Tuesday, May 3, 2011

30/04 Ngày 30/4/1975 qua hồi ức nhà báo Trần Mai Hạnh

Tác giả: TRẦN MAI HẠNH

Nhà báo Trần Mai Hạnh với bài "Tiến vào Phủ tổng thống ngụy" là bài tường thuật đầu tiên của báo chí Việt Nam về giờ phút lịch sử giải phóng Sài Gòn trưa 30 - 4 – 1975. Nhân kỷ niệm 36 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Tuần Việt Nam xin giới thiệu những hồi ức của ông về bài báo được viết ngay tại Sài Gòn vào thời khắc lịch sử ấy.

Ba sáu năm sau ngày 30 - 4 - 1975, bao sự kiện đã diễn ra, bao biến cố đã đến với mỗi cuộc đời trong quãng thời gian không ngắn ấy. Riêng với tôi, không chỉ có những giây phút vinh quang và thời khắc huy hoàng đã được chứng kiến, mà còn có cả những tai họa, những bi thảm tột cùng đã đến với cuộc đời. Trong những thời điểm khắc nghiệt nhất của số phận khi vướng vào vòng lao lý, chính thời khắc huy hoàng trưa 30 - 4 - 1975 được chứng kiến và bài tường thuật đầu tiên của tôi về phút giây lịch sử tại Dinh Độc lập ngày nào đã giúp tôi bình tâm lại, giúp tôi đứng vững với niềm tin không gì lay chuyển về lý tưởng cao đẹp của người cộng sản mà mình đã theo đuổi để tiếp tục sống có ý nghĩa trong cuộc đời này.

Mỗi khi nhớ về những giờ phút lịch sử trưa 30 - 4 - 1975 ở Dinh Độc Lập mà tôi may mắn có mặt, không hiểu sao bao giờ hình ảnh đầu tiên hiện lên trong ký ức tôi cũng là khung cảnh đêm 29 - 4, đêm cuối cùng của chiến tranh:

Khi tôi cột xong chiếc võng dù ở bãi trú quân dã chiến trên đường từ Tây Ninh về, ngay trước cửa ngõ Sài Gòn thì đã gần 12 giờ đêm. Tôi và anh Văn Bảo, phóng viên nhiếp ảnh của Việt Nam thông tấn xã vừa tới được địa điểm dừng chân này. Các anh Thông tấn xã Giải phóng trong đoàn phóng viên cùng tiến về Sài Gòn đã đến trước chúng tôi tới 6, 7 tiếng đồng hồ. Tôi và Văn Bảo bị bỏ lại quá xa vì xe máy thủng lốp, không tìm đâu ra chỗ vá xăm. Tôi trằn trọc, thao thức trong tâm trạng bồn chồn lạ lùng chưa từng trải qua trong đời. Mặt đất ầm vang tiếng rền của đủ loại vũ khí. Tiếng súng liên thanh rộ lên phía Trảng Bàng, Tây Ninh. Tiếng trọng pháo gầm, chớp lửa rực sáng bầu trời hướng đông nam trước mặt. Nơi đấy là Sài Gòn.

Chúng tôi được lệnh sáng mai sẽ bám theo các binh đoàn chủ lực tiến thẳng vào Sài Gòn trong trận đánh cuối cùng.

Trần Mai Hạnh và Trần Mai Hưởng (hiện là Tổng giám đốc TTXVN) tại Huế sáng 4 - 4 - 1975

Trước khi lên đường, ông Đỗ Phượng xiết chặt tay tôi dặn dò: "Mai Hạnh cố gắng dọc đường viết thật nhiều tin, bài gửi về. Nhưng cố gắng viết được bài tường thuật đầu tiên về giờ phút lịch sử trọng đại của dân tộc, mà tôi tin rằng sẽ không còn xa nữa. Đồng chí Tố Hữu, Bí thư Trung ương Đảng khi nghe Thông tấn xã Việt Nam báo cáo về việc tổ chức các mũi phóng viên tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, đã chỉ thị rất ngắn gọn rằng: Đi bao nhiều tổ, bao nhiêu mũi phóng viên là do Ban lãnh đạo TTXVN quyết định. Tôi chỉ nhắc ba chữ: tin-bài-ảnh / ảnh-bài-tin. Nghĩa là đi bao nhiêu đoàn, bao nhiêu tổ phóng viên thì đi, nhưng nếu không viết được bài, không chụp được ảnh về thời khắc lịch sử trọng đại của đân tộc thì cũng bằng không".

Đoàn gồm 10 cán bộ, phóng viên, kỹ sư vô tuyến điện, điện báo viên và lái xe do đích thân Tổng giám đốc Việt Nam thông tấn xã Đào Tùng dẫn đầu đi trên hai chiếc xe Uoát của Liên Xô, mới tinh. Những năm tháng đó, hầu hết xe sử dụng kể cả trong và ngoài quân đội đều là com măng ca của Trung Quốc và Rumani (cánh phóng viên thường nói đùa là "vừa đi vừa đẩy"). Vì vậy đi trên hai chiếc xe mới tinh, hiện đại như vậy vào chiến trường thật là quá hoành tráng. Anh Đào Tùng ngồi ngay cạnh lái xe, như anh nói là để dễ quan sát và chụp ảnh. Là người đứng đầu hãng thông tấn chiến lược của nhà nước nhưng anh lúc nào cũng máy ảnh bên mình và sẵn sàng chộp mọi khoảnh khắc đáng nhớ.

