đến, không thể không xúc động trước sự kiện thuyền nhân.

Có những nhân vật nổi tiếng chống chiến tranh Việt Nam trước kia từng chính thức lên tiếng tranh đấu chống lại phía Hoa Kỳ và đồng minh Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến, thì nay lên tiếng công khai xin lỗi và rút lại sự ủng hộ đối với phía Hà Nội. Đó là triết gia Jean Paul Sartre của Pháp, cô đào Jane Fonda, hay ca sĩ Joan Baez.


Tự Do, 2 chữ Tự Do

Vấn đề là tại sao người Việt Nam vốn yêu quê hương đất nước, vốn gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn, vốn không bao giờ muốn rời xa nơi có mồ mả ông bà, dấu vết tổ tiên, lại đành đoạn dứt áo ra đi trong một chuyến đi biết chắc sẽ vô cùng gian nan, sẽ chín chết một sống, sẽ có thể bị đoạ đày, tủi nhục?
Trước hết là trường hợp của chị Trịnh Thanh Tùng với chuyến hải hành nổi tiếng, trong đó người sống phải ăn thịt người chết vì tàu lênh đênh trên biển với máy hỏng và không còn thức ăn hay nước uống, mà lại không được các tàu qua lại cứu giúp:
"Trước 75 là đi học. 75 vô thì  mấy ông Việt Cộng đâu có cho học nữa, thì phải đi buôn đi bán, đi làm ruộng, đủ thứ hết, phụ mẹ nuôi ba đi ở tù, nuôi ông xã đi ở tù 14 năm luôn mà. Mấy mẹ con ở nhà, trời ơi, khổ lắm. Còn bị lấy nhà đủ thứ nữa chớ đâu phải...
Họ đuổi ra, họ không có cho ở nhà cuả mình (khóc). Mà ba đi ở tù về thì má mất. Ba tôi về là cuối năm 1979. Đến năm 1988 ông xã mới được về. Mỗi vài ba tháng là phải xách đồ đi thăm nuôi, phải nấu cơm, bới đồ lên thăm nuôi ảnh chớ không thôi đói chết sao. Ôi, nhắc tới khổ lắm! "
Trường hợp của bà Lê Thị Sen vượt biên hai lần:
"Cái lần đầu tiên thì tôi đến Galang (Indonesia) là năm 1989. Tôi ở đó gần 7 năm thì khi đó họ cưỡng bức hồi hương. Mấy năm tôi mới về thì công an hay để ý. Công ăn việc làm xin cũng khó nữa.
Khó hoà nhập vào cuộc sống lắm, cho nên tôi quyết định đi nữa.  Ban đầu là vì tôi đạo Hoà Hảo cho nên tôn giáo của tôi không được thoải mái, không có được đi lại hội quán cho sinh hoạt tôn giáo của mình.
Thứ hai nữa là vì chồng tôi là quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, cho nên tôi cũng bị phân biệt đối xử, bị ngược đãi nhiều lắm. Gia đình tôi bị đi kinh tế mới ở Cờ Đỏ (Giá Rai) cực khổ lắm. Rồi hồi tôi chưa lập gia đình thì ba tôi cũng đạo Hoà Hảo, khi tôi thi vô đại học thì đơn không được chấp nhận, không được đối xử bình thường, cho nên tôi phải bỏ nước ra đi hồi năm 89."
Và trường hợp của cô Nguyễn Thị Hoa Hương:
"Tại sao mình cũng là con người mà mình lại không có được những quyền tự do đối với chính bản thân mình? Sau ngày 14-3-1989 tất cả mọi người hầu như bị bắt trở về Việt Nam với cái chương trình thuyền nhân hồi hương, tất cả thuyền nhân bị khủng hoảng tinh thần.
Mình rất là sợ bị trở về Việt Nam. Mọi người chia xẻ là họ không muốn trở về cái nơi mà họ đã bỏ ra đi. Họ rất là sợ hãi. Trở về với cái lý lịch lại không xin được công ăn việc làm mà thực tế họ chỉ muốn những công việc bình thường thôi."
Trong số những người đau khổ nhất sau ngày 30-4-1975 phải nói đến những quân nhân, công chức Việt Nam Cộng Hoà được chính quyền mới gọi một cách tử tế là "chế độ cũ" hay một cách miệt thị là "nguỵ quân, nguỵ quyền" thì hầu hết bị "tập trung cải tạo" mà thực chất là bị bắt giam trong những trại tù xa xôi hẻo lánh, thường thì vài ba năm, nhwng nhiều người đã phải ở lại đến mười mấy năm.
Những người tù ấy không biết đến ngày về bởi họ chỉ được hứa là sẽ được trở về với gia đình khi nào "học tập tốt", nhưng lại không thể rõ thế nào là "tốt"? Nhiều người đã bỏ xác tại nơi bị lưu đày, nhưng bao nhiêu thì cho tới nay vẫn chưa có con số chính xác.
Người phụ nữ Việt Nam  trong hầu hết những hoàn cảnh ấy đã chứng tỏ phẩm chất của mình khi thay chồng nuôi dạy con trong hoàn cảnh bị kỳ thị và hầu như mọi cánh cửa mưu sinh đều bị đóng chặt.
Có những người vợ đã nhìn thấy nỗi tuyệt vọng cho mình cũng như cho tương lai của con cái nên dù chồng đang chịu đọa đày trong trại cải tạo, vẫn cùng con lên thăm chồng, xin chồng cho vượt biên để tìm đường sống.


