Thursday, May 27, 2010

26/05 “Đến Việt Nam thì gặp Lợi nhé!”


Thứ Tư, 26/05/2010, 07:14 (GMT+7)
TT - Ngày ngồi bán chè lề đường, tối học tiếng Nhật, khuya lên mạng gặp gỡ bè bạn khắp năm châu. Suốt tám năm qua, Lê Phương Nhật Lợi đã âm thầm giới thiệu không chỉ món chè mình nấu mà cả danh lam thắng cảnh, các giá trị văn hóa lẫn tinh thần tốt đẹp của người VN ra ngoài biên giới.

Chị Lê Phương Nhật Lợi và Taka, sinh viên năm 1 khoa Việt Nam học, ĐH Khoa học, xã hội và nhân văn TP.HCM - Ảnh: Mễ Thuận
Một trưa tháng 5, có nhóm người tụ lại bên gốc cây phía đối diện cổng Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM. Giữa vòng vây ấy là chị bán chè tên Lợi đang liến thoắng thuyết minh cho hai cậu sinh viên Nhật Bản tên Taka và Yama hiểu về cách chế biến các món chè truyền thống VN. Nghe Lợi nói, Taka phải thán phục thốt lên bằng thứ tiếng Việt lơ lớ mới học được: “Cô ấy nói tiếng Nhật giỏi quá!”. Còn Yama thì không ngớt quay những thước phim về chị bán chè đặc biệt này.
Từ một tình bạn
"Dù chỉ là người bán chè lề đường nhưng tôi muốn góp phần gửi gắm một thông điệp về đất nước VN hiền hòa, thật đẹp, thật hiếu khách đến bạn bè thế giới"
Lê Phương Nhật Lợi
Những câu chuyện quanh nồi chè lề đường như thế của Lợi đã trở nên quen thuộc từ lâu lắm trước cổng Trường ĐH KHXH&NV. Nhiều sinh viên và giảng viên khi đi ngang quầy chè của Lợi đã phải ngạc nhiên hỏi tới: “Ai phụ Lợi bán chè thế? Sao lại có người phụ việc xinh đẹp thế?”. Lợi nhanh nhảu: ““Học trò” tôi đó. Em ấy là phóng viên truyền hình Nhật Bản, không xinh mới lạ!”. Lần khác, người ngồi với Lợi lại là một cô thạc sĩ, một chàng nghiên cứu sinh... hoặc một người nước ngoài du lịch đến VN.
Chuyện tưởng khó tin ấy bắt nguồn từ việc Lợi có một cô bạn người Nhật vô cùng thân thiết tên Momoko Kozu. Họ kết bạn cũng thật ly kỳ: Năm 2002, Momoko du lịch đến TP.HCM và đánh rơi chiếc bóp bên hông Nhà hát TP. Đang bồng con nhỏ mới 1 tuổi đến chơi ở đó, Lợi nhặt được và tìm trả bóp cho Momoko. “Điều này trái ngược với lời của thầy tôi cảnh báo rằng ở VN không mấy ai đáng tin, nhất là những người gặp ở ngoài đường” - Momoko nói. Hai năm sau, Momoko quyết định trở lại VN thực tập, cô lần theo địa chỉ được Lợi ghi vào sổ tay năm nào để tìm đến nhà.
“Khi nhận ra nhau thì tình bạn giữa chúng tôi nhanh chóng trở nên thân thiết. Bởi hai chúng tôi rất giống nhau: giống nhau cười, giống nhau nói và giống nhau vô tư trong suy nghĩ” - Momoko mô tả về Lợi và mình bằng tình cảm và cách phát âm hồn nhiên. Từ đó về sau, Momoko luôn giới thiệu với bạn bè: “Đến VN thì gặp Lợi nhé! Các cậu có thể nhờ cậy Lợi mọi chuyện”. Đúng như lời Momoko, tất cả những ai tìm đến Lợi đều được chị vô tư giúp mọi chuyện: dạy tiếng Việt, dẫn đi chợ mua sắm để không bị “cắt cổ”... và nhất là làm hướng dẫn viên du lịch kiêm thiết kế tour theo dạng “homestay” (hình thức du lịch mà khách tham quan đến ở tại nhà người dân).
Chị bán chè quê gốc Quảng Ngãi này giải thích thêm rằng từ nhỏ vốn rất khát khao trở thành một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp, ước mơ được giới thiệu những danh lam thắng cảnh, các giá trị văn hóa lẫn tinh thần tốt đẹp của người VN với bạn bè trên thế giới. Nhưng do gia cảnh nghèo khó, Lợi phải tự kiếm sống từ năm 13 tuổi, bỏ dở việc học từ năm lớp 10. Vậy nên khi Momoko giới thiệu Lợi quen các sinh viên, nghiên cứu sinh, tình nguyện viên đến từ Nhật là Lợi mừng lắm, luôn sẵn sàng sắm vai một hướng dẫn viên du lịch. “Vừa giúp bạn vừa thỏa đam mê của mình mà!” - Lợi thật thà.
Vậy là từ câu chuyện quanh nồi chè, những chuyến đi Hội An, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Thuận... cứ thế được ra đời theo hình thức homestay (thông qua những bạn bè mà Lợi quen biết). Có bạn về Nhật rồi viết lên blog cá nhân trên trang Mixi.jp rằng: “Quảng Ngãi, Bình Thuận chính là những vùng quê nghèo khó nhất VN nhưng con người ở đó vô cùng hiền hòa dễ mến”.
Đọc những trang viết như thế, lúc trước tuy mới mày mò học tiếng Nhật nhưng Lợi cũng cố gắng nhờ bạn lập một tài khoản để có thể “nhảy” vào sửa lưng: “Quảng Ngãi và Bình Thuận chưa phải là vùng quê nghèo khó nhất đâu. Ở trên Tây Bắc hoặc Tây nguyên còn có nhiều người khó khăn hơn nhiều. Những con người ở đó cũng dễ thương lắm”.
Tám năm quen Momoko và nhiều bạn Nhật khác, thêm hai năm chính thức theo học tiếng Nhật để có thể mỗi đêm lên mạng Mixi.jp giao lưu với những người bạn dùng tiếng Nhật từ khắp năm châu một cách thành thạo hơn, Lợi không nhớ đã quen bao nhiêu bạn bè dùng tiếng Nhật. Chỉ nhớ rằng cô cậu Nhật nào tìm đến với mình, Lợi cũng luôn tranh thủ thời gian dẫn các bạn đi chợ, đi ăn, đi dạo phố... để họ cảm nhận và hòa nhập được với lối sống của người Việt để họ thêm quý, thêm yêu VN hơn.
Cứ thế, những tiết học thực tế sinh động đã giúp các bạn sinh viên Nhật có được vốn từ vựng phong phú đến mức có bạn chỉ sau ba tháng gắn bó với Lợi, lúc trở lại trường họ đã có thể thi đỗ bằng B tiếng Việt. Và lời căn dặn “đến VN thì gặp Lợi nhé!” vì thế cứ được các du học sinh Nhật truyền tai nhau.
Lợi (hàng đầu, bìa phải) là bạn thân thiết của các sinh viên, tình nguyện viên Nhật - Ảnh nhân vật cung cấp
Đến nhiều tình bạn mới...
Có lần Momoko bị một người định cướp túi xách trong hầm giữ xe tại một trung tâm mua sắm lớn ở Q.1.
“Momoko kịp gọi điện và lúc tôi lao vào thì gã kia banh áo lao ra theo kiểu vừa ăn cướp vừa la làng. Momoko khóc nức nở, đòi tôi phải đặt vé máy bay cho cô về Nhật ngay trong ngày, dù kỳ thực tập của cô chưa kết thúc - Lợi dừng câu chuyện lại một lúc và nói - Lần đó tôi mà không kiên nhẫn giải thích rằng đó chỉ là tai nạn nhỏ, rằng không nên vì gặp vài ba người xấu mà đánh đồng mọi người Việt đều xấu... thì chắc chắn Momoko sẽ hoàn toàn đánh mất niềm tin, một đi không quay lại”.
Một lần khác, khi các bạn Nhật trong thời gian làm tình nguyện, đi thực tập tại các vùng quê xa lạ ở miền Bắc đã gặp phải những gia đình không trung thực, không giúp đỡ, ngược lại còn hành xử không tốt với các tình nguyện viên. Những lúc như thế Lợi lại trở thành sứ giả, giúp các bạn Nhật khôi phục niềm tin và tình cảm. “Ở đâu cũng có người tốt và xấu, VN cũng thế. Mình làm việc tốt thì trước sau mọi người cũng hiểu và ngược lại sẽ giúp đỡ mình thôi. Đừng bỏ cuộc” - chị nói với họ.
Cứ thế, tình yêu đất nước và muốn những người bạn Nhật hiểu đúng về VN đã níu Lợi và gánh chè của mình làm cầu nối cho các bạn Nhật mới chân ướt chân ráo đến VN. “Tôi không muốn họ gặp phải tai nạn, bất trắc chỉ vì lạ nước lạ cái, bất đồng ngôn ngữ. Như thế thật tội nghiệp cho họ mà cũng khiến họ nghĩ xấu về VN” - Lợi giải thích cho sự đa đoan của mình. Lợi nói chị đọc điều này của ông bộ trưởng ngành du lịch của Nhật và rất tâm đắc. Đại ý ông nói muốn làm du lịch tốt thì trước nhất phải là một người yêu nước, yêu quê hương mình.
Ở Nhật, những câu chuyện về việc Lợi giúp đỡ các sinh viên, du khách Nhật được truyền tai khiến ngày càng nhiều bạn đến VN kết bạn với Lợi. Riêng lớp học của Momoko ở Trường ĐH APU có đến hơn nửa lớp đã đến VN thực hiện các chương trình tình nguyện, thực tập thay vì đến châu Phi như dự kiến ban đầu.
Hiện nay có thể kể như Yuki và Nanako - những cô gái từng được Lợi “cưng” như em gái, đang làm việc cho một trung tâm nuôi dạy trẻ em mồ côi ở Đồng Nai từ hơn một năm nay. Nhóm bạn Nhật khác đang dự định mở các lớp học dạy làm gốm miễn phí cho các trẻ em lang thang. Riêng Momoko đang lên một kế hoạch quay lại VN trong năm tới để bắt đầu chương trình xây nhà vệ sinh cho trẻ em vùng cao.
“Chúng tôi làm điều này vì hiểu và yêu VN hơn thông qua chị bạn bán chè lề đường dễ thương này” - họ bảo vậy.
Và căn phòng trọ nhỏ của gia đình Lợi (nằm trong hẻm trên đường Điện Biên Phủ, Q.Bình Thạnh) luôn là địa chỉ quen thuộc được nhiều thế hệ sinh viên, tình nguyện viên Nhật lui tới, ăn ở và học tập như thể đó là ngôi nhà thứ hai của họ ở VN.
Lên mạng xã hội Nhật quảng bá văn hóa Việt
Từ tài khoản cá nhân trên mạng xã hội Mixi.jp, mỗi ngày Lợi đều lên đó đăng tải hình ảnh, bài viết giới thiệu bằng tiếng Nhật về món chè, các điểm đến du lịch, kiến trúc nhà cửa và văn hóa ứng xử, cả các nghi thức lễ cưới... của người VN.
Nhiều người bạn Nhật Bản và du học sinh nước ngoài đọc được những bài viết thú vị của Lợi về VN. Nhiều người trong số họ nung nấu mong muốn tìm hiểu về VN và đã quyết định đến VN.
MỄ THUẬN - KIM TUYẾN