Xe vừa lăn bánh, anh Đào Tùng hào hứng: "Các cậu thấy không, đời phóng viên thật không hạnh phúc nào bằng. Hơn hai mươi năm trước, cũng buổi sáng như thế này tôi được cử theo bộ đội vào giải phóng Điện Biên rồi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội để viết tin bài, chụp ảnh. Hôm nay lại được tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Tại sao cánh ta lại không cho phép mình hình dung ra cảnh tượng tiến vào giải phóng Sài Gòn nhỉ?".

Theo kế hoạch, đoàn chúng tôi sẽ theo đường mòn Hồ Chí Minh ngay từ Vĩnh Linh để vào B2. Nhưng mới vào đến binh trạm Vĩnh Linh thì Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng đã được giải phóng, quân ta đang tiến đánh dọc quốc lộ số một. Anh Đào Tùng quyết định thẳng tiến theo quốc lộ I, đến đâu tắc đường thì lại rẽ lên đường mòn Hồ Chí Minh đi tiếp. Bám sát các binh đoàn chủ lực, chúng tôi đã tiến vào hàng loạt các thành phố, thị xã, thị trấn vừa được giải phóng: Huế, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Nam, Bình Định, Qui Nhơn, Plei Ku, Buôn Ma Thuột, Bình Phước, Đức Lập, Bù Đăng, Bù Đốp, Lò Gò (Lộc Ninh)... và tới "R"- nơi trú quân của Thông tấn xã giải phóng và cơ quan tuyên huấn Trung ương cục Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam...

Phóng viên tin, ảnh được phiên chế thành từng tốp, được hướng dẫn, gợi ý về chủ đề, mỗi người được phát một bản đồ về đô thành Sài Gòn có đánh dấu các vị trí quan trọng của địch và hướng dẫn đường đi ngắn nhất từ các hướng tới thẳng Dinh Độc Lập. Điện của Phó tổng biên tập Đỗ Phượng gửi vào hàng ngày, được anh Đào Tùng trích đọc cho toàn thể cán bộ, phóng viên đang hội quân tại "đại bản doanh" của TTXGP ở Tây Ninh. Nhờ đó chúng tôi hình dung ra không khí sôi động ở Thủ đô và cả nước.

Tôi háo hức và xúc động run người khi nghe Phó tổng biên tập Đỗ Phượng trong một bức điện kể, đêm đêm ông và nhiều đồng chí lãnh đạo thông tấn thức theo dõi tin chiến thắng và rất hồi hộp nghĩ không hiểu liệu phóng viên nào sẽ may mắn có mặt đầu tiên để bấm máy và viết bài tường thuật về Sài Gòn trong những phút giây lịch sử.

Sáng sớm 29 - 4 -1975 anh Trần Thanh Xuân đi com-măng-ca dẫn đầu đoàn phóng viên TTXGP tiến về Sài Gòn. Còn tôi và Văn Bảo được anh Đào Tùng tiễn ra tận cửa rừng. Phút chia tay, anh ân cần dặn dò và chụp với hai chúng tôi một bức ảnh kỷ niệm.

Cả nghìn cây số dọc đường chiến tranh, bom rơi đạn nổ, bao hiểm nguy rình rập, bao tình huống tưởng không thể khắc phục rồi cũng vượt qua. Chúng tôi đã từng chạy bộ đẩy xe cả chục cây số dưới trời trưa nắng như đổ lửa để giúp lái xe vượt qua những trảng cát ngút ngàn. Chúng tôi đã từng vào làng mượn thuyền của dân buộc ghép lại thành chiếc phà tự tạo có một không hai, cho ô tô bò lên rồi bơi đẩy cả thuyền và xe chòng chành vượt sông khi cầu bị địch phá hủy. Chúng tôi từng hút chết giữa đêm trên "đường số 7 kinh hoàng" ngổn ngang xác địch rút chạy từ Tây Nguyên về đồng bằng, khi quả bom sót lại bên đường phát nổ, khói bụi trùm phủ tất cả.

Chúng tôi cũng đã có những giờ phút cực kỳ hoành tráng khi các chiến sĩ pháo binh bất ngờ đón bằng xe bộ đàm đi trước, xe tiểu đội bảo vệ súng đạn đầy mình đi ngay phía trước và phía sau hai chiếc Uoát của chúng tôi. Các chiến sĩ đã đón nhầm anh Đào Tùng vì cứ nhầm tưởng anh là Trung tướng Doãn Tuế, Tư lệnh pháo binh của mình. Đi trong đoàn xe hộ tống tiến về Phù Cát (Quy Nhơn ) vừa được giải phóng tức thời, anh Đào Tùng cười sảng khoái: "Vui thật. Thời buổi thần tốc đánh giặc, cứ ai đi trước thì là tướng. Hay thật đấy!". Gặp Trung tướng Doãn Tuế ngay sau đấy, câu chuyện này được thuật lại giữa không khí lửa khói của chiến trường, anh Đào Tùng, anh Doãn Tuế và cả chúng tôi với các sỹ quan có mặt đã ôm nhau cười vui như chưa bao giờ vui đến thế...

5 giờ sáng ngày 30 - 4 chúng tôi được lệnh lên đường. Anh Trần Thanh Xuân thông báo quân ta đã tiến sát Sài Gòn và yêu cầu các phóng viên phải bằng mọi cách vượt lên bám sát các lữ đoàn xe tăng tiến thẳng vào Dinh Độc Lập.