Thảm cảnh trên Biển Đông

Thảm cảnh trên Biển Đông có lẽ sẽ không bao giờ nhạt nhoà trong ký ức của thuyền nhân Việt Nam, khi những chiếc thuyền mong manh đưa họ vượt trùng dương tìm đến bến bờ tự do sau biến cố 30/4/1975, hầu như thường xuyên gặp nạn.
 
Khỏang một triệu người may mắn đến được những nơi muốn đến, thì cũng chừng ấy số người đã vĩnh viễn ở lại dưới lòng biển cả.
Mỗi năm cứ mỗi lần đến thời điểm 30 Tháng Tư là người Việt tị nạn tại hải ngọai không khỏi bùi ngùi nhớ lại thân nhân, bạn bè hay chính mình đã trải qua những chuyến vượt biển thập tử nhất sinh.
Ngoài khỏang một triệu người may mắn đến được những nơi muốn đến, thì cũng chừng ấy số người đã vĩnh viễn ở lại dưới lòng biển cả.
Riêng với những thuyền nhân sống sót, thì không ít người gặp phải thảm cảnh ở biển khơi, tiêu biểu nhất là bị bão, hải tặc hay tàu chết máy.
Chẳng hạn như, chị Nguyễn Thị Hoa Hương, hiện đang định cư tại Hoa Kỳ, đã ra sức tìm đến bến bờ tự do hồi năm 1989 và gặp nạn, như chị mô tả:
"Mình không có chỗ nằm, mình chỉ ngồi mà co hai chân lại, ngồi đủ chỗ thôi. Lâu lâu mình duỗi được cái chân thôi chứ không có được nằm. Đó là một kỷ niệm mà em không bao giờ quên khi mà tàu đi 7 ngày trên Thái Bình Dương thì đã bị bão biển rất là lớn và đã đánh tan chiếc tàu ra, chỉ còn lại thân chiếc tàu, còn đầu tàu và đuôi tàu thì bị đứt ra.
Trong cơn nguy cập đó thì người ta đã chuyển tất cả mọi người vô giữa thân của con tàu. Lúc bấy giờ sự chết kể như 90% rồi, tại vì bão kéo dài mấy ngày trời liên tục. Con tàu không còn bộ phận lái gì hết, tự con tàu trôi đi thôi. Trong mấy ngày như vậy thì lương thực hết rồi, mọi người bắt đầu nhịn đói, chỉ có những giọt nước để dành lại và mọi người chia nhau ra để mà uống.
Có những tiếng la khóc bởi vì sự chết đã đột tới (khóc). Bắt đầu có những người bị kiệt sức quá mà bắt đầu xỉu, trong đó cũng có em mê man không biết gì hết, chỉ nhớ là những người xung quanh đọc kinh cầu xin nhận cho nếu mà có bị chết thì xin cho linh hồn được siêu thoát một cách nhẹ nhàng.
Trong lúc trôi như vậy thì một sự may mắn đến với tất cả những con người trên tàu đó là được tàu của Hạm Đội 7 Mỹ đang tập trận ở Thái Bình Dương cứu vớt. Khi cứu lên sàn tàu thì các phụ nữ và trẻ em đều vô phòng cấp cứu bởi vì đã bị kiệt sức quá rồi, không còn sự sống.
Một kỷ niệm mà nếu những ai đi con tàu đó thì chắc không bao giờ quên là các người Mỹ họ đã săn sóc, họ điều trị những người chết đi sống lại, cho phục hồi sức khoẻ rồi mới bắt đầu đưa vô Thái Lan. Trại đó là trại Banatnikhon. Em ở đó là gần 9 năm."
Một thảm cảnh khác trên Biển Đông có liên quan đến chị Lê Thị Sen, hiện cũng đang ở Mỹ. Tàu chị Sen gặp cướp biển như chị cho biết :
"Trên đường vượt biển thì gặp cướp biển. Ở trên tàu nó thả canô xuống qua tàu mình. Mấy người đàn bà con gái bị họ hãm hiếp và họ định đập cho tàu mình chìm nữa. Tiền bạc vòng vàng ai mà có đều nộp cho họ hết. Khi bị cướp xong chạy được một hồi thì tới dàn khoan của Mã Lai. Dàn khoan nó mới kéo tàu vô.
Nếu mà không gặp dàn khoan đó thì chắc chìm chết rồi vì tối hôm đó sóng gió quá chừng, mà tàu thì cũng nhỏ nữa, giống như mấy chiếc thuyền đánh cá, mà ở dưới tàu là 126 người nằm sát nhau. Có nhiều đứa bé nó ói quá con mắt trắng dờ tưởng như nó chết rồi."
Ngược dòng thời gian hơn nữa, hồi năm 1979, bà Kim Liên, hiện định cư tại Bỉ, đã từ Vũng Tàu vượt trùng dương đến Indonesia. Nhưng thảm cảnh Biển Đông cũng không dung tha gia đình nữ thuyền nhân ấy :
"Trên đường biển cả trời mưa dông gió, đã vào nhiều đảo nhưng họ không nhận, gặp nhiều tàu cầu cứu không vớt. Cuộc hành trình lênh đênh trên biển cả đã 13 ngày, chúng tôi gặp một chiếc tàu đậu ở biển khơi  mà chúng tôi cứ nghĩ đấy là một hòn đảo.
Lúc đêm thì mình thấy như vậy, đến 8 giờ sáng thì trông nó lù lù ra là một cái tàu, thì ra cái tàu dầu nó đậu ở đó, ở biển khơi đó. Chúng tôi cố chạy vào cầu cứu, họ chẳng vớt, và thuyền trưởng ra lệnh cho thợ máy nhổ neo chạy.
Vì chiếc tàu nó lớn, chân vịt nó quay, nước xoáy quá mạnh và nó lôi kéo tàu chúng tôi vào chân vịt. Cánh quạt chém tàu tôi hai phát, úp lật con tàu. Mọi người tung xuống biển vì tàu bị bể ra rồi.
Lúc đó nó chổng lên, mới chìm phân nửa, còn nổi phân nửa. Người nào biết bơi thì bơi vào trong chiếc tàu vì nó chưa chìm hết thì họ cũng bám vào đấy. Người nào khoẻ thì đi cứu những người không biết bơi, lôi kéo nhau vào đó, bám chung quanh.
Tàu làm cho chúng tôi bị chìm nó bỏ đi nửa tiếng gì đó. Tàu này của nước Libya. Tôi thấy nó thả 2 cái bo-bo xuống, nó đi vớt chúng tôi. Khi nó vớt thì cũng đã chết hết 11 người rồi. 68 người chết hết 11 người, nhưng mà vớt được 3 người, nước cuốn đi 8 người trôi đâu mất rồi, trong đó có con gái tôi.".