Việt nam cần nhiều "đại sứ nhiều những đại xứ du lịch"
16/04/2011 2:36:14 CH
Y1 tưởng của mình đã có từ lâu nhưng chưa thực hiện được nay Lợi đã làm mình rất vui và hãnh diện. Mình muốn cùng Lợi làm một điều gì đó để hình ảnh Việt Nam thật đẹp trong lòng bạn bè quốc tế. Lợi cho mình xin email của bạn!
HOANGHIEP
chi Lợi thật tuyệt
30/12/2010 12:18:15 CH
Thật tuyệt quá vì em có thêm được 1 chị đồng hương tốt bụng. Chúc gia đình chị khoẻ và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống nhé và có thật nhiều bạn bè phương xa yêu mến.
TUYEN
Việt Nam cần có những người như chị
28/11/2010 6:10:49 CH
Những việc chị làm, những tình bạn chỉ đã xây dựng, thật sự là những vốn quý của cuộc đời này. Việt Nam cần thêm nhiều phẩm chất đẹp như chị để góp phần xây dựng thế giới tươi đẹp.
LONG NGUYỄN
Việc chị làm thật có ý nghĩa!
26/05/2010 8:16:37 CH
Dù hoàn cảnh không thể tiếp tục theo đuổi mơ ước của mình nhưng không vì thế mà chị từ bỏ nó. Em rất khâm phục chị! Đất nước mình cần lắm lắm những con người yêu nước và tự hào về dân tộc như chị. Việc chị làm thật đáng trân trọng biết bao.
LÊ HÙNG
Tôi rất ngưỡng mộ em Lợi, muốn được làm quen
26/05/2010 2:31:44 CH
Tôi đã đọc bài về em Lợi, rất mong được làm quen với em để có thể cùng em làm 1 việc gì đó để quảng bá văn hóa Việt Nam. Nếu được em cho tôi địa chỉ mail để liên lạc nhé!
HANH.NGUYEN1951@YAHOO.COM.VN
Tôi muốn kết bạn với Lợi
26/05/2010 11:46:46 SA
Toà soạn làm ơn cho Hải xin địa chỉ mail của lợi hay địa chỉ cụ thể, mình muốn nói chuyện với cô ấy.
BÙI THỊ THUÝ HẢI
Tôi tự hào về chị
26/05/2010 10:21:44 SA
Cảm ơn chị Lợi! Có lẽ bằng một niềm tự tôn dân tộc lớn lao, chị mới làm được điều tuyệt vời như vậy. Tôi tự hào về chị, nếu tới TP HCM tôi sẽ gặp chị.
TRƯƠNG HUY