Xe máy tăng ga, đồng hồ báo tới trên 50km/giờ. Văn Bảo đèo tôi vượt lên dòng thác người và xe cộ nườm nượp trên đường...

Trần Mai Hạnh (trên xe máy, đeo kính) và các phóng viên TTXGP tại cửa ngõ Sài Gòn sáng 30 - 4 - 1975

Khoảng 11giờ45 phút trưa 30 -4 -1975 tôi tới được Dinh Độc Lập. Sự kiện lịch sử vừa diễn ra. Cờ chiến thắng vừa được cắm trên nóc Dinh Độc Lập. Trần Mai Hưởng, Vũ Tạo, Ngọc Đản, Hoàng Thiểm, Đinh Quang Thành... đi theo sư đoàn 304 và lữ đoàn xe tăng 203 của Quân đoàn 2 đã có mặt trước chúng tôi ít phút, các anh đã kịp ghi lại nhiều hình ảnh về những phút giây lịch sử. Tôi tìm hiểu ngay các dữ kiện không thể thiếu của bài tường thuật: mấy giờ chiếc xe tăng đầu tiên húc tung cánh cửa chính Dinh Độc Lập? Mấy giờ cờ chiến thắng được cắm trên nóc Dinh Độc Lập? Chiến sĩ cắm cờ tên là gì? Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng như thế nào, ta tuyên bố chiến thắng như thế nào?... rồi lao lên ngay tầng 2. Toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn vừa tuyên bố đầu hàng còn ngồi ở đó. Tôi lập tức hỏi và ghi lại cuộc đối thoại lịch sử giữa Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh và cán bộ chỉ huy Quân giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập (sau này tôi được biết đó là đồng chí Phạm Xuân Thệ, lúc đó là đại úy, trung đoàn phó trung đoàn 66 của Quân đoàn 2 cùng với lữ đoàn xe tăng 203 của quân đoàn được lệnh đột kích, thọc sâu đánh chiếm Đinh Độc Lập). Tôi và Văn Bảo ra ngay bến Nhà Rồng. Tại đây Văn Bảo đã chụp được bức ảnh lịch sử, một chiếc tầu hải quân ngụy bị pháo ta bắn trúng bốc cháy ngùn ngụt, tôi phỏng vấn được một công nhân làm việc lâu năm ở cảng về tình cảm sâu nặng của người dân Sài Gòn với Hồ Chủ Tịch kính yêu và ngày thống nhất đất nước...

Sau khi viết xong bài tường thuật, tôi loay hoay không biết chuyển về Hà Nội bằng cách nào, cứ loanh quanh ở Việt tấn xã ngóng chờ xe chở điện đài và các điện báo viên của TTXGP. Mãi chiều tối các anh mới tới. Sau khi các đồng chí điện báo viên tìm chỗ đặt máy, căng ăng ten bắt được liên lạc tôi liền đưa bài tường thuật để các đồng chí điện về, không phải điện về Hà Nội mà là điện về trụ sở TTXGP trên rừng Tây Ninh.

Sau này tôi được biết tối đó anh Phạm Vỵ, cán bộ Phòng thư ký Bộ biên tập cùng đi trong đoàn đã trực cạnh điện đài, xé từng đoạn bài tường thuật của tôi đang được điện về để anh Đào Tùng duyệt lại trước khi điện báo viên dùng điện đài công suất lớn điện tiếp về Hà Nội. Vì điện báo viên phải đánh mooc từng chữ, chữ "a", chữ "b", chữ "c"nên rất mất thì giờ. Bài tường thuật được đăng trên bản tin Đấu tranh thống nhất của Ban biên tập tin miền Nam của VNTTX phát báo ngay trong đêm 30 -4 -19745 cũng với đầu đề "Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng". Bản tin phát báo đêm 30 -4 -1975 bằng têlêtíp của VNTTX chắc do quá khuya nên Báo Nhân dân ra sáng 1 -5 -1975 không đăng kịp. Báo Nhân dân ngày 2 -5 -1975 đã đăng toàn văn bài tường thuật này nhưng đặt lại đầu đề là "Tiến vào Phủ tổng thống ngụy". Bài báo ghi rõ tên người viết "Trần Mai Hạnh, phóng viên VNTTX tại Sài Gòn".

Tối 30 - 4 - 1975, sau khi điện được bài tường thuật về Hà Nội, trên chiếc com-măng-ca cắm cờ giải phóng tôi đi khắp Sài Gòn. Tôi cứ trên ô tô đi hết đường này tới khu khác, say sưa ngắm Sài Gòi trong đêm đầu tiên nguyên vẹn trở về trong lòng đất nước thống nhất. Sài Gòn - "hòn ngọc viễn đông " - lung linh, rực sáng ánh điện. Khi về tới trụ sở Việt tấn xã thì đã quá nửa đêm.

Sáng sớm 1 -5 -1975, việc đầu tiên tôi làm và kết quả thật nhanh chóng. Đó là "GIẤY CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT" của Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn -Gia Định cấp, cho phép tôi với tư cách phóng viên được phép hoạt động nghiệp vụ trên toàn thành phố và yêu cầu các đơn vị và chính quyền các cấp giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ. "GIẤY CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT" ghi cả số khẩu súng ngắn K54 mà tôi được cấp từ Hà Nội. Đó có lẽ là chiếc thẻ nhà báo đầu tiên được chính quyền cách mạng (Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Đinh) cấp tại Sài Gòn trong buổi bình minh của lịch sử thành phố.