Khi người phải ăn thịt... người

Và một cảnh vô cùng đau xót và kinh hoàng đã xảy đến cho một chiếc tàu phát xuất từ Saigòn hồi năm 1978 chở theo hơn 100 người, khi chỉ có 43 người đến được bến bờ. Chị Kim Chi kể lại câu chuyện thương tâm này :
Chị Kim Chi : Tại lúc đó đói quá thì có người trước chết họ mới nói là tại sao không ăn thịt người để sống. Thì người đó chết và người đó là người bị ăn đầu tiên để nuôi vợ và con họ được sống sót. Thì ý tưởng đó bắt đầu từ lúc đó, sau đó thì những người khác họ thấy như vậy họ mới bắt đầu thôi.
Thanh Quang :  Thưa chị, xin lỗi chị. Chị ở trong chuyến tàu đó, phải không?
Chị Kim Chi : Dạ.
Thanh Quang :  Thưa, như vậy chị có ăn thịt người không, do hoàn cảnh bắt buộc ?
Chị Kim Chi :  Có chớ.
Thanh Quang : Cái cảm giác của chị lúc đó như thế nào ?
Chị Kim Chi :  Nói đúng ra thì cũng ghê chứ. Tại vì nói chung là trong lúc người ta đói quá thì hình như là người ta không còn lý trí nữa nhiều để mà suy xét nữa.
Thanh Quang :  Dạ. Như vậy là đi bao lâu ngày mà rồi gặp nạn như vậy, thưa chị? Tàu đó có mấy người?
Chị Kim Chi : Tàu đi cũng đông lắm, anh. 143 người tất cả nhưng mà chỉ còn sống sót 34 người.
Thanh Quang : Tàu phát xuất từ đâu, thưa chị?
Chị Kim Chi : Dạ, từ Sài Gòn.
Thanh Quang : Đi bao lâu?
Chị Kim Chi : Đi khoảng 65 ngày.
Thanh Quang : Lâu như vậy bởi lý do ra sao, thưa chị?
Chị Kim Chi : Lúc đó còn bé thì cũng không nhớ rõ nữa, nhưng nếu không lầm thì chân vịt tàu bị quấn lưới, bị gãy, không nhúc nhích được nữa nên tàu cứ lênh đênh thôi, thì nó cứ lênh đênh trên biển vậy đó.
Thanh Quang : Dạ.
Chị Kim Chi : Rồi cho tới ngày nó mắc cạn tấp vô đảo. Không phải là cái đảo, nó thuộc dạng đảo ngầm của Đài Loan. Cái đảo đó nằm giữa biển, khi nước biển dâng lên thì như là cái biển vậy thôi tức cái niveau của nó bằng mặt nước biển, nhưng khi nó tụt xuống thì xung quanh mình là biển thì tàu mình bị tụt xuống nhưng mà nước vẫn còn khoảng tới đầu gối, tức là cạn nhất vẫn tới đầu gối. Nói là cái đảo thì cũng không hẳn nhưng mà nó là cái đảo, đảo giữa lòng biển.
Thanh Quang : Dạ rồi tất cả thuyền nhân một trăm mấy chục người ở trên tàu đó rồi dần dà cạn lương thực, cạn thức ăn và thức uống, có phải không ạ?
Chị Kim Chi : Thì nói chung là vậy. Tại vì tàu đi đâu có dự định đi tới mấy chục ngày như vậy, thì họ mới không đủ thức ăn rồi mới  bắt đầu đói khát này kia rồi mới sanh ra cái đó. Nói chung, người đầu tiên là ông cậu của mình.
Ngày xưa ổng là một nhà giáo nhưng khi ổng nhìn thấy con ổng đói rồi vợ ổng đói như vậy đó, lúc đó ổng cũng yếu sức lắm, ổng đói lã rồi, tức là ổng gần chết rồi, ổng mới nói là sau khi ổng chết thì hãy dùng thịt của ổng mà cho con ổng ăn với vợ ổng ăn đi để mà nuôi sống được vợ con ổng.
Chính vì như vậy cho nên khi ổng chết rồi thì mới lấy ý tưởng của ổng để mà bắt đầu ăn để nuôi sống mình rồi nuôi sống vợ con ổng luôn chứ không phải một mình vợ con ổng không đâu.
Rồi những người trong tàu, những gia đình khác họ thấy như vậy, lúc đầu thì họ cũng chửi rủa, phản đối dữ lắm, tại vì họ nói tàn nhẫn, vô nhân đạo, thế này thế nọ tùm lum hết.
Nhưng mà qua một đêm như vậy, sáng ra thì họ ăn căp hết trơn, tức là người của ổng chỉ còn là bộ xương thôi. Người ta chửi thì vẫn chửi nhưng người ta ăn cắp thì người ta vẫn ăn cắp thịt của ổng để người ta ăn.
Thanh Quang : Ăn sống như vậy?
Chị Kim Chi :  Thì đó là cái ý tưởng đầu tiên của ổng đó.
Thanh Quang : Rồi sau đó những người khác tiếp tục, sắp hấp hối rồi chết đi thì những người sống còn lại cũng lóc thịt họ ăn?
Chị Kim Chi :  Thì những người đó, nói chung là gia đình nào thì ăn thân nhân gia đình đó. Không phải là mình được ăn tùm lum đâu, tại vì không phải là ai cũng ăn được đâu. Đa số những người mà họ chết trong gia đình thì họ mới được quyền dành xác đó mà ăn thôi chớ không phải mạnh ai mà nấy ăn đâu. Hổng phải người ta chết mà mình đè ra mà ăn đâu.