Monday, May 24, 2010

24/05 Người phụ nữ Đức sống với di sản Huế


Thứ Hai, 24/05/2010, 07:59 (GMT+7)
TT - Andrea TeufeL - thạc sĩ phục chế, giám đốc dự án bảo tồn, trùng tu và đào tạo Đức (GCREP) tại VN - đã dành bảy năm trời đi về VN, Đức và sinh sống hẳn tại Huế để làm việc cho các công trình mà bà theo đuổi.
Bà Andrea Teufel - Ảnh: l.p.
“Tôi lớn lên ở Postdam, một TP cũng từng là kinh đô cũ như Huế, cũng nhỏ và bình yên. Postdam tĩnh lặng. Huế cũng tĩnh lặng. Suốt cả tuổi thơ của mình, tôi luôn mơ sẽ làm một nghề ở giữa những công trình, di tích xưa cũ như bây giờ”. Andrea Teufel đã chọn Huế làm điểm dừng chân của sự nghiệp phục chế và bảo tồn các di tích trong suốt bảy năm qua chỉ vì một lý do giản dị và rất “phụ nữ” như thế.
Dự án GCREP được khởi động từ năm 2003 với công trình đầu tiên là cung An Định, di sản kiến trúc mang màu sắc phương Tây trên nền truyền thống VN. Song song với hỗ trợ bảo tồn các di sản kiến trúc, GCREP còn hỗ trợ VN đào tạo những chuyên gia đầu tiên về bảo tồn và phục chế một cách bài bản, kỹ thuật. Sau dự án cung An Định (hai giai đoạn, kéo dài năm năm), GCREP đã đào tạo 15 chuyên gia người Việt. Năm người trong nhóm tiếp tục phục chế tại lăng Tự Đức. Hai người của nhóm cùng với giám đốc dự án Andrea Teufel tiếp tục tham gia công trình phục chế đình làng cổ Trần Đăng ở Hà Nội. Dự án được “Chương trình bảo tồn văn hóa” của Bộ Ngoại giao CHLB Đức tài trợ và tiến hành.
Một “người lạ” nâng niu di sản Huế
Khi dự án GCREP của Đại sứ quán Đức tại VN bắt đầu, Andrea đã được chọn để đến với kinh đô ngủ yên ở miền Trung VN này. Bà nhớ lại: “Ngay khi người ta giới thiệu về công việc ở VN, tôi đã xung phong và đồng ý tới đây. Ở Đức có khá nhiều người VN sống từ rất lâu rồi. Tôi nghĩ có thể nơi này sẽ rất hay. Lúc đó tôi không chọn dự án ở Thái Lan vì Thái Lan có vẻ Tây quá. VN cái màu châu Á đậm hơn thì phải”.
Trước mắt Andrea khi đó là sáu bức tranh cổ trong phòng khách cung An Định của vua Khải Định. Đó là những bức tranh vẽ kiểu Tây, tượng hình những lăng mộ, sự tưởng nhớ với những hoàng đế thời trước. Mang theo ước mơ xa hoa và văn hóa, vua Khải Định cho xây dựng cung An Định với những phòng sang trọng, những bức tường với hình họa đầy chi tiết phức tạp, những bức tranh tường được vẽ tỉ mỉ với hàng nghìn hoa văn đậm màu truyền thống và cũng rất... Tây.
Trước mắt vị thạc sĩ phục chế người Đức khi ấy là một di sản của sự xa hoa, đầy ắp kỹ thuật và sự phức tạp mới mẻ học tập ở châu Âu về. Nhưng cùng với vẻ đẹp ấy, cung An Định đối mặt với hàng trăm loại nấm mốc, sự bong tróc, hủy hoại phủ khắp các bức tường và nền hoa văn. Khi đó, dự án GCREP chỉ chú ý đến sáu bức tranh. Andrea lại thấy cả một cung điện tuyệt đẹp đang ở bên bờ vực phá hủy. Chính bà đã đề nghị đại sứ quán mở rộng dự án trên quy mô toàn bộ cung điện.
Năm 2003, dự án chính thức được mở đầu với sáu bức tranh tường lớn ở tiền sảnh cung An Định. Những bức tranh là những cảnh trí đơn giản, nặng về đặc tính thờ cúng tổ tiên và chỉ tuyệt đối miêu tả hình ảnh các khu lăng mộ của các vua triều Nguyễn.
Tráng lệ. Nhưng hư hại đến đau lòng. Màu trên tranh bị bong tróc vì bề mặt vữa gốc của tường vỡ ra. Andrea gửi những mẩu sơn dầu đầu tiên về phòng thí nghiệm ở Đức để phân tích.
Bà giải thích một cách thành thạo: “Tôi phát hiện kỹ thuật vẽ tranh tường ở đây khá giống với những gì tôi đã học ở Ý, đó là kiểu vẽ fresco. Có nghĩa bạn trát vữa lên tường, đợi cho đến khi vữa khô, nhưng không khô hẳn mà còn hơi ẩm, tiếp đó bạn dùng chất màu
trộn với nước và vẽ trực tiếp thẳng lên mặt vữa tươi đó, không cần bất cứ loại chất kết dính hay keo nào. Trong quá trình vữa định hình cứng dần, màu vẽ sẽ dính chặt theo dần lên bề mặt vữa. Đó cũng là cách tốt nhất và giúp tranh tồn tại lâu nhất mà ở châu Âu người ta đã dùng. Có một loại vi khuẩn tốt sẽ sinh ra trong quá trình khô dần của vữa và màu ướt giúp bức tranh tường có tuổi thọ lâu. Tranh tồn tại vững chắc trong một thời gian rất dài. Trong các công trình như cung An Định, chất lượng hình ảnh còn khá tốt”.
Nhắc đến cung An Định, Andrea lại nói về nơi này bằng sự say mê không thể ngừng lại được. Màu sắc, hoa văn, sự xa hoa của ông vua thời cũ, cảm giác châu Âu, những ký ức, hội hè đã phai mờ đâu đó cùng với thời gian trong những gian phòng tuyệt đẹp... Andrea sống ở chính hoàng cung đó suốt từ năm 2003-2008, với màu vẽ, sơn, các biểu đồ chất liệu và cả một... đống xà bần những tác động của thời gian vào tác phẩm kiến trúc đặc sắc ấy.
Từ sáng sớm đến tận khuya, người phụ nữ này cặm cụi với những suy nghĩ miên man về chất liệu, cách tái tạo và sử dụng cẩn trọng nhất với chất liệu cho tranh vẽ cũ trên tường hoàng cung. Nguyễn Thị Phương Thảo, một phiên dịch của dự án, nói về Andrea: “Bà ấy chăm chút cho công trình còn hơn người Việt mình, cả ngày cả đêm làm việc miệt mài”. Thái độ làm việc và khao khát của Andrea để dựng lại những ký ức lịch sử trong lòng những công trình kiến trúc đã trở thành mẫu mực cho tất cả học trò người Việt sau này mà bà chọn để truyền nghề...
Bà Andrea trong một công đoạn làm sạch mối và mốc trên chi tiết công trình - Ảnh do GCREP cung cấp
Nối quá khứ cho người Việt trẻ
Dự án GCREP không chỉ đưa Andrea đến Huế để tỉ mẩn với hoàng cung, mà còn cho bà một cơ hội được kết nối thật sự với những người Việt trẻ ở Huế.
Andrea bối rối khi nhớ về năm 2003, khi bà đi khảo sát và thăm các công trình kiến trúc trong nhóm di sản của UNESCO ở Huế: “Tôi biết người ta muốn gìn giữ cái gốc nhưng không biết phải làm thế nào. Họ cũng muốn làm thế nhưng họ chẳng có công nghệ hay kỹ thuật gì để làm chuyện bảo tồn đó cả. Đó là lý do trong nhiều cuộc bảo tồn, người ta đã vứt bỏ quá nhiều yếu tố gốc của công trình. Họ làm hẳn ra cái mới và nghĩ rằng thế cũng như nhau thôi. Nhưng không phải thế. Ngày xưa người ta sử dụng kỹ năng sơn vẽ khác. Bây giờ người bảo tồn lại dùng sơn mới, vẽ theo kiểu mới, lên những bức tường bêtông mới...”.
Andrea phỏng vấn và tuyển chọn 15 họa sĩ địa phương sau khi đăng thông báo tuyển dụng trên báo và trong các trường mỹ thuật. Bà bắt đầu những ngày hướng dẫn lại cho các cộng sự của mình về ý nghĩa của công tác bảo tồn, sự quan trọng của việc gìn giữ nguyên trạng công trình. Những mẫu thí nghiệm màu sắc, chất liệu được phản hồi từ Đức cũng được bà dùng làm mẫu vật để dạy học viên cách phân tích biểu đồ, số liệu và cách tái tạo các nguyên liệu cũ đã được sử dụng cho tranh ở tường hoàng cung.
Bà nhớ lại: “Tôi hỏi họ có hiểu không thì tất cả im lặng. Có vẻ như họ hiểu. Nhưng khi bắt tay vào làm tôi mới phát hiện họ không hiểu rất nhiều điều, nhưng họ không hỏi. Mãi sau này tôi mới biết người Huế thường lặng lẽ và nhún nhường. Đôi khi việc hỏi hay chất vấn bị coi là bất lịch sự” - Andrea nhớ lại những ngày đầu tiên với học trò của mình. Nhiều bích họa khi vẽ lại đã bị chính những học viên người Việt cẩu thả vẽ... theo ý mình. Vừa chăm sóc từng mảng màu, lớp vữa, Andrea phải vừa khắt khe quan sát từng quy trình của các học viên mình đang hướng dẫn.
Andrea tự hào về những học trò của mình: “Ở lăng Tự Đức, chúng tôi cho một họa sĩ tự chịu trách nhiệm về một phần công việc. Trường Khánh là một người rất khép kín và làm việc cực kỳ tốt. Cậu ấy không thích làm việc với những người khác vì tính cầu toàn của mình. Cậu ấy phải tách bỏ mối, rêu, tách bỏ các loại nguyên liệu mới sai lệch, thử với loại vữa chúng tôi đưa vào phân tích, kiểm tra sự xâm phá của mối...”.
Sau công trình ở cung An Định, những học trò của Andrea đã lần lượt theo cô giáo tiếp tục phục chế cẩn trọng tại hai công trình lớn là lăng mộ vua Tự Đức (Huế) và đình làng Trần Đăng (Hà Nội).
Khi những bức bích họa trong cung An Định thành hình, Andrea đã cùng các học viên của mình mở một triển lãm nhỏ, không phải để giới thiệu hoàng cung, mà là đưa công chúng vào xem cách thức những nhà phục chế tái tạo quá khứ.
Một triển lãm nhỏ và hàng chục nghìn khách tham quan đã đến. Người ta nhìn thấy những họa sĩ làm việc, xem các bảng màu, nghe những giải thích về chất liệu, sự xâm hại của thời tiết, biến đổi lịch sử... Nhiều nhà nghiên cứu xúc động nghẹn ngào khi thấy những hoa văn nhạt nhòa vôi vữa giờ trở lại nguyên trạng như trong những hình ảnh lịch sử cũ họ còn thấy được.
Andrea mỉm cười: “Tôi chỉ là người Đức, đến đây và cùng họ làm một số việc để bảo tồn. Đây là di sản của người Huế và họ phải là những người tự tay gìn giữ nó. Tôi không phải là công an để canh chừng sự tàn phá hay cách bảo tồn sai lầm. Dần dần họ sẽ chính là những người thay đổi cách sửa chữa và bảo tồn các công trình của mình”.
Đã bảy năm trời người phụ nữ “xa lạ” này sống tâm huyết với những di sản của người Việt như vậy...
LAN PHƯƠNG

