Friday, July 29, 2011

29/07 Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế khóa 12: “Tôi tiếc nuối!”


picture
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền trao đổi với một đại biểu Quốc hội.
▪  NGUYÊN THẢO
10:35 (GMT+7) - Thứ Sáu, 29/7/2011

Quốc hội khóa 13 đang bỏ phiếu bầu các chức danh chủ chốt của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội.

Vẫn chủ trì thẩm tra về tình hình kinh tế, xã hội, vẫn gửi kiến nghị về ổn định kinh tế vĩ mô đến Quốc hội khóa mới…, Ủy ban Kinh tế khóa 12 vẫn giữ mạch nghị trường. Trong khi, người đứng đầu, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền đang tỉ mỉ chuẩn bị bàn giao công việc cho người kế nhiệm, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu.

Tại căn phòng làm việc quen thuộc trên tầng 4 nhà 37 Hùng Vương, ông Hiền đã dành ít phút trao đổi với VnEconomy.

Họp nhiều, mà lạm phát vẫn cao

Rất xin lỗi vì đã làm phiền Chủ nhiệm vào thời điểm mà chắc ông đang có những bâng khuâng, tiếc nuối…

Đúng là tôi có những điều tiếc nuối.

Bởi khi trúng cử Quốc hội khóa 12, lần đầu tiên làm đại biểu Quốc hội, cũng là lúc tôi nhận ngay nhiệm vụ Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế.

Đây là cơ quan mới được tách ra từ Ủy ban Kinh tế - Ngân sách, hoạt động nhiệm kỳ đầu tiên nên chưa có người tiền nhiệm truyền kinh nghiệm cho mình. Trong khi bản thân tôi trước đó chưa hề có khái niệm về chức năng, nhiệm vụ của ủy ban này.

Thú thực là mất thời gian đầu tôi bị hẫng, chưa bắt nhịp được với công việc. Nhưng sau đó xác định đã nhận vai thì phải vào vai cho tốt chứ tuyệt nhiên không có suy nghĩ là cứ túc tắc, làm được đến đâu hay đến đó và tôi cảm thấy đã vào cuộc khá nhanh.

Từ những bỡ ngỡ ban đầu đến nay mình đã thấm, đã yêu công việc, tìm thấy nhiều điều thú vị thì cũng là lúc phải chia tay…

Quả thật là tôi có tiếc nuối. Vì còn nhiều việc muốn làm mà không có điều kiện để thực hiện.

Xin được chia sẻ với tâm trạng của Chủ nhiệm. Nhìn lại nhiệm kỳ qua, công việc nào với ông là khó nhất?

Nhiệm kỳ 4 năm đầu tiên của Ủy ban Kinh tế diễn ra trong một giai đoạn kinh tế có nhiều biến động. Mà theo quy định thì báo cáo thẩm tra tình hình kinh tế, xã hội do ủy ban chủ trì thẩm tra phải trình bày tại phiên khai mạc các kỳ họp Quốc hội, được truyền hình trực tiếp đến cử tri cả nước.

Vì vậy, các nhận định, đánh giá tại báo cáo không chỉ phải thuyết phục được cả Chính phủ mà còn phải được đại biểu và cử tri đồng tình nữa. Do đó, công việc chuẩn bị, thẩm tra phải hết sức cẩn thận và công phu.

Điều rất mừng là thực tế đã cho thấy các quan điểm và kiến nghị của Ủy ban Kinh tế đều rất đúng đắn, phù hợp.

Vậy đã có đại biểu hay cử tri nào nhận xét là báo cáo thẩm tra kỳ  này nhạt quá hay tỏ  ý “chê” trực tiếp khi ông còn đương nhiệm không?

Tôi còn nhớ tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa 12, tôi trình bày báo cáo thẩm tra dài 14 trang, mà lúc đầu 17 trang, cắt đi cắt lại cuối cùng vẫn dài như thế. Sau đó có ý kiến góp ý là cần gọn hơn và mạnh mẽ hơn. Điều đó rất đúng, nên mình phải tiếp thu và sau này thì đã làm tốt hơn nhiều.

Có  vấn đề nào mà Ủy ban đã dày công theo đuổi suốt cả nhiệm kỳ không, thưa ông?

Có chứ. Đặt ra và theo đuổi từ đầu nhiệm kỳ đến nay chính là mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, giữa ổn định vĩ mô và tăng trưởng kinh tế.

Quan điểm xuyên suốt của Ủy ban là phải giải quyết những bất ổn vĩ mô từ gốc, coi ổn định vĩ mô là nền tảng cho tăng trưởng bền vững nên có những thời điểm chúng tôi đã kiến nghị giảm tăng trưởng để tập trung nhiều cho ổn định vĩ mô. Bây giờ thì ưu tiên ổn định vĩ mô đã được đặt lên hàng  đầu, với thông điệp mạnh mẽ hơn rất nhiều.

Nhưng bất ổn vĩ mô vẫn đang được coi là thách thức lớn nhất, và chất lượng tăng trưởng vẫn đang là hạn chế không nhỏ?