Thanh Quang : Thế thì những người trong gia đình không có người chết đói thì làm sao họ sống ?
Chị Kim Chi :  Thì họ xin. Có nhiều phương pháp lắm: xin, ăn cắp. Tại vì xác chết đâu phải như miếng đồ ăn mà cất vô tủ mà xác chết chỉ nằm ở đó, sau một đêm nhiều khi mình ngủ dậy thì họ ăn cắp hết rồi.
Thanh Quang : Thưa chị, lúc lóc thịt đó như vậy thì họ có nấu nướng gì không?
Chị Kim Chi : Lúc đó họ bắt dầu nạy gỗ tàu lên làm củi nấu chứ.
Thanh Quang : Dạ.
Chị Kim Chi : Những sàn gỗ của thân tàu thì họ bắt đầu dùng cái đó để nấu nướng, nhưng mà riết rồi cũng không còn nữa, tại vì nếu mà họ cứ nấu thì không còn chỗ nằm, với lại một phần nữa là thời gian hình như cuối cùng nếu không lầm thì giống như sống đánh cũng nhiều thành ra mất lửa. Không có lửa nên trong một khoảng thời gian có người họ ăn sống.
Thanh Quang : Dạ.
Chị Kim Chi : Rồi sau đó có tàu đến cứu kịp. Nói chung tình trạng đó kéo dài khoảng mười mấy ngày như vậy thì về sau có tàu đến rước mới thôi.
Thanh Quang : Khi có tàu đến rước thì số người trên tàu còn 34 người như chị nói hồi nãy, phải không?
Chị Kim Chi : Không. Không. Lúc đó còn 64 người, nhưng mà tại vì xui là gặp tàu đánh cá Đài Loan nó thuộc dân tham lam, tức là khi nó gặp người còn sống thì nó rước nhưng với điều kiện là nó bắt phải nộp tiền cho nó. Một đầu người là 7 chỉ vàng thì nó mới rước.
Mọi người đồng ý đóng tiền cho nó. Đến lúc đóng xong thì nó mới nảy ra lòng tham. Hầu như nó cảm thấy người Việt mình giàu, có tiền, nên nó mới nảy ra ý định thay vì trên con đường về từ cái đảo chìm này cho tới đất liền là khoảng 3 ngày thôi nhưng nó kéo dài ra tới 17 ngày bằng cách là nó cho tiếng máy tàu chạy giống như mình tưởng là tàu đang chạy mà thực sự tàu đứng tại chỗ.
Trong vòng 17 ngày như vậy người ta bắt đầu đói rồi người ta chết từ từ. Nó cũng không cho ăn. Nó tàn nhẫn lắm tại vì nó nghĩ là mình có tiền, thành ra những ai muốn ăn thì phải trả tiền cho nó. Nó cũng có một bữa cơm chính thức, tức là bữa đó nó cho ăn cháo. Ăn cháo nhưng mà cháo trắng thôi, không có muối, không có thịt, không có nước mắm, không có gì hết.
Nhưng mà nếu ai muốn thêm một cái gì thì phải bỏ tiền ra, thành ra nó kiếm tiền qua cái lợi nhuận đó. Rồi đến lúc nó cảm thấy người ta kiệt quệ không còn tiền và cũng không còn sức nữa, hầu như nó cũng không quết định cho mình về đất liền, tại vì lúc đó có thể nó tính ém luôn chuyện đó, nó cho người ta chết từ từ để nó khỏi đưa về.
Nhưng mà xui hôm đó tàu bị nổ tại vì gas bị xì làm nổ cả tàu và tàu bốc cháy thì cũng làm cháy  nhiều người lắm. Họ bị phỏng nặng và lúc đó tàu bị chìm xuống, nước vô.
Tất cả tai nạn đó xảy ra cũng một lúc trong vòng tích tắc, tức là vừa bị cháy vừa bị chìm, thế là ông thuyền trưởng sợ quá nên lúc đó ổng mới đánh điện về trong đất liền để xin viện trợ hay là xin đưa người vô mà mình không hiểu nữa. Thì lúc đó Đài Loan mới chấp nhận cho vô đất liền.
Về tới Đài Trung thì cảnh sát ra, rồi xe cứu hoả, xe cứu thương ra tùm lum hết. Tại vì lúc đó mấy người chết vì bị phỏng nặng quá thì nó mới đêm vô bệnh viện.
Lúc đó cảnh sát mới bắt đầu điều tra và họ nói là khi chủ tàu đánh điện tín gì đó kêu là 64 người mà tại sao bây giờ còn 34 người, thì lúc đó họ mới bắt đầu điều tra ổng, bắt ổng ở tù, tại vì lúc đó họ nghi ngờ.
Trong tình trạng nửa sống nửa chết nên không có ai tố cáo cũng chẳng có ai thưa kiện, tất cả nằm trong bệnh viện hết. Được vô nằm trong bệnh viện trong gần 2 tháng trời, lúc ra viện thì mới về trại tị nạn, lúc đó thì phái đoàn Mỹ mới xuống để điều tra.
Vì có tuyên thệ để đi Mỹ nên họ mới bắt đầu điều tra thì họ mới bắt đầu biết, từ cái chi tiết lúc đó mới lòi ra chuyện ăn thịt người.