Wednesday, April 28, 2010

Cùng một dân tộc hà cớ gì không thể hoà hợp?


Tác giả: VIỆT LÂM - THU HÀ

Monday, April 12, 2010

12/04 Vì sao tôi thích Việt Nam


Thứ Hai, 12/04/2010, 14:45 (GMT+7)
Bạn bè và gia đình thường hỏi tại sao tôi thích Việt Nam đến như vậy. Câu trả lời của tôi là một danh sách dài những lý do nho nhỏ có thể in thành cuốn sách cả ngàn trang cũng không hết. Nhưng hôm nay đây, tôi xin liệt kê vài điều ngộ nghĩnh mà tôi từng gặp khi sống ở Việt Nam.
Một vài người có thể cho là tôi ngớ ngẩn, nhưng những điều nhỏ nhặt này hàm chứa một chiều sâu nào đó luôn làm tôi mỉm cười mỗi khi nghĩ đến.
Drew Taylor
Một người bạn của tôi là dân Sài Gòn ra Đà Nẵng công tác đã vài năm. Anh ấy thích nghi với cuộc sống mới cũng nhanh, trừ một vài tình huống cười ra nước mắt mà một người miền Nam ra sống ở miền Trung gặp phải. Anh kể cho tôi nghe chuyện của anh thế này: Ngày nọ trên đường đi họp, anh nhận ra là mình không biết đường nên dừng lại hỏi một chú xe ôm. Đây là cuộc đối thoại của hai người:
- Chú ơi, cho con hỏi đài truyền hình ở đâu chú?
- Đường này đi thảng (thẳng), đến ngã tư thứ hơ (hai), quẹo phở.
- Dạ, chú... con không muốn đi một quán phở. Con muốn đi đài truyền hình. Chú biết ở đâu không?
- Con ơi, nghe đi... đường này đi thảng (thẳng) đến ngã tư thứ hơ (hai), quẹo phở (phải).
- Dạ không, con ăn rồi, không muốn ăn phở chú ơi!
- Biết rồi. Đi thảng (thẳng), đi thảng (thẳng)! Quẹo phở (phải), quẹo phở (phải). (Lần này vừa nói chú xe ôm vừa lấy tay ra dấu chỉ đường)
- A, con hiểu rồi. Cảm ơn chú nhiều nhé!
Đi tắm biển ở Việt Nam cũng có nhiều chuyện thú vị. Điều rất lạ với người nước ngoài khi đi tắm biển ở Việt Nam là họ thấy nhiều người Việt tắm biển không cần mặc đồ tắm. Già trẻ lớn bé đều cứ nguyên bộ đồ trên người vô tư lao ùm xuống biển, cho dù đang mặc quần jeans, áo sơ-mi, quần đùi, váy, và lạ hơn nữa là đội mũ xuống biển.
Và cũng không thực sự gọi là đi bơi vì đa số mọi người thích bơi dọc mép nước gần bờ, chơi với sóng giống như nằm chơi trên bãi cỏ trong công viên. Khi lên bờ, đa số cứ mặc nguyên bộ đồ ướt đi về nhà giống như vừa bị mắc mưa xong vậy. Tôi tự hỏi không biết khi đi ngủ họ có mặc nguyên bộ đồ như khi đi bơi vậy không? Lạ quá!
Từ ngày có mũ bảo hiểm, hình ảnh đô thị ở Việt Nam thay đổi hẳn, hiện đại hơn, lịch sự hơn. Thế nhưng ở Việt Nam, mũ bảo hiểm chưa bao giờ chỉ là mũ bảo hiểm. Mũ bảo hiểm còn là tính cách của người Việt với những kiểu mũ bảo hiểm thời trang để đáp ứng nhu cầu làm đẹp. Nhưng tôi chưa bao giờ hết ngạc nhiên về sự sáng tạo của người Việt với chiếc mũ bảo hiểm.
Hôm rồi đi trên đường, một nụ cười rạng rỡ vụt qua, phía trên là chiếc mũ bảo hiểm và trên cùng là chiếc nón lá. Nụ cười dưới chiếc nón lá đẹp vô cùng! Tôi nhận ra, dù bên ngoài có thay đổi như thế nào, vẫn có những điều trong tâm hồn người ta không bao giờ thay đổi!
Tôi thường xuyên phải rà soát lại từ điển tiếng Việt của mình để kiểm tra xem những gì mình nghe, thấy được có chính xác không. Bởi vì nhiều khi nghĩ đã thuộc từ rồi, nhưng thực tế luôn nói lên điều ngược lại. Chẳng hạn như khi mua trái cây, tôi chọn “Bưởi Thanh Trà - Ngọt!”. Về nhà, trái bưởi ngọt tôi mua hóa thành “Bưởi Thanh Trà - Chua!” (may là tôi cũng thích trái cây chua). Đi mua xoài, anh bán xoài nói chắc như đinh đóng cột rằng “Xoài chín ngọt lắm!”. Nhưng ngay khi cắn miếng đầu tiên, trái xoài “ngọt” làm tôi chảy nước mắt vì chua. Vì vậy, trong từ điển của tôi về trái cây ở đây, “ngọt” đôi khi cũng có nghĩa là “chua”.
Tết, ai cũng mừng vì lô cốt được dỡ ra, xe ủi xe xúc được dọn đi. Nhưng dù trí tưởng tượng có phong phú đến mức nào, không ai dám tin vào một năm mới được lái xe đi làm mà không phải xếp hàng tránh lô cốt. Quyết định gỡ bỏ lô cốt của chính quyền trong mấy ngày tết là một nỗ lực khá tốn kém để động viên tinh thần nhân dân trong mấy ngày tết.
Tết vừa qua là lô cốt lập tức được dựng lại. Nhịp sống của người dân thành phố trở lại sôi động như bình thường với sự có mặt của những hàng rào lô cốt lạnh lùng quen thuộc. Tôi không hiểu tại sao các cơ quan có thẩm quyền không sử dụng quyền hạn của mình và các nguồn lực một cách tối đa để giải quyết nhanh chóng những dự án sửa đường, trả lại những con đường bằng phẳng cho người dân thành phố. Hết năm này đến năm khác, giao thông ở Sài Gòn bế tắc và trì trệ như những mạch máu không thông trong một hệ thống bị quá tải.
Vậy mà mỗi ngày vẫn trôi qua với mọi sinh hoạt diễn ra bình thường như thể ai cũng đã quá quen với những cái gọi là “lô cốt” trong thời bình và không có gì phải hy vọng thêm nữa.
Danh sách những câu chuyện nhỏ của tôi vẫn còn dài... Dù sao, tôi vẫn thích Việt Nam!
Theo DREW TAYLOR
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Sunday, March 14, 2010