Giấy công tác đặc biệt Ủy ban quân quản Sài Gòn - Gia Định cấp ngày 1 -5 -1975 cho pv Trần Mai Hạnh

Trong lúc tôi xin "GIẤY CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT" của Ủy ban quân quản, thì theo chỉ thị của anh Đào Tùng lúc tiễn tôi và anh Văn Bảo ở cửa rừng Tây Ninh, anh Văn Bảo đã kiếm được địa điểm làm trụ sở cho Phân xã Việt Nam thông tấn xã tại Sài Gòn. Anh cắm cờ Mặt trận vào cổng ngôi nhà đó và kiếm miếng bìa treo lên với dòng chữ viết tay của anh: "Cơ quan Việt Nam thông tấn xã tại Sài Gòn". Nhờ biết lái ô tô, anh Văn Bảo đánh mấy chiếc ô tô cực xịn vứt bỏ trên đường, trong đó có chiếc xe Zep mới tinh, màu trắng của Phủ tổng thống ngụy về ngôi biệt thự mà anh vừa kiếm được và nhanh chóng "tuyên bố chủ quyền". Cũng tại đây, ngày 1 - 5 tôi đã gửi một bức điện về căn cứ TTXGP trên rừng Tây Ninh báo cáo công việc với anh Đào Tùng.

Bức điện này, anh Phạm Vỵ, cán bộ Phòng thư ký Bộ biên tập VNTTX cùng đi trong đoàn được anh Đào Tùng giao đã lưu giữ suốt 31 năm, và trao lại cho tôi đúng sáng ngày 30 - 4 - 2006, tại cuộc gặp mặt cán bộ, phóng viên TTXVN từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử do ông Đỗ Phượng chủ trì. Bức điện do điện báo viên TTXGP nhận, viết tay trên giấy đã ố vàng, bút tích có ghi:

" Hỏa Tốc.

Kg Anh Hai Đào

Nhận lúc 16 h , 1 - 5

Đã gọi điện ngay sang B22

để b/c điện này song o liên lạc đc "

Bức điện ở thời điểm lịch sử ngày ấy, hiện tôi đang lưu giữ, nội dung như sau :

" Điện anh Hai Đào Tùng

Báo cáo anh đã tìm được trụ sở ở 126 Phan Đình Phùng

và xin được 3 xe ô tô. Đề nghị anh cho anh Phạm Vỵ (thư

ký) và các anh Vĩnh, Sửu (lái xe) xuống ngay, sớm giờ

nào hay giờ ấy. Cánh Lâm Hồng Long, Hứa Kiểm... về ở cả

đây nên sinh hoạt, kinh phí có nhiều khó khăn. Đề nghị anh

cho chỉ thị gấp. Nếu anh không xuống được trong 1, 2 ngày

tới thì xin anh có thư trao đổi với anh Năm Xuân.

Sài Gòn 1 - 5 - 75

Mai Hạnh "

Phù hiệu phóng viên tại lễ mít tinh ra mắt UBQQSG - GĐ 7 -5 -1975

Buổi thời sự đặc biệt của Đài tiếng nói Việt Nam trưa 1 -5 -1975, sau khi đọc bản tin đặc biệt của TTXGP: "Từ sáng 1 - 5 -1975, toàn bộ miền Nam nước ta đã hoàn toàn giải phóng", đã đọc trang trọng bài tường thuật "Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng"của tôi. Mở đầu bằng câu "Cùng với các chiến sĩ Quân giải phóng, từ hướng tây - bắc, theo đường số 1, chúng tôi tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn. Thành phố Hồ Chí Minh hiện ra trước mắt chúng tôi trong một cảnh tượng rất đỗi huy hoàng...", bài tường thuật kết thúc với đoạn văn chính luận, giàu cảm xúc: "... Khi tôi đang viết những dòng này thì đường phố Sài Gòn rào rào rung chuyển bước chân của hàng triệu người. Trong tiếng reo hò, chào mừng, tiếng nói cười hân hoan và muôn nghìn âm thanh khác nhau hòa thành tiếng nói lịch sử : Từ nay chấm dứt 117 năm sống trong nô lệ. Từ nay vĩnh viễn sống trong độc lập, tự do. Cách mạng Tháng Tám thành công chưa được mấy ngày, Sài Gòn đã đi đầu trong cuộc kháng chiến thần thánh của đất nước, chống thực dân Pháp, và sau đó là kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với chiến thắng lẫy lừng ngày hôm nay, Sài Gòn đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của mình, cắm cờ chiến thắng trên dinh lũy cuối cùng của địch. Sài Gòn đi trước về sau, ngày hôm nay đã làm rạng rỡ hơn bao giờ hết cái tên gọi thân yêu: "Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng ".

Tôi đã rưng rưng nước mắt. Đời phóng viên có hạnh phúc nào, có niềm xúc động nào lớn lao hơn thế. Tuy ký tên tôi, nhưng bài tường thuật là của cả một tập thể với công sức của bao người... (Bộ Biên tập VNTTX, anh Đỗ Phượng, anh Đào Tùng....)

Nhờ có "GIẤY CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT" của Ủy ban quân quản tôi đã đi được khắp thành phố, gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, thu thập được nhiều tài liệu, tư liệu giá trị.