  http://thaibatan.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1055&Itemid=53

đau đớn quá ! Đừng bao giờ lập lại...

2011/9/25 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/09/thu-cam-on-cua-48-hoc-sinh-tu-fukushima.html

Thưa các bạn gần xa

Thế là bạn Lê Châu Anh ở Tokyo đã dịch xong 48 bức thư cảm ơn học sinh trường trần Quốc Thảo về 2000 con hạc giấy...xin chuyển đến các bạn đọc cho vui. Nhân đây xin chân thành cảm ơn bạn Lê Châu  Anh rất nhiều.
Chắc chắn những bức thư này sẽ chuyển đến để các thầy cô trường TQT để đọc cho các cháu nghe...và sẽ là tư liệu được lưu lại trong truyền thống nhà trường.

kính
NLG
2011/9/25 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
"Thế giới vinh danh GS Hoàng Tụy":

2011/9/25 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/09/cuoc-noi-chuyen-cua-tien-si-nguyen-nha.html

kính
NLG

2011/9/24 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/09/gioi-vinh-danh-gs-hoang-tuy.html

2011/9/24 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
Ít ra thì giới báo chí cũng còn liêm sĩ!

http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/09/bang-tien-sy-cua-thu-truong-bo-y-te-cao.html?showComment=1316824973706#c1717982692201265906

chúc các bạn ngày cuối tuân an bình--xin chờ thêm khoảng 1 tiếng sẽ có bản điểm tin mới nhất....