Đúng là như vậy. Cũng không thể không nói đến trách nhiệm của Ủy ban Kinh tế trong tình hình khó khăn hiện nay.

Ngay như nơi tôi ở, mấy bác mấy chị nói với tôi là là các anh họp hành nhiều mà lạm phát cứ tăng mãi, chúng tôi đi chợ như là bị mất cắp ấy anh ạ.

Trên thực tế thì có nhiều vấn đề mình cứ  đề cập mãi nhưng giải pháp không mang lại hiệu quả ngay, điển hình như việc chống lạm phát. Nên nếu nói là không có trách nhiệm của Ủy ban thì cũng không đúng.

Tuy nhiên nếu chiểu theo hoạt động của các cơ quan của Quốc hội là giám sát và đưa ra khuyến nghị thì chúng tôi đã làm được nhiều việc.

Hơn nữa, nhiều vấn đề không thể nóng vội mà phải có quá trình. Ưu tiên ổn định vĩ mô cũng là một quá trình, trước đây mình đề cập khác, mức độ khác, còn bây giờ thì quyết liệt hơn nhiều.

Một ví dụ, kỳ họp đầu năm nay khi bàn về bội chi ngân sách thì Chính phủ đề nghị 5,5% GDP, còn Ủy ban thì đề nghị dưới 5% GDP. Lúc đó quan điểm của chúng tôi có vẻ hơi cực đoan nhưng bây giờ thì Nghị quyết 11 của Chính phủ đã nêu rõ là giảm bội chi xuống dưới 5% GDP.

Nhiều vấn đề khác chúng tôi nêu cũng được Quốc hội đồng tình, và đó cũng là kết quả đáng ghi nhận khi bộ máy của Ủy ban chỉ có 8 nhân sự chuyên trách ở Trung ương (sau này chỉ còn có 5) và tất cả chỉ có 36 thành viên.

Điều quan trọng là phải làm theo cái đúng

Ý ông là nguồn nhân lực của Ủy ban quá mỏng?

Đúng vậy. Dù Ủy ban Kinh tế cũng có các chuyên gia giỏi, đóng góp rất tích cực cho công việc chung song nếu chỉ dựa vào nội lực thì chúng tôi khó có thể hoàn thành tốt được nhiệm vụ.

Vì vậy, điều tôi tâm đắc nhất trong nhiệm kỳ qua là chúng tôi đã xây dựng được mô hình hoạt động mở, tập hợp được ý kiến rất đa chiều và tranh thủ được sự đóng góp của đông đảo đội ngũ chuyên gia kinh tế trên cả nước.

Bên cạnh các cộng tác viên là những nhà kinh tế nổi tiếng, Ủy  ban còn phối hợp với Viện khoa học xã hội tổ chức nhiều hội thảo ở quy mô lớn với sự tham gia của các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức quốc tế, các trường đại học, nhiều chuyên gia giỏi kể cả các chuyên gia kinh tế độc lập. Ý kiến của họ là kênh thông tin cực kỳ quý giá, còn nếu chỉ gói gọn ý kiến trong Ủy ban thì có thể đánh giá không đầy đủ, không kết hợp được lý luận và thực tiễn nhất là khi đánh giá các vấn đề mang tầm vĩ mô.

Thưa ông, bên cạnh những thành công, liệu có thể dùng thẳng hai chữ "thất bại" để nói về công việc cụ thể nào đó của Ủy ban không?

Theo tôi thì hạn chế là có, nhưng thất bại thì không hẳn.

Ví dụ khi giám sát về quy hoạch điện thì Ủy ban làm rất tốt, song kiến nghị không thấm nên trên thực tế đã không chuyển biến là bao.

Nhưng có những giám sát khác thì có chuyển biến rất rõ, ngay từ khi bắt đầu thực hiện, như giám sát về sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước chẳng hạn.

Bên cạnh giám sát thì việc thẩm tra các dự  án luật cũng được cho là  rất gian nan. Có khi nào Ủy ban gặp phải những vận  động hành lang hoặc áp lực khi thực hiện việc này, thưa Chủ nhiệm?

Cũng có chứ, nhưng không nhiều. Điều quan trọng là phải làm theo cái đúng, chứ nếu mình nghiêng ngả, thỏa hiệp thì rất dở, cuộc sống sẽ không chấp nhận.

Cái khó ở đây là mình không thuần túy thẩm tra cái cơ quan soạn thảo đưa ra mà phải nêu được cái họ chưa đưa ra được mà cuộc sống thì lại đòi hỏi.

Ví dụ làm luật khoáng sản thì ban đầu dự thảo đâu có đưa ra quy định thu tiền cấp quyền khai thác mỏ đâu. Nhưng thực tế vì không có quy định này mà thất thoát rất lớn, vì có anh chỉ đi xin quyền khai thác rồi chuyển nhượng, người không có năng lực thì lại được nhận và ngược lại. Chúng tôi đã kiên trì vấn đề này và được Quốc hội ủng hộ.