Và một cơ duyên, tôi may mắn có được trong tay đầy đủ nội dung các lời khai, những bản cung, những bản tường trình của nhiều tướng lĩnh thuộc Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn và cả bốn vùng chiến thuật bị ta bắt tại trận hoặc ra trình diện chính quyền cách mạng; những tài liệu nguyên bản của phía bên kia gồm các thư từ, điện văn của tổng thống Mỹ Ních-xơn và G. Pho gửi Nguyễn Văn Thiệu; biên bản một số cuộc họp "Hội đồng an ninh quốc gia" của Thiệu; điện chỉ huy tác chiến của Thiệu và Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn trong toàn bộ quá trình diễn ra sự sụp đổ; phúc trình của một số tướng lĩnh quân đội Sài Gòn sau khi để mất các tỉnh thuộc quân khu I và quân khu III. Cùng với nó là thú nhận qua hồi ký và trả lời phỏng vấn của nhiều nhân vật chủ chốt gần gũi với Nguyễn Văn Thiệu, sau ngày giải phóng chạy ra sống ở nước ngoài; báo, tạp chí ở Mỹ, các nước phương Tây và Sài Gòn và những tài liệu tôi thu thập được trong quá trình tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với nhiệm vụ là đặc phái viên của Thông tấn xã Việt Nam. Nhờ đó tôi viết được một số tác phẩm văn học đã được xuất bản như: "TÌNH YÊU VÀ ÁN TỬ HÌNH" (Nhà xuất bản Thanh Niên", "SỤP ĐỔ VÀ TỰ THÚ", "NGÀY TẬN THẾ" (Nhà xuất bản QĐND).

Cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử "NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA" tôi cũng đã cơ bản hoàn thành, năm 2000 tiểu thuyết đã được báo Văn nghệ đăng nhiều kỳ và Đài tiếng nói Việt Nam đọc dài kỳ trong buổi đọc truyện đêm khuya.

Lẽ ra cuốn sách "NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA" đã được xuất bản từ năm 2002, nhưng không may ở thời điểm đó, tôi bị vướng vòng lao lý, chương cuối cùng chưa xong, không kịp nộp nhà xuất bản theo hợp đồng, đành gác lại.

Sau tai họa năm 2002, trong lễ kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tại cuộc gặp mặt, giao lưu với các phóng viên TTXVN từng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, ngoài lời kể của anh Văn Bảo về chuyến đi của hai anh em tôi, không ai nhắc đến số phận lịch sử của bài tường thuật về những giờ phút trọng đại vào trưa 30 - 4 - 1975 ở Dinh Độc Lập nữa. Nhân tình, thế thái và xã hội đã nhiều đổi thay. Có những thời điểm, con người không những chỉ cần phải im lặng mà còn cần phải biết cách im lặng thế nào.

Ba sáu năm - lại ngồi viết về những ngày tháng Tư của 36 năm trước. Anh Đào Tùng, thủ trưởng kính mến của tôi, anh Văn Bảo, anh Lâm Hồng Long, anh Lam Thanh và nhiều phóng viên TTXVN từng cùng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 nay không còn nữa. Những sự kiện lịch sử chỉ diễn ra một lần, cũng như đời mỗi con người chỉ sống có một lần. Nhưng để hiểu hết chân giá trị của lịch sử, để hiểu đúng một con người lại cần có thời gian, nhiều khi không thể chỉ đánh giá một lần. Lịch sử và cuộc sống luôn là một dòng chảy liên tục, bất tận. Trong cuộc sống hiện tại ngày hôm nay có nền tảng và những giá trị tinh thần vô giá của quá khứ đồng thời nó cũng chứa đựng mầm mống và sức sống mãnh liệt của tương lai...


29/04 Dương Văn Minh qua con mắt những thuộc cấp

Tác giả: HUỲNH PHAN

"Cái giá của 30 năm chiến tranh (1945-1975) nó nặng nề lắm. Mọi người phải hiểu, để bình tĩnh mà phát triển" - nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nói trong cuộc họp báo với phóng viên quốc tế nhân 35 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.

>> Một tháng sau 30.4: Sự mở đầu và kết thúc

Trong hồi ức của mình, Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái, người có mặt khi ông Dương Văn Minh, Tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn đọc tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn vào trưa 30.4.1975, đã viết:

"... Dẫu sao ông cũng đã hy sinh danh dự của một tướng lãnh (dù là một tướng bại trận) để cứu thành phố này khỏi cảnh tàn phá và đổ nát. Sau này tôi mới biết là ông và bộ tham mưu từ mấy ngày qua đã quyết định đầu hàng dẫu có bị đối xử không tương xứng của phía đối nghịch.

Đó cũng là một hành động can đảm và đáng ca ngợi của một Phật tử vào cuối đời. ... Ít ra ông còn giữ được nguyên vẹn Sài Gòn và phần còn lại của miền Nam tránh khỏi đổ nát và đổ máu thêm một cách vô ích...

Nhận xét của người cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn đã được một nhân chứng lịch sử - cựu Đại uý Phạm Xuân Thệ (nay là Trung tướng) - khẳng định một phần trong các bài viết về ông.