NLG

2011/9/23 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
mời cả làng đọc qua cụm tin này:

http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/09/oc-cuoi-tuan-chung-ta-ang-song-trong.html?showComment=1316795800461#c8791782807080040054



2011/9/22 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
TS Lê Đăng Doanh cho biết tin vui: GS Hoàng Tụy vừa được trao tặng Giải thưởng Constantin Caratheodory của Hội Quốc tế Tối ưu hóa Toàn cục (the International Society of Global Optimization).

http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/09/gs-hoang-tuy-nguoi-khai-sinh-ly-thuyet.html

NLG

2011/9/21 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
xin giới thiệu 2 bài viết mới post chiều nay:

PHẢN BIỆN QUAN ĐIỂM CỦA YU XIANG DONG (VU HƯỚNG ĐÔ...
Vĩnh cửu trong lòng người




http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/09/vinh-cuu-trong-long-nguoi.html

2011/9/21 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/09/bao-ve-chinh-tri-noi-bo-hay-bao-ve-loi.html

tác giả bài viết nầy chỉ có lí ở phân tích học vị của ông CMQ nhưng đi quá xa trong vấn đề an ninh bla bla ? Đúng là ngành Dược VN đang bị nhiều thế lực dược trong và ngoài nước lũng đoạn ghê gớm, đã hình thành các phe nhóm lợi ích và anh Quang cũng đã ở trong vòng xoáy đó...nhưng hãy chờ bộ y tế và các ngành liên quan điều tra kết luận ra sao, theo NLG bị tình nghi chưa xét xử phân minh thì chưa phải là "tội đồ" để mặc sức phỉ báng mà giới báo chị đã liên tục xúc phạm như hiện nay. Có gì đằng sau ? một sự trả thù của mafia ngành dược(bọn đầu nậu buôn thuốc)?



2011/9/20 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/09/2000-hac-giay-cua-hoc-sinh-tran-quoc.html?showComment=1316534956854#c6223172190935409241

đã dịch 4 bức thư cảm ơn của các cháu HS ở FUKUSHIMA trong số 48 bức ! xin mời vào xem, "mối ân tình" như cựu thủ tướng Naoto Kan nói.

NLG

2011/9/20 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>

2000 hạc giấy của học sinh Trần Quốc Thảo(Q.3, TPHCM) đã đến trường tiểu học ở Fukushima

NLG

2011/9/20 Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/09/bac-to-hai-iem-bao-trong-nuoc-cang-tieu.html

bình lựng: 

Bác Tô Hải nầy thâm thúy quá ! Điểm báo quá hay, đoạn  nói về thứ trưởng CMQ, rồi liên hệ đến vụ trước đây đã có 8000 Phó TS qua 1 đêm bỗng dưng nhà nước cho thành TS ngon ơ mà có ai "la làng" đâu ! Cho nên TS-đệ tam cấp(Licensiate)==> TS KH như ông Quang đã viết trên danh thiếp(có thứ trưởng Bộ GD, Cục khảo thí và Ban Cán sự Đảng Bộ Y tế đồng ý) thì có gì đáng phải bêu rếu đến mức như vậy ?
Những việc xấu khác của ông Quang thì cứ làm tới đi, thanh tra cho đủ, khg bỏ sót nhưng chớ qui tội người khác trước khi "trắng đen" được chứng minh. Quan tòa còn phải làm thế huống chi là nhà báo, không thể ngồi xổm lên luật pháp để vu cáo công dân như một số báo đang làm!











----- Forwarded Message -----
From: Hong Le Tho <hongletho@gmail.com>
To: nguoilotgach_group <nguoilotgach_group@googlegroups.com>
Cc: 
Subject: Re: Câu chuyện khg thể kể lại! đau đớn quá...


27/09 VPL: Phát triển thành phố Xanh đã mua 9 triệu cổ phiếu



Giao dịch dự kiến thực hiện từ 27/7 đến 27/9/2011.
Công ty Cổ phần VINPEARL (VPL) báo cáo kết quả giao dịch cổ phiếu của tổ chức có liên quan đến cổ đông nội bộ như sau:
Tên nhà đầu tư thực hiện giao dịch: CTCP Phát triển thành phố Xanh là công ty liên kết của VPL và là công ty có ông Nguyễn Trọng Hiền làm Chủ tịch HĐQT đồng thời cũng là Chủ tịch HĐQT của VPL
Số lượng cổ phiếu nắm giữ trước khi giao dịch: 0 đơn vị tương đương tỷ lệ 0%
Số lượng cổ phiếu đã đăng ký mua: 10 triệu cổ phiếu
Số lượng cổ phiếu đã thực hiện mua: 9.004.539 đơn vị
Số lượng cổ phiếu dự kiến nắm giữ sau giao dịch: 9.004.539 đơn vị tương đương tỷ lệ 4,38%
Giao dịch dự kiến thực hiện từ 27/7 đến 27/9/2011.
Lộc Anh
Theo TTVN/HoSE

27/09 Khởi động khoản vay 40 triệu USD dự án tuyến metro số 2



Ảnh minh họa
Chiều 26-9, Ban Quản lý đường sắt đô thị TPHCM cùng các sở ngành làm việc với phái đoàn của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) khởi động khoản vay 40 triệu USD (đợt 1) với dự án tuyến metro số 2.
Ông Nguyễn Minh Quốc, Phó Trưởng ban Quản lý đường sắt đô thị TPHCM, cho biết, tuyến metro số 2 có tổng vốn đầu tư gần 1,4 tỷ USD, từ nguồn vốn vay ODA của ADB, Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW), Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và vốn đối ứng của Việt Nam. Dự án sẽ được thực hiện trong thời gian từ nay đến năm 2016.