14/03 Robin Macpherson: cuộc sống ở Việt Nam luôn có nhiều điều bất ngờ


Chủ Nhật, 14/03/2010, 15:02 (GMT+7)
Robin Macpherson - Phó Tổng Giám đốc Công ty Bảo hiểm nhân thọ Hàn Quốc (Hanwha) tại Việt Nam rất dễ gây cảm tình với người khác nhờ phong cách nồng nhiệt, cởi mở, dí dỏm mà sâu sắc. Những cuộc trò chuyện với vị doanh nhân người Úc này không chỉ mang đến cho người khác nhiều nụ cười sảng khoái, mà còn là những chia sẻ chân thành và thú vị về cuộc sống và công việc kinh doanh.
Nhịp sống trên những con đường
Trong bảy năm sống và làm việc tại Việt Nam, điều gây ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với Robin Macpherson có lẽ là nhịp sống trên những con đường. Như nhiều người đến từ các đất nước phát triển, cảm giác đầu tiên của Robin khi đặt chân đến xứ sở nhiệt đới này là sự choáng ngợp trước những dòng xe máy đông đúc đi về trên mọi ngả đường.
“Nhưng điều thú vị nhất có lẽ là đi trên đường phố cũng có thể nhìn thấy mọi hoạt động của cuộc sống đang tất bật diễn ra từng ngày từng giờ, từ xây dựng, buôn bán đến cả… nấu ăn” - Robin nhận xét. Tuy những cảnh tượng ấy có chút xô bồ và hơi mất trật tự nhưng đó là một trong nhiều nét đặc trưng của một đất nước đang phát triển.
Robin Macpherson (ngồi) trao đổi công việc với nhân viên
Nói về điểm khác biệt về lối sống giữa Việt Nam và nước Úc của mình, Robin cho biết: “Ở Úc cũng như nhiều nước phát triển khác mà tôi đã đi qua, hầu như mọi hoạt động trong cuộc sống đều được lên kế hoạch trước rồi cứ thế diễn ra. Đôi khi, điều đó khiến người ta nhàm chán. Còn ở Việt Nam, cuộc sống luôn chứa đựng nhiều điều bất ngờ thú vị mà không ai có thể đoán trước được”.
Chính vì sự khó nắm bắt ấy mà ông luôn tận dụng mọi cơ hội để có được những trải nghiệm quý báu về cuộc sống trên đất nước này. Một trong những kỷ niệm khó quên của Robin là việc ông trở thành khách mời của chương trình Smiling Vietnam (Việt Nam - Những nụ cười) - một chương trình truyền hình thực tế trên kênh HTV7 như một chiếc cầu nối để người nước ngoài hiểu thêm về văn hóa, lối sống của người Việt.
Ông kể: “Nhờ tham gia vào chương trình này mà tôi được gặp gỡ một nghệ nhân làm loa tranh. Sản phẩm độc đáo và có tính ứng dụng cao ấy không chỉ được người Việt ưa chuộng, mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Điều đó khiến tôi rất thích thú và khâm phục khả năng sáng tạo của người Việt Nam”.
“Công việc cho tôi cơ hội giúp đỡ cộng đồng”
Robin Macpherson rời Melbourne, xa gia đình để đến Việt Nam làm việc trong nhiều năm vì niềm đam mê đối với ngành bảo hiểm cũng như niềm tin vào thị trường đầy tiềm năng này. Ông nói: “Tôi cảm ơn công việc mà mình đang làm vì nó không chỉ mang lại lợi ích cho riêng bản thân tôi, mà còn có ích cho cộng đồng. Đối với tôi, bảo hiểm nhân thọ là một ngành kinh doanh rất đặc biệt. Khi khách hàng gặp rủi ro, bất trắc cũng chính là lúc bạn thực hiện nhiệm vụ của mình để giúp họ tìm được sự ổn định và an toàn trong cuộc sống”.
Ngoài việc điều hành công ty, Robin còn dành thời gian để trực tiếp tham gia vào nhiều hoạt động thiện nguyện tại Bệnh viện Nhi đồng 2, Bệnh viện Nhi Trung ương vào các dịp Tết Trung thu, ngày Quốc tế Thiếu nhi… Đó là những hoạt động hỗ trợ cộng đồng, chủ yếu hướng đến phụ nữ và trẻ em mà ông và các nhân viên đã kiên trì thực hiện trong nhiều năm qua.
Hiện nay, tại Việt Nam mới chỉ có khoảng 5% trong tổng số hơn 80 triệu dân có bảo hiểm nhân thọ trong khi ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới, con số này đã vượt quá 100% (một người có nhiều hợp đồng bảo hiểm khác nhau). Với vị phó tổng giám đốc kinh doanh của Hanwha, đây vừa là một thách thức, vừa là một cơ hội lớn. Robin luôn tin rằng ông và các đồng nghiệp sẽ tận dụng được cơ hội này để phát triển bền vững tại thị trường nhiều tiềm năng như Việt Nam.
Ông tự hào cho biết: “Thành công lớn nhất của tôi cho đến bây giờ là đã thuyết phục được những người có năng lực cùng làm việc với mình. Hiện nay, tôi đang làm việc cùng 75 nhân viên người Việt. Họ đều là những người có thực lực và đáng tin cậy”. Có lẽ một môi trường làm việc thân thiện, nhiều cơ hội phát triển cùng với đội ngũ nhân viên năng động đã giữ chân Robin Macpherson lại đất nước hình chữ S này trong suốt bảy năm qua và ông vẫn chưa hề có ý định rời xa.
Theo KIM CÚC
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Friday, March 12, 2010

03/12/2010 Chiến lược đầu tư quý 4: Ngành Nhựa


Thứ Sáu, 03/12/2010 | 10:18
Báo cáo phát hành trên website có độ trễ so với VietstockTrader
Chiến lược đầu tư quý 4: Ngành Nhựa