Phần còn lại cũng đã được nói tới bởi những nhân chứng lịch sử khác, ở một lát cắt lịch sử khác, và từ một góc nhìn khác. Họ là ông Nguyễn Hữu Hạnh, chuẩn tướng Quân đội Việt Nam Cộng hoà, Luật sư Triệu Quốc Mạnh, hay nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu - những thành viên của cái nội các cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Thường là trong các cuộc họp báo quốc tế, được tổ chức 5 năm một lần.

Ngày 28.4 năm ngoái, họ lại tiếp tục thực hiện cái nhiệm vụ định kỳ này. Nhưng với họ, cuộc họp báo hôm đó không hề mang tính nghĩa vụ nữa, mà đã có thêm ý nghĩa của một sự sẻ chia một hồi ức chung. Và những câu hỏi từ dưới cử toạ lại mang ý nghĩa của một sự gợi mở.

Bởi trong số cử toạ ở dưới có một nhóm nhỏ phóng viên quốc tế - những người đã từng có mặt trên mảnh đất Sài Gòn này trên dưới bốn thập kỷ trước, và cũng chứng kiến được nhiều điều tương tự như họ. Mặc dù, không nhất thiết phải là những ngày cuối của tháng Tư năm 1975.

Đó là những cái tên như Simon Dring và Jim Pringle (Reuters), Don Kirk (Washington Star), Mike Morrow (Dispatch News Service), hay James Caccavo (Red Cross).

Các phóng viên nước ngoài tại cuộc họp báo quốc tế tổ chức ngày 28.4.2010 tại TP.HCM

Tất cả những điều đó gộp lại đã khiến cho người viết, từng tham dự ba cuộc họp báo tương tự trước đó, kể từ năm 1995, tại Sở Ngoại vụ TP HCM, cảm nhận được một sự cởi mở chưa từng có, đúng hơn là sự "mở lòng". Nhất là khi các nhân chứng nói về ông Dương Văn Minh, đại tướng, Tổng thống VNCH - một nhân vật gây tranh cãi trong những ngày cuối cùng của tháng Tư lịch sử ấy, trước khi Đại uý Thệ và các đồng đội của ông tiến vào Dinh Độc Lập.

Và qua đó, người viết cũng hiểu thêm rằng, tại sao cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhận xét về ông Dương Văn Minh trong bài trả lời phỏng vấn tuần báo Quốc tế nhân 30 năm thống nhất đất nước (30.4.2005)

"Bản thân tôi cùng với anh em được giao tiếp quản Sài Gòn năm 1975, một Sài Gòn nguyên vẹn sau một cuộc chiến tranh như vậy, tôi nghĩ không thể không nói đến vai trò của nội các Dương Văn Minh và các lực lượng chính trị đối lập với Mỹ - Thiệu, có quan hệ với chính phủ Dương Văn Minh lúc bấy giờ".

Tuần Việt Nam giới thiệu lại cuộc họp báo quốc tế tại TP.HCM ngày 28/4/2010 như một tư liệu để tham khảo.

Simon Dring: Vào thời điểm cuối 1964, khi lực lượng Việt Cộng hoạt động rất mạnh và rất gần khu vực Sài Gòn, một số người nghĩ rằng Sài Gòn sẽ nhanh chóng bị thất thủ. Lúc đó, Mỹ chưa đưa quân vào Việt Nam.

Xin cho biết cảm nghĩ của ông lúc đó. Ông muốn chiến tranh kết thúc với sự thất thủ của Sài Gòn, hay người Mỹ đưa quân vào?

Ông Nguyễn Hữu Hạnh
Nguyễn Hữu Hạnh: Tôi là trung tá, trưởng phòng 2 cho ông Dương Văn Minh, từ năm 1959. Lúc đó, ông Minh là Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân.

Tất cả những nhân vật quan trọng (của Mỹ) đến Việt Nam đều đến thăm ông Minh hết, và (những lần đó) đều có mặt tôi hết. Họ đều hỏi ý kiến ông Minh về việc đưa quân Mỹ vào Việt Nam. Nhưng ông Minh đều từ chối.

Khi đảo chính Ngô Đình Diệm, ông Minh đã phá tất cả những ấp chiến lược mà Mỹ đã làm. Điều đó đã khiến Mỹ không bằng lòng.

Mỹ lại yêu cầu đổ quân vào miền Nam, và ông Minh lại từ chối. Mỹ yêu cầu ném bom miền Bắc và phá đê sông Hồng, ông Minh cũng lại từ chối. Lúc đó, người Mỹ nói rằng ông Minh là người khó hợp tác. Thế là năm 1964, Nguyễn Khánh đảo chánh Dương Văn Minh.

Dương Văn Minh là người muốn chấm dứt chiến tranh cho đất nước Việt Nam, mặc dù ổng cầm súng của Mỹ. Có nhiều người có nhiều cách nói về ông ấy lắm. Khi ông ấy lên Tổng thống, ông ấy ký một cái giấy yêu cầu cố vấn của Mỹ phải rút đi trong vòng 24 tiếng đồng hồ, để giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Mike Morrow: Tôi được biết Dương Văn Minh có người em trai ở phía bên kia. Vậy ông Minh, và có thể là cả ông nữa, lần đầu tiên liên hệ với Mặt trân Dân tộc Giải phóng là khi nào? Những năm 50, 60, hay chỉ đến khi Sài Gòn chuẩn bị sụp đổ?