Trong cơ cấu vốn đầu tư, phần vốn vay ADB (540 triệu USD) được dùng cho xây lắp, depot, tư vấn, chi phí tài chính, dự phòng phí. EIB tài trợ 150 triệu EUR (tương đương 195 triệu USD) để xây lắp, thiết bị, depot... Vốn tài trợ của KfW 240,75 triệu EUR (tương đương 313 triệu USD) phục vụ gói thầu đầu máy toa xe, thiết bị, tư vấn, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Phía Việt Nam sẽ thu xếp 326,5 triệu USD vốn đối ứng cho giải phóng mặt bằng và tái định cư, chi phí quản lý dự án, tư vấn...

Theo thiết kế, tuyến metro số 2 có chiều dài 11,3km, trong đó có 9,3km chạy ngầm và 2km kết nối từ đường ngầm lên mặt đất, bao gồm 10 ga ngầm và 1 ga trên cao, được thiết kế theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuyến metro này sẽ vận chuyển 140.000 lượt hành khách/ngày trong năm đầu tiên, với giá vé dự kiến 3.000 đồng/lượt.

Theo Q.Hùng
SGGP

26/09 Quán Phở Ta của "đệ nhị phu nhân" Đặng Tuyết Mai


Tuy "sinh sau đẻ muộn" nhưng Phở Ta thu hút rất đông "tín đồ phở giáo" không chỉ vì phở nơi đây hội tụ "tinh hoa phở Việt", mà còn vì chủ nhân của nó là một người rất nổi tiếng: Bà Đặng Tuyết Mai.

Ngày 9/9/2009, "Nhà hàng Phở Ta by Đặng Tuyết Mai" chính thức khai trương tại số 12 - 14 Lê Quý Đôn, quận 3, TPHCM.

Gọi bà Đặng Tuyết Mai là "đệ nhị phu nhân" đúng cả nhiều nghĩa: Thứ nhất, bà là phu nhân nhân vật số hai của nền "Đệ nhị cộng hòa" - Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ. Thứ hai, bà đến với Nguyễn Cao Kỳ khi ông đã có một đời vợ.

Vị tướng hào hoa và cô hoa khôi Sài Gòn

Xuất thân trong một gia đình gia giáo ở Bắc Ninh, thời thơ ấu Đặng Tuyết Mai sống ở Hà Nội. Năm 1953, cô theo bố mẹ vào Nam, định cư ở Đà Lạt, học tại trường Yersin Đà Lạt. Được dạy dỗ cẩn thận, cô gái xinh đẹp Tuyết Mai học rất giỏi, thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp.

Về Sài Gòn, Đặng Tuyết Mai được xem là hoa khôi của đất Sài Thành. Qua những đợt thi tuyển gắt gao từ ngoại hình, ngoại ngữ đến kiến thức xã hội, Đặng Tuyết Mai cùng ba cô gái khác xuất sắc trúng tuyển trở thành 4 chiêu đãi viên đầu tiên của Hãng Hàng không Airline Việt Nam.

Đặng Tuyết Mai gặp tướng Nguyễn Cao Kỳ trên chuyến bay từ Manila về Việt Nam. Ba tuần sau, có lệnh yêu cầu đặc biệt Đặng Tuyết Mai đi phục vụ chuyến bay phục vụ đoàn sĩ quan cao cấp Không quân sang Bangkok (Thái Lan). Trưởng phái đoàn Việt Nam không ai khác: Tư lệnh Không quân Nguyễn Cao Kỳ.

Sau lần gặp gỡ định mệnh ấy, đôi trai tài gái sắc càng gắn bó với nhau hơn. "Tướng râu kẽm" còn dùng máy bay trực thăng riêng đậu trên sân thượng khách sạn Carvelle để tỏ tình, cầu hôn Tuyết Mai, rồi đưa cô đi ăn tối ở Singapore, ăn sáng ở Đà Lạt...

Trở thành mệnh phụ phu nhân

Tháng 11/1964, lễ cưới Nguyễn Cao Kỳ và Đặng Tuyết Mai được tổ chức đình đám tại nhà hàng Caravelle - Sài Gòn. Trở thành "đệ nhị phu nhân", Tuyết Mai cảm thấy ngại ngùng vì đi đâu cũng có người bẩm bà xưng em. Cô phải tự điều chỉnh cách cư xử, nói năng để phù hợp với vị thế mới, cố gắng thu thập kiến thức bằng cách đọc đủ các loại sách tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh.


"Nhà tôi ở khi ấy có đến bốn đầu bếp. Người chuyên nấu món Tây, người chuyên nếu món Bắc, người nấu món Nam, người chuyên làm món nhắm. Không phải động tay vào việc nhưng tôi luôn để ý và quán xuyến trong ngoài. Tôi quan sát cách họ nấu ăn và học theo. Tôi làm tất cả chỉ để những khi mời bạn bè đến nhà, chồng tôi có thể tự hào khoe: "Món này do vợ tôi làm đấy". 