(Vietstock) – Kết quả dự phóng của chúng tôi cho thấy, P/E và P/B forward cho năm 2010 trung bình của các doanh nghiệp trong ngành chỉ vào khoảng 6.29 lần và 1.07 lần. Đây là mức định giá khá hấp dẫn khi nhu cầu sử dụng sản phẩm nhựa xây dựng và nhựa dân dụng những tháng cuối năm thường có xu hướng tăng cao.
I. DIỄN BIẾN NGÀNH NHỰA ĐẦU NĂM 2010
Tốc độ tăng trưởng ngành và tăng trưởng xuất khẩu cao. Ngành nhựa hiện đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh với tốc độ trung bình 15-20%/năm. Nhựa cũng được đánh giá là một trong những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, đứng thứ 4 sau cơ khí, hạt tiêu và cà phê. Xuất khẩu sản phẩm nhựa trong 8 tháng đầu năm 2010 đạt 650 triệu USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm ngoái. Ngành nhựa Việt Nam đang hướng đến 1 tỷ USD giá trị xuất khẩu, tăng gần 43% so với năm trước.
Thị trường xuất khẩu không quá khó để thâm nhập. Theo Cơ quan thống kê của Liên hiệp quốc, đối với mặt hàng nhựa, Việt Nam là nước có khả năng thâm nhập thị trường tương đối tốt, được hưởng mức thuế thấp hoặc đối xử ngang bằng các nước xuất khẩu khác ở hầu hết các thị trường. Các doanh nghiệp cũng đã tiếp cận công nghệ sản xuất hiện đại của thế giới và sản phẩm được thị trường chấp nhận. Ngoài thị trường Nhật Bản đã có vị thế cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam đã thâm nhập thành công những thị trường mới như Trung Quốc, Ấn Độ, Trung Đông, châu Phi, EU… Đây là những khu vực có nhu cầu cao về sản phẩm bao bì, sản phẩm nhựa tiêu dùng và xây dựng.
Sản phẩm nhựa ngày càng phổ biến ở thị trường nội địa. Trong nước, sản phẩm nhựa cũng đã có mặt trong hầu hết các ngành, từ công nghiệp, nông nghiệp đến giao thông vận tải, xây dựng... Những sản phẩm đòi hỏi chất lượng cao như ống dẫn dầu, đồ nhựa cho ôtô hay máy vi tính cũng đã được các doanh nghiệp sản xuất thành công, thay thế hàng nhập khẩu.
Phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Hiện mỗi năm ngành nhựa cần 1.5 triệu tấn nguyên phụ liệu, trong khi sản xuất nội địa mới đáp ứng khoảng 300,000 tấn. Sản xuất chất dẻo trong nước hiện nay chỉ đáp ứng được khoảng 10 - 15% nhu cầu nguyên vật liệu, và ngành nhựa vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu. Vì vậy, biến động giá nguyên liệu thế giới lập tức gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành nhựa.
Hầu hết các các loại nguyên liệu nhựa được sản xuất từ dầu mỏ và khí đốt nên giá chịu tác động trực tiếp từ giá các mặt hàng này. Việc giá nguyên liệu nhựa tăng liên tục theo giá dầu thế giới, cộng với sự bấp bênh của một số nguồn hàng, đã tạo sức ép không nhỏ trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Giá nguyên liệu nhựa đã tăng 20-30% so với đầu năm 2010. Trong các tháng gần đây, giá mặt hàng nguyên liệu nhựa đã giảm nhiệt do giá dầu trên thị trường thế giới sụt giảm. Tuy vậy, giá các loại mặt hàng này vẫn ở mức cao, đã tăng từ 20-30% so với đầu năm 2010.  
Năng lực sản xuất và công nghệ hạn chế. Phần lớn các doanh nghiệp nhựa đều phát triển từ các công ty gia đình. Nguồn vốn ít, trình độ quản lý hạn chế, thiếu thông tin cập nhật nên những doanh nghiệp này thường đầu tư chủ yếu vào những mặt hàng đơn giản, thâm dụng lao động và có tỷ suất lợi nhuận thấp.
Hầu hết các doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư công nghệ cho các sản phẩm nhựa kỹ thuật cao, đặc biệt là các loại bao bì tự hủy, sản phẩm phục vụ nội địa hóa ngành ôtô, xe máy, điện tử, sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp và hạ tầng cấp thoát nước, các sản phẩm nhựa tiêu dùng... Vì thế, ngành nhựa Việt Nam vẫn chưa thể trở thành ngành công nghiệp phụ trợ cho các ngành sản xuất khác.
Cơ cấu ngành nhựa mất cân đối. Mức độ cạnh tranh cao ở phía Nam. Ngành nhựa bao bì có 702 doanh nghiệp, chiếm 35.1%, nhựa gia dụng có 794 doanh nghiệp, chiếm 39.7%, trong khi nhựa kỹ thuật chỉ có 272 doanh nghiệp, chiếm 13.6%.
Mức độ cạnh tranh trong ngành nhựa không cao do phân bố địa lý, các doanh nghiệp có phân khúc thị trường riêng, nhu cầu tiêu thụ lớn. Khoảng 76% doanh nghiệp tập trung ở phía Nam nên khu vực này có mức độ cạnh tranh cao hơn hẵn khu vực miền Bắc và miền Trung.
Những rủi ro tiềm tàng. Đáng chú ý là mặt hàng nhựa cũng chịu rủi ro thuế chống bán phá. Hiện Mỹ đang áp thuế ở mức cao nhất, 75% lên túi nhựa Việt Nam. Ngoài ra, ngành nhựa còn phải chịu các rủi ro hoạt động như đổ nhựa, hỏa hoạn…
II. TRIỂN VỌNG NGÀNH NHỰA NĂM 2010
Tiềm năng thị trường nội địa vẫn còn rất lớn. Việt Nam có gần 86 triệu dân, với mức tiêu thụ sản phẩm nhựa trung bình khoảng 22 kg/người, và mục tiêu năm 2010 có thể đạt 32 kg/người. Đây là con số khá thấp so với nước láng giềng như Thái Lan, trên 100 kg/người, các nước phát triển như Nhật Bản ở mức 200 kg/người. Các doanh nghiệp ngành nhựa có nhiều thuận lợi để phát triển, đặc biệt trong bối cảnh hàng nội địa và sản xuất thay thế nhập khẩu đang được khuyến khích.
Đang dần hạn chế phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu, đặc biệt khi các tổ hợp hóa dầu hoạt động. Hiện có nhiều dự án sản xuất nguyên liệu nhựa PP, PE đang được triển khai. Dự kiến đến hết năm 2010 khi đi vào hoạt động, các nhà máy mới có thể nâng tổng công suất của ngành nhựa thêm khoảng 1.2 triệu tấn/năm. Việc gia tăng sản lượng của ngành gặp thuận lợi khi các dự án sản xuất hạt nhựa trong các tổ hợp lọc hóa dầu (như Dung Quất) từng bước trở thành hiện thực. Điều này có thể giúp giảm thiểu rủi ro biến động nguồn nguyên vật liệu và biến động tỷ giá.
Nhựa bao bì và gia dụng chiếm tỷ trọng lớn. Nhu cầu khá ổn định và thường tăng cao vào cuối năm. Doanh nghiệp sản xuất nhựa bao bì và gia dụng chiếm khoảng 75-80% số lượng doanh nghiệp của cả ngành. Đây là nhóm không đòi hỏi trình độ công nghệ cao như nhựa kỹ thuật và xây dựng.
Tuy nhiên, nhu cầu nhập khẩu tại các nước phát triển về sản phẩm bao bì và nhựa gia dụng đang giảm đi. Đồng thời, giá trị gia tăng của các sản phẩm này không cao như nhóm nhựa kỹ thuật và vật liệu xây dựng.
Các sản phẩm của nhóm này phục vụ nhu cầu thiết yếu, nhu cầu sử dụng trong nước ngày càng cao và có thị trường khá bền vững. Bao bì cho sản phẩm nông nghiệp, bao bì cho thực phẩm chế biến, các sản phẩm gia dụng như tủ, ghế, …ngày càng có xu hướng phát triển do thị hiếu thích gọn nhẹ, năng động và hiện đại.
Những tháng cuối năm với các dịp lễ, Noel, Tết sẽ khiến việc sử dụng thực phẩm, nhu cầu mua sắm tăng cao. Do vậy, các doanh nghiệp bao bì và nhựa gia dụng có thể tăng lượng bán hàng và thúc đẩy doanh thu.
Doanh nghiệp sản xuất nhựa kỹ thuật. Ngành nhựa kỹ thuật có giá trị gia tăng lớn hơn và đang được các nước phát triển quan tâm. Tuy vậy, công nghiệp phụ trợ ngành nhựa trong nước như cơ khí chế tạo, máy móc thiết bị, khuôn mẫu… lại chưa hoàn chỉnh. Vì vậy, hoạt động sản xuất nhựa kỹ thuật cao phục vụ cho các ngành điện – điện tử, lắp ráp ô tô, xe máy… hầu như không đáng kể.
Doanh thu của ngành nhựa kỹ thuật phụ thuộc vào đơn hàng. Do vậy, trong những tháng cuối năm, hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp ngành nhựa kỹ thuật ít có đột biến.
Doanh nghiệp sản xuất VLXD bằng nhựa. Hàng loạt dự án tiếp tục được đầu tư triển khai, Chính phủ vẫn đang đẩy mạnh đầu tư công, xây dựng cơ sở hạ tầng là những yếu tố tạo nên nhu cầu về nguyên vật liệu xây dựng, trong đó có các sản phẩm nhựa xây dựng như ống nhựa, tấm lợp, tấm trần,… Ngành nhựa xây dựng cũng chịu tác động từ tính thời vụ của ngành xây dựng. Quý 1 và quý 4 hằng năm thường là thời điểm hoạt động xây dựng tăng cao, các doanh nghiệp ngành nhựa sẽ được hưởng lợi và doanh thu thường tăng trưởng mạnh.
III. CỔ PHIẾU QUAN TÂM: BMPNTP
Những doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu ổn định, quy mô lớn, có trình độ khoa học kỹ thuật cao, sản xuất được nhiều mặt hàng chuyên sâu, thương hiệu mạnh sẽ có nhiều lợi thế trong giai đoạn cạnh tranh cao, giá nguyên vật liệu biến động mạnh như hiện nay.
Để hạn chế các rủi ro tăng trưởng trong dài hạn, những doanh nghiệp có dự án phát triển tiềm năng, có kế hoạch nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu tư máy móc thiết bị, đổi mới phương pháp kỹ thuật cũng là tiêu chí quan trọng khi chúng tôi xem xét lựa chọn cổ phiếu.
Hiện đang có 11 doanh nghiệp ngành nhựa đang niêm yết, trong đó có 4 doanh nghiệp có tình hình tài chính nổi trội là BMPDPCNTP và TTP. Trong đó, BMP và NTP là 2 công ty lớn nhất xét về thị phần lẫn quy mô.
CTCP Nhựa Bình Minh (HoSE: BMP)
Cơ hội: BMP hiện có năng lực sản xuất cao thứ 2 trong ngành, sản lượng sản xuất đạt 39,000 tấn trong năm 2009. BMP chi phối 50% thị phần ở miền Nam và chiếm khoảng 20-25% thị phần ngành sản xuất ống nhựa cả nước.
BMP hiện có hệ thống bán lẻ rộng khắp, khá năng động trong quản lý và đang nỗ lực mở rộng thị trường. Với việc sở hữu 20% DPCBMP có lợi thế để củng cố thị phần ở khu vực miền Trung.
Hằng năm, BMP đầu tư và nâng cấp máy móc thiết bị để tăng công suất từ 10-15%. Trong năm 2010, BMP đã thuê 15.56 ha đất tại Khu công nghiệp Vĩnh Lộc - Bến Lức, Long An để đầu tư xây dựng nhà máy với công suất dự kiến 150,000 tấn/năm. Dự kiến nhà máy này sẽ đi vào hoạt động vào năm 2013.
Rủi ro: Việc mở rộng ra thị trường phía Bắc vẫn chưa đem lại hiệu quả. Nhà máy ở phía Bắc chưa đem lại lợi nhuận và tác động không tích cực lên tình hình tài chính củaBMP. Mặc dù 100% nguyên liệu chính (PVC) được mua trong nước nhưng BMP vẫn bị ảnh hưởng mạnh bởi biến động tỷ giá, do các đối tác lấy USD làm cơ sở tính giá.
Doanh thu BMP trong 9 tháng đầu năm 2010 đạt 1,004 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế đạt 187.3 tỷ đồng, giảm 8.5% so với cùng kỳ do trong năm giá bột nhựa, chi phí tiền lương tăng cao làm sụt giảm lợi nhuận. 
Chúng tôi ước tính doanh thu và lợi nhuận sau thuế của BMP trong năm 2010 tương ứng đạt 1,338 và 249 tỷ đồng. P/E và P/B dự phóng năm 2010 của cổ phiếu BMP lần lượt ở mức 6.93 và 1.9 lần. BMP vẫn là một cổ phiếu ưu tiên của ngành nhựa khi nhu cầu nhựa xây dựng quý 4/2010, quý 1/2011 thường có xu hướng tăng trưởng mạnh.
CTCP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong (HNX: NTP)
Cơ hội: NTP hiện có năng lực sản xuất cao nhất so với các doanh nghiệp trong ngành, sản lượng sản xuất đạt 42,962 tấn trong năm 2009. NTP chiếm khoảng 25-30% thị phần ngành sản xuất ống nhựa cả nước và chi phối 65% thị phần của miền Bắc. NTP có khách hàng là nhiều nhà thầu lớn nên doanh thu có xu hướng ổn định. Hệ thống phân phối hiện diện khắp cả nước với 3 kênh phân phối: trung tâm bán hàng và đơn vị bán hàng, khách hàng riêng lẻ và đấu thầu công trình; sẽ gây nhiều khó khăn cho những công ty đối thủ muốn thâm nhập thị trường.
Các sản phẩm của NTP là nhựa ống, phụ tùng,… phục vụ các công trình xây dựng. Việt Nam hiện đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng, trung tâm thương mại và nhà ở. Ngành xây dựng có nhiều triển vọng sẽ kéo theo nhu cầu ống nhựa, phụ tùng nhựa xây dựng tăng cao.
Các quý 4/2010, quý 1/2011 là mùa vụ cao điểm của hoạt động xây dựng nên NTP có thể sẽ có doanh thu tăng trưởng đột biến.
NTP chiếm lĩnh thị phần lớn nhất và tiếp tục nâng cao năng lực sản xuất bên cạnh việc thành lập thêm CTCP Nhựa Thiếu Niên Tiền Phong phía Nam và Công ty Liên doanh Nhựa Tiền Phong SMP tại Lào. Điều này sẽ giúp NTP duy trì mức tăng trưởng tích cực  trong các năm tới.
Trong tháng 10/2010, ĐHĐCĐ đã thông qua kế hoạch phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 60%. Đây có thể là một yếu tố tích cực thúc đẩy giá cổ phiếu tăng trưởng trong thời gian tới.
Rủi ro: NTP hiện tại vẫn phải nhập khẩu 80% lượng nguyên vật liệu. Do đó, vấn đề tỷ giá và biến động giá nguyên vật liệu thế giới có tác động đáng kể đến hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, thị phần ở khu vực miền Nam và miền Trung vẫn còn thấp, và CTCP Nhựa Tiền Phong phía Nam (NTP giữ 51% vốn cổ phần) mới đi vào hoạt động, vẫn chưa sinh lãi.
Kết thúc 9 tháng đầu năm 2010, doanh thu của NTP đạt 1,385 tỷ đồng, tăng 36.8% so với cùng kỳ năm trước nhờ gia tăng sản lượng bán hàng và giá bán sản phẩm thêm 10% từ tháng 1/2010. Lợi nhuận sau thuế đạt 235 tỷ đồng, giảm 11% so với cùng kỳ; do trong năm giá bột nhựa PVC, PE-HD tăng khoảng 10-13% và chi phí tiền lương tăng cao. 
Chúng tôi ước tính doanh thu năm 2010 của NTP có thể đạt 1,847 tỷ đồng nhờ vào nhu cầu xây dựng ở miền Bắc tiếp tục tăng trưởng. Lợi nhuận sau thuế tương ứng đạt 313 tỷ đồng. Như vậy, P/E và P/B năm 2010 của NTP sẽ lần lượt ở mức 5.7 và 2.16 lần. Đây là mức khá hấp dẫn đáng xem xét để đưa cổ phiếu này vào danh mục đầu tư.
Dự phóng chỉ tiêu tài chính cơ bản năm 2010