Nguyễn Hữu Hạnh: Câu hỏi tốt. Tôi có thể nói rằng người Việt Nam chúng tôi có tới 95% là có người thân ở cả hai phía. Tôi cũng có những người bà con là đảng viên cộng sản. Hay ông Võ Văn Kiệt, một người lãnh tụ ở miền Nam này, cũng có người thân bên phía chúng tôi.

Có điều, lúc đó người Mỹ chưa có hiểu người Việt Nam đâu. Nếu có ai đó mà có tội do liên quan đến cộng sản, ngay ở chính quyền Sài Gòn cũng vẫn có người cảm thông, giúp đỡ. Tôi không hiểu người Mỹ, hay CIA, có hiểu được điều này không, nhưng đây là một đặc điểm quan trọng của người Việt chúng tôi.

Vào ngày 2.5.1975, khi mà ông Dương Văn Minh gặp ông Trần Văn Trà - một tướng cộng sản, người nhận lãnh thành phố này -, ông Trà đã nói rằng giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà dân tộc Việt Nam chúng ta thắng đế quốc Mỹ.

Don Kirk: Tôi có nghe về những trại cải tạo sau 4.1975. Chẳng hạn, đến năm 1985, tôi được nghe rằng có những người đi cải tạo mà vẫn chưa được về. Điều này có ngược lại tinh thần của Tướng Trà nói với Tướng Minh hay không?

Câu hỏi này cũng rất hay. Chắc ông cũng biết là trong lúc mới giải phóng, ý tưởng của Đảng (Cộng sản Việt Nam) là như vậy.

Nhưng nói thực sự với quý ông, tôi được mời tham vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của thành phố (HCM), nhưng mà tôi vẫn ái ngại về điều đó. 30 năm đánh nhau ắt hẳn phải có điều nọ điều kia giữa những người nọ và những người kia.

Vào năm 1988, tôi có viết một cái bài về hoà hợp dân tộc. Tôi vẫn nghĩ rằng (mặc dù) Đảng Cộng sản Việt Nam muốn điều này, nhưng vẫn còn để một số vấn đề xảy ra.

Sau bài viết của tôi, ông bí thư (thành uỷ), rồi ông chủ tịch Mặt trận, đã có những hành động tốt. Các quý vị cũng biết là sau khi hai bên đánh nhau, thì cũng có nhiều khó khăn để giải quyết lắm, và cũng cần thời gian.

Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của chính quyền Dương Văn Minh tại trại David, kể:

Chiều 28.4, ông Dương Văn Minh nhậm chức. Sáng 29.4, ông Dương Văn Minh cử tôi đưa một phái đoàn đi trại David, nơi có đại diện của chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, để điều đình việc ngưng chiến.

Tôi được đại diện của phía bên kia cho biết là chiến dịch Hồ Chí Minh đã bắt đầu, và vì thế không thể ngưng chiến ngay được, mà cần một thời gian.

Simon Dring: Vào lúc 11:30 ngày 30.4, ông đang ở đâu? Có phải đang trong trại David không?

Nguyễn Đình Đầu: Trưa 29.4 tôi đã về rồi.

Simon Dring: Khi đến trại David, không biết ông có thảo luận với phía Mỹ ở đó không?

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu
Nguyễn Đình Đầu: Không. Tôi chỉ đến gặp đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời thôi.

Chiều 29.4 vẫn còn đánh nhau. Chúng tôi cùng với ông Dương Văn Minh nghĩ rằng ngoài vấn đề thương thuyết, có lẽ chính quân đội của ông phải có thái độ "đàm phán" mạnh hơn nữa thì mới có thể ngưng chiến được.

Sáng 30.4, chiến sự vẫn diễn ra gần Sài Gòn. Đến 9 giờ ông Dương Văn Minh đã ra nhật lệnh cho quân đội là đơn phương ngừng bắn, và chờ bên đối phương đến để trao quyền hành.

Cho nên, việc giải phóng thành phố này không có chiến tranh, không có chuyện hai bên đánh nhau. Và đến 11:30 quân giải phóng chiếm được Dinh Độc lập.

Nhiệm vụ của tôi tuy không thành công, nhưng vẫn coi như đã thành công.

Nữ phóng viên từ Romania: Xin cho biết cuộc sống của ông 35 năm vừa rồi ra sao.

Nguyễn Đình Đầu: Trước 30.4.1975, người ta coi tôi thuộc thành phần thứ ba. Tôi có một số người bạn ở chế độ cũ, và có một số người bạn bên cách mạng. Do lẽ đó mà ông Dương Văn Minh nhờ tôi đi điều đình việc ngừng bắn vào 29.4.

Lúc đó tôi 55 tuổi, còn bây giờ tôi 90 tuổi. Sau ngày giải phóng, tôi không có công, nhưng cũng không có tội. Thành thử tôi được làm nghề nghiên cứu tự do. Nhờ trời thương nên cũng có một số kết quả trong các công trình nghiên cứu sử, địa.

Tôi muốn nhắc lại là cái giá của 30 năm chiến tranh (1945-1975) nó nặng nề lắm. Mọi người phải hiểu, để bình tĩnh mà phát triển.

Ông Dương Văn Minh trả lời phỏng vấn của phóng viên nước ngoài. Ảnh tư liệu

Luật sư Triệu Quốc Mạnh, nguyên Đô trưởng cảnh sát Sài Gòn - Gia Định, kể:

Trước giải phóng tôi là thẩm phán, từ năm 1963 đến tháng 4. 1975. Khoảng 14 ngày trước giải phóng, ông Dương Văn Minh ngỏ ý mời tôi nắm chức đô trưởng cảnh sát Sài Gòn - Gia định. Và khi nhậm chức, người đầu tiên ông Minh tuyên bố bổ nhiệm là tôi.