Những dịp chu du khắp nơi và thưởng thức các món ngon vật lạ tôi cũng chịu khó quan sát và tự mình thử nghiệm tại nhà. Cứ thế bao nhiêu năm, tôi dần thích nấu ăn lúc nào không biết. Khi nấu một món mới, hình dung gương mặt rạng ngời và hài lòng của chồng con, tôi lại thấy hạnh phúc khó tả".

Ngày 30/6/1969, cô con gái Nguyễn Cao Kỳ Duyên ra đời khiến cho bà mẹ trẻ Tuyết Mai càng thêm say với men hạnh phúc.

Ngày 30/4/1975, lực lượng Quân giải phóng đã chiếm lĩnh Dinh Độc Lập, chế độ "Đệ nhị cộng hòa" sụp đổ hoàn toàn. Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã thu xếp cho gia đình di tản và định cư tại Mỹ. Biến cố xảy ra khi "tướng râu kẽm" hào hoa ngày trước vẫn chứng nào tật nấy, vẫn lăng nhăng "mê phở hơn cơm"...

Điều này khiến cho một người được giáo dục nề nếp, luôn giữ "tam tòng tứ đức" như Đặng Tuyết Mai cảm thấy bị xúc phạm và không thể chấp nhận được. Và thế là sau 25 năm chăn gối mặn nồng, cuộc hôn nhân từng làm nóng cả Sài Thành ngày nào giờ đã chấm dứt trên đất Mỹ. Nguyễn Cao Kỳ đã kết hôn với người vợ thứ ba, bà Lê Kim (Kim Nicole), sau một lần gặp gỡ ở Bangkok, Thái Lan.

Về quê nhà, mở "Phở Ta"

Sau mấy chục năm sống ẩn dật trên đất Mỹ, năm 1998, Đặng Tuyết Mai trở về Việt Nam lần đầu tiên. "Lúc máy bay sắp đáp xuống đường băng, tôi thấy sống mũi cay cay và nước mắt cứ thế rơi ướt đẫm gò má. Khi ấy, tôi nhận ra đây chính là quê hương của mình", bà Mai hồi tưởng.


Những lần trở về sau đó, bà đã chọn TPHCM như một điểm tựa để an dưỡng và kinh doanh - công việc mà một mệnh phụ như bà chưa từng trải qua. Suy đi tính lại, Tuyết Mai quyết định chọn món quốc hồn là phở làm "đối tượng" kinh doanh do chính bà đứng bếp vì bà nấu phở rất ngon, thường thết đãi món này cho những người bạn của Nguyễn Cao Kỳ Duyên ở Mỹ thưởng thức. Bà Tuyết Mai cho rằng: Trong tất cả các món ăn của Việt Nam, món phở có thể "dụ" người ta đến với mình hấp dẫn nhất. Mở quán cũng là để tạo nơi cho mọi người gần gũi nhau hơn.

Theo đánh giá của nhiều thực khách sành ăn, "Phở Ta" đích thực là... phở ngon. Ngay hôm khai trương, sau khi thưởng thức, Giáng My - Hoa hậu đất tổ Hùng Vương nhận xét: "Nước phở rất chất lượng, khi ăn không thấy mùi vị bột ngọt. Không chỉ Giáng My đâu, mà ai cũng khen ngon lắm. Nước dùng của Phở Ta do được chắt lọc từ nước hầm xương trong nhiều giờ liền, sau đó cho vào kho đông để gạt lớp mỡ bên trên nên hương vị rất đậm đà nhưng không béo ngậy".

Bà Đặng Tuyết Mai triết lý rằng: "Phở là món bình dân, nhưng nấu cho ngon không phải dễ. Nếu có những nguyên liệu sang như yến, vi cá... muốn cho vào cũng không được. Phở chỉ nấu từ xương, thịt bò và các gia vị truyền thống. Phở tinh khiết chất lượng cao không ăn gian bột ngọt, thơm ngon, trình bày đẹp. Bát phở phải nóng, bánh nở vừa, nước trong màu hổ phách. Đời buồn như bát phở không hành, nhất định phải có nhiều hành". 

Bà cho biết, bí quyết để nấu không quan trọng bằng thành tâm nấu một nồi phở thật ngon. Ai cũng biết nấu phở, ai cũng biết để vào hồi, thảo quả... nhưng không phải phở nào cũng ngon. "Tướng râu kẽm" Nguyễn Cao Kỳ cũng từng rất mê món phở bà nấu, nhưng rồi hương vị ấy không còn đủ sức níu kéo...

Phở Bắc chỉ có bánh, thịt, nước và hành. Phở Mai ngoài bát phở còn có thêm các đồ gia vị như rau thơm, tương, ớt... để ở ngoài khách tự cho vào theo nhu cầu. Những đĩa rau được phủ kín bằng những bao nilon mỏng trong suốt để đảm bảo vệ sinh an toàn cho thực khách. Phở Mai còn đặc biệt ở chỗ chỉ trong một tô phở thập cẩm có tất cả các loại thịt bò mà người ta làm phở gồm: Tái, nạm, gầu, bắp...

Theo Thiên Tường
Bee.net