03/11 ĐBQH Phạm Phương Thảo (TP Hồ Chí Minh):Trung ương cần tiếp tục giúp địa phương tháo gỡ những khó khăn về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính


03/11/2010
Kết quả thực hiện nhiệm vụ ngân sách nhà nước năm 2010 có điểm đáng ghi nhận là tăng thu đạt trên 58.000 tỷ và giảm được bội chi so với dự toán, từ 6,2% xuống còn 5,9%. Về nhiệm vụ thu - chi ngân sách năm 2011, tôi cho rằng, cần thực hiện với tinh thần “tích cực trong thu, tập trung tiết kiệm trong chi”.
TP Hồ Chí Minh là một trong những địa phương có nguồn thu lớn. Chúng tôi cũng xin hứa sẽ quyết tâm thực hiện nhiệm vụ được giao là tăng thu 22%, tương đương với trên 20.000 tỷ đồng. Theo đó, năm 2011, TP Hồ Chí Minh phấn đấu tăng thu trên 1 tỷ USD. Tuy nhiên, về phía Trung ương cũng cần tháo gỡ giúp địa phương những khó khăn về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính. Vừa qua, chúng ta thực hiện rà soát các thủ tục hành chính. Các địa phương, trong đó có TP Hồ Chí Minh đã rà soát, cắt giảm thủ tục gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Còn phần của Trung ương, tôi thấy trên cơ sở rà soát, Trung ương sẽ xử lý nhanh để giảm những thủ tục hành chính. Những vấn đề về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước hiện nay còn mất nhiều thời gian. Thời gian phê duyệt ngân sách cho một dự án còn tính bằng năm trở lên. 