Mặc dù trong chính phủ Dương Văn Minh cũng có những người muốn nắm giữ cảnh sát để tiếp tục chống lại Cách mạng, nhưng ông Dương Văn Minh, theo chúng tôi biết, đã không muốn như vậy.

Cho nên, khi tôi nắm được cái đài chỉ huy tác chiến và lệnh của tôi là không được nổ súng trước. Lý do mà tôi giải thích là lúc đó là thời gian đang thương thuyết.

Tôi nói láo với họ rằng việc đàm phán là có kết quả 60% rồi cho nên toàn thể phải nghe tôi. Tôi chỉ huy bằng cách ra lệnh không được nổ súng trước, nên rất thuận lợi cho việc tiến quân vào Sài Gòn của bộ đội.

Điều thứ hai là tôi lập danh sách tất cả những tù chính trị và ký tên để phóng thích họ.

Điều thứ ba là giải tán lực lượng cảnh sát đặc biệt. Bởi cảnh sát có hai loại, một là loại mặc sắc phục chuyên giữ trật tự trị an, và hai là là loại đặc biệt, chuyên bắt bớ những người làm chính trị, sinh viên, công nhân....

Tôi ngồi trên chiếc xe, mang quân hàm chuẩn tướng, đi thị sát một số nơi, chứ không ở cùng nội các ông Minh trong Dinh Độc lập.

Tôi có thể nói với quý vị, chỉ huy kiểu đó, chắc có người cười tôi lắm. Nhưng sự hiệu quả là bộ máy cảnh sát gồm 16 ngàn người trở nên rệu rã trong ngay ngày 29.4.

Jim Pringle: Ông nghĩ như thế nào về việc Tướng Loan (Nguyễn Ngọc Loan), cũng là chỉ huy trưởng lực lượng cảnh sát, đã bắn chết một tù binh Việt Cộng trong ngày thứ nhất, hoặc ngày thứ hai của cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968?

Luật sư Triệu Quốc Mạnh
Triệu Quốc Mạnh: Lúc đó, tôi biết Tướng Loan. Tôi xin diễn tả hình ảnh Tướng Loan một chút thì các vị sẽ biết Tướng Loan là ai. Một kẻ điên hay khùng, hay gì đó tương tự.

Ngày nào cũng vậy, (ông ta) cặp nách một chai rượu và tay bên kia cầm một khúc chả lụa,. Vừa nốc rượu, ông ta vừa làm việc với sĩ quan của mình.

Khi đó, Bộ trưởng Tư pháp của chế độ Sài Gòn là Huỳnh Đức Bửu dự hội nghị ở Teheran, và họ đã đưa cái ảnh đó (Tướng Loan bắn tù binh Việt Cộng) ra. Tay bộ trưởng này về nói với chính phủ là muốn độn thổ luôn.

Hồng Nga (BBC):

Tôi biết ông là đảng viện cộng sản. Vậy ông vào Đảng thế nào, và ông Dương Văn Minh có biết điều đó không, khi ông ta bổ nhiệm ông làm đô trưởng cảnh sát?

Gần 10 năm sau, khi có một bài báo của một người rất quan trọng viết, ông ta mới tiết lộ rằng tôi là người của Cách mạng.

Gia đình tôi, bạn bè tôi, tuyệt đối không ai biết tôi là người cộng sản. Chính vì vậy, ông Dương Văn Minh và nội các của ông ta cũng hoàn toàn không biết điều đó.

Cái ý của ông Minh, theo tôi nắm được, là một ngày nào đó có sự bàn giao giữa chính quyền mới và cũ sẽ có sự xáo trộn trong dân rất lớn. Thù oán, xung đột, giết chóc nhau. Vậy ai giữ gìn cái này, và ai có kinh nghiệm của xã hội Sài Gòn lúc này?

Chắc là anh em xung quanh ông Dương Văn Minh đánh giá tôi là người có sự chuyên nghiệp. Bởi tôi sinh tại đây, sống tại đây, trưởng thành tại đây, học và làm quan toà tại đây. Tôi cũng rất gần gũi với cảnh sát tại đây.

Simon Dring: Kể từ khi vào Đảng, ông đã có những đóng góp tích cực gì cho Cách mạng với tư cách thẩm phán?

Triệu Quốc Mạnh: Tôi vào Đảng Cộng sản tháng 6.1966. Tôi vừa đóng vai nói trên, vừa hoàn thành nhiệm vụ thẩm phán một cách hoàn hảo.

Về đóng góp cho Cách mạng, tôi có hai việc làm được.

Với tư cách thẩm phán, tức là làm cho Bộ Tư pháp, tôi nắm được mấy hồ sơ mật về an ninh mà toàn quốc gửi về cho Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp. Tôi thấy cái nào có lợi cho việc sớm chấm dứt chiến tranh, có lợi cho Cách mạng, tôi cũng có bàn với những người lâu lâu có liên hệ với tôi.

Nhiệm vụ thứ hai là tôi làm thẩm phán, có gần gũi với những người hoạt động chính trị, có xu hướng đòi độc lập, đòi hoà bình, thì bàn với họ làm sao để có cách hoạt động, nhất là gầy dựng phong trào có lợi.