Về cơ chế chính sách cũng vậy, một số quy định trong văn bản luật, nghị định còn gây cản trở, ảnh hưởng đến nguồn thu. Ví dụ Nghị định 69 của Chính phủ ban hành năm 2009 về việc thu tiền sử dụng đất theo giá thị trường, tôi thấy ở tất cả các trường hợp thu đều có những bất cập. Đối với người dân là diện tích ngoài hạn mức lấn chiếm tính theo giá thị trường đang gặp nhiều khó khăn về phương pháp tính và nghĩa vụ của người dân. Đối với tổ chức doanh nghiệp, mặc dù đã bỏ tiền đền bù theo giá thị trường nhưng theo Nghị định 69 thì họ phải đóng tiền sử dụng đất theo giá thị trường một lần nữa. Dẫu rằng phần đóng này có khấu trừ theo giá Nhà nước song như vậy cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp và gây ách tắc trong việc thu tiền sử dụng đất cho các địa phương, kể cả việc thúc đẩy đầu tư... Tôi đề nghị Chính phủ xem xét, sửa đổi Nghị định 69 năm 2009.

Về phân cấp nguồn thu, tỷ lệ điều tiết, tôi nghĩ, việc này sẽ cố gắng thực hiện theo phân chia nhưng cần tính toán phân chia cho khoa học, tinh thần là nước lên, thuyền lên; giúp các địa phương có điều tiết thì sẽ có điều kiện đầu tư phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu. Ví dụ ở TP Hồ Chí Minh,  năm 2011, nhiệm vụ thu sẽ tăng 22%, còn chi tăng 4,5%. Như vậy là nước cũng có lên nhưng thuyền lên ít quá. Thành ra, tôi nghĩ rằng cũng nên xem xét vấn đề này. Tỷ lệ điều tiết ở TP Hồ Chí Minh giảm dần, như năm 2003 điều tiết phần phân chia còn lại là 33%; đến năm 2004, chỉ một năm sau, thì tỷ lệ điều tiết giảm ngay 3%, còn 29%; năm 2006 giảm còn 26% và dự kiến năm 2011 sẽ giảm còn 23%. Tôi nghĩ là rất khó khăn cho TP Hồ Chí Minh. Không biết các địa phương, các thành phố lớn trên thế giới có được điều tiết với tỷ lệ này không? Tôi hỏi một số chuyên gia thì họ trả lời là không ai điều tiết thấp như vậy. .

Tuesday, March 2, 2010

02/03/2010 VN quan tâm chiến đấu cơ đời mới của Nga



Sukhoi T-50
Sukhoi T-50 được cho là hiện đại hơn Raptor của Mỹ
Tin cho hay Việt Nam bày tỏ quan tâm tới chiến đấu cơ tàng hình thế hệ thứ năm mà Nga đang nghiên cứu chế tạo.
Hãng tin Reuters trích nguồn giới quan sát quân sự Nga cho biết ngoài Việt Nam còn có một số nước như Lybia đã nhắm nhe loại máy bay này.
Tuy nhiên các chiến đấu cơ Sukhoi T-50 phải tới 2015 mới có thể được sản xuất đại trà.
Được biết chính bản thân Thủ tướng Nga Vladimir Putin đã ra lệnh phát triển dự án chế tạo chiến đấu cơ đời mới, mà các nhà thiết kế nói sẽ hiện đại hơn máy bay tàng hình Raptor F-22 của không lực Hoa Kỳ.
Việc chế tạo Sukhoi T-50 được cho là nằm trong kế hoạch hiện đại hóa không quân của Nga, vốn đang lâm vào tình trạng xuống cấp kể từ khi Liên bang Soviet tan rã năm 1991.
Thiết kế viên trưởng của dự án Sukhoi T-50, ông Alexander Davydenko, nói với các phóng viên: "Các chi tiết cơ bản tương tự như ở F-22 Raptor, nhưng chúng tôi sẽ hoàn thiện chúng hơn".
"Về giá cả thì chắc chắn máy bay của chúng tôi sẽ vừa túi tiền hơn".
Việt Nam đã mua 8 chiến đấu cơ Su-30 của Nga, năm nay sẽ giao hàng đợt đầu tiên.
Các loại chiến đấu cơ đời cũ như MiG-29 và Su-27 đã "trình làng" từ năm 1977. Việt Nam dựa vào Nga khá nhiều trong việc duy trì không quân và đang được đánh giá là một trong các khách hàng thuộc loại tiềm năng nhất của kỹ nghệ sản xuất vũ khí của Nga.
Giáo sư Carlyle Thayer từ Úc, một chuyên gia về Việt Nam, giải thích các lý do vì sao Việt Nam muốn mua vũ khí.
"Những quốc gia như Việt Nam muốn cập nhật công nghệ mới nhất. Họ chỉ có thể mua một số lượng nhỏ máy bay, nhưng như thế cũng có thể làm chủ công nghệ, bắt đầu hiểu khả năng của những đối thủ tiềm năng trong chiến tranh."
"Lý do thứ hai là đánh giá xem chúng có phù hợp với điều kiện của Việt Nam, vốn rất khác với Nga. Ngoài ra, người ta mua còn vì uy tín, để ra dấu hiệu cho khu vực và Trung Quốc rằng Việt Nam có khả năng tích hợp công nghệ mới vào lực lượng không quân."
Việt Nam không thể đối đầu với Trung Quốc trong cuộc xung đột, nhưng điều Việt Nam có thể làm là khiến Trung Quốc phải trả giá đắt nếu tiến vào hải phận.
GS. Carlyle Thayer
Hà Nội được ca ngợi là khách hàng "truyền thống và đáng tin cậy" của các công ty vũ khí Nga.
Cuối năm ngoái, nhân chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sang Nga, hai bên đã ký hợp đồng cung cấp vũ khí khổng lồ, mà các bình luận viên cho rằng để đối phó với ảnh hưởng và vị thế ngày càng lớn của Trung Quốc ở trong khu vực.
Các kênh chính thống của Việt Nam đều bác bỏ nhận định này, nói rằng Việt Nam chỉ củng cố quốc phòng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền.
Giáo sư Carlyle Thayer nhận định việc mua vũ khí là nhằm phản ứng trước công cuộc hiện đại hóa trong vùng, đặc biệt là của Trung Quốc.
"Việt Nam không thể đối đầu với Trung Quốc trong cuộc xung đột, nhưng điều Việt Nam có thể làm là khiến Trung Quốc phải trả giá đắt nếu tiến vào hải phận. Việt Nam cần bảo vệ dầu và khí đốt. Sau năm 2020, họ hy vọng hơn 50% GDP là nhờ vào kinh tế biển. Vì thế Việt Nam có quyền lợi quốc gia là phải bảo vệ chủ quyền."

Chiến đấu cơ đời mới

Các nhà thiết kế Sukhoi T-50 cho biết vẫn còn nhiều điểm phải cải thiện và hàng chục lần thử nghiệm trước khi loại chiến đấu cơ tàng hình mới này cọ́ thể đưa ra sản xuất đại trà.
Sự ra đời của nó dù sao cũng cho thấy Nga vẫn là một trong các nước tiên phong về công nghệ quốc phòng.
Sukhoi T-50 sẽ không chở theo vũ khí, do vậy không dùng để tấn công.
Các phân tích gia nói động cơ của loại máy bay này hiện còn chưa đủ mạnh để so sánh với động cơ Pratt & Whitney F119 của Mỹ, đồng thời còn một số lỗi về radar và hệ thống điều khiển trên khoang, tuy nhiên các nhà thiết kế chắc chắn đang nỗ lực để khắc ohục chúng.
T-50 sẽ do một liên doanh Nga-Ấn Độ sản xuất, mỗi bên góp vốn một nửa.
Có thể nó sẽ được trang bị hỏa tiễn siêu thanh BrahMos, cũng do liên doanh này sản xuất.
Các nhà thiết kế cho hay Trung Quốc không tham gia vào dự án Sukhoi T-50.