Trên diễn đàn Quốc hội cũng có ý  kiến cho rằng kinh phí để xây dựng luật quá  ít, và chế độ cho đại biểu Quốc hội - kể cả chuyên trách - cũng rất thấp. Vậy khi đương nhiệm, ông có phải lo đến cả việc này không?

Lương của tôi hệ số 10,4 thì có ý kiến bảo còn cao hơn cả bộ trưởng. Với anh em thì tôi cũng phải nghĩ cách để họ có thêm thu nhập hợp pháp. Và tôi nghĩ nhiệm kỳ qua cũng không đến nỗi nào.

Nếu bây giờ có ý kiến nhận xét rằng đa số các chủ nhiệm ủy ban khóa 12, trong đó có cả Chủ nhiệm Hiền đã quá “tròn” trong nhiệm kỳ qua, ông sẽ trả lời thế nào?

Tôi sẽ hỏi lại xem thế nào là “tròn”? Tôi cho đó có thể là do phương pháp thôi. Bạn đã ra biển nhiều chưa, và có hiểu thế nào là sóng lừng không?

Không gay gắt khi không cần thiết nhưng không bao giờ dễ dãi với bất cứ cái gì, đó là Ủy ban Kinh tế, bạn à.

Tôi tin anh Nguyễn Văn Giàu

Dù tiếc nuối bao nhiêu thì cũng chỉ nay mai thôi công việc cũng sẽ được bàn giao cho người kế nhiệm, thưa ông. Ông có tin rằng điểm mạnh “không dễ dãi” sẽ được phát huy ở nhiệm kỳ này?

Tất nhiên là tôi tin, tôi cũng đang chuẩn bị thật chu đáo việc bàn giao cho chủ nhiệm mới đây.

Về nhân sự cụ thể, thì đã biết rõ ràng là Thống đốc Nguyễn Văn Giàu. Anh Giàu rất am hiểu về lĩnh vực tiền tệ, mà hoạt động ngân hàng chi phối nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, lại đã qua công tác địa phương rồi nên cũng có nhiều kinh nghiệm.

Hơn nữa nếu nội dung bàn giao tôi chuyển cho anh Giàu mà anh ấy chấp nhận được thì tôi hy vọng góp phần rút ngắn thời gian làm quen với công việc mới của anh Giàu.

Tôi sẽ cố gắng trao đổi thật tỉ mỉ với anh Giàu, và tin tưởng chắc chắn là người kế nhiệm sẽ làm tốt nhiệm vụ của người đứng đầu ủy ban.

Cá nhân tôi rất mong muốn Ủy ban sẽ tiếp tục mô  hình hoạt động mà chúng tôi đã công phu xây đắp nên trong nhiệm kỳ qua. Đó là huy động sức mạnh của nội tại và mở rộng hợp tác với bên ngoài, tiếp tục để lại dấu ấn qua các công việc cụ thể.

Việc nhiều thành viên Ủy ban tái cử nhiệm kỳ này chắc hẳn cũng là thuận lợi không nhỏ, thưa Chủ nhiệm?

Rất mừng là bên cạnh gần 50% thành viên ủy ban tái cử đều có nguyện vọng tiếp tục làm thành viên thì số đại biểu mới đăng ký vào ủy ban cũng rất đông. Đây cũng là thuận lợi với chủ nhiệm mới.

Tuy nhiên, làm chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế hay bất cứ  ủy ban nào của Quốc hội cũng không thể nói là dễ được. Để vừa được Quốc hội và cử tri thừa nhận, Chính phủ cũng thấy thuyết phục là rất khó.

Điều cần nhất là biết tổ chức, tập hợp và phát huy thế mạnh của từng thành viên Ủy ban cũng như sự hợp tác của các chuyên gia, cơ quan khác, tôi xin được chia sẻ như vậy.
 
Thảo luận (1 ý kiến)
(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)
 
pvd 08:48 (GMT+7) - Thứ Bảy, 30/7/2011
Trong khóa 12, chính phủ đưa ra triển khai thực hiện hết sức quyết liệt một loạt chính sách nhằm bình ổn nền kinh tế. Tuy nhiên vẫn chưa sớm đạt được hiệu quả chưa được như mong muốn.

Đúng là kinh tế vĩ mô rất khó. Tiến độ chưa thuận nên làm báo cáo thẩm tra rễ làm sao được.

Nhân đây này, mạn phép nêu ra một số ý kiến nhận xét cá nhân dưới đây; Đó là những boăn khoăn, rằng tại sao “độ trễ” chính sách lại lâu đến vậy để mọi người phân tích thêm.

1) Dư hưởng của “tập quán” thị trường thời “quan liêu bao cấp” còn quá lớn.

Cho đến giờ, đôi khi các biện pháp điều hành còn quá nặng tính mệnh lệnh hành chính. Điều này khiến các chính sách mới mâu thuẫn với nguyên lý “tự điều tiết” – đặc tính cơ bản của nền kinh tế thị trường – khiến nhiều khi kinh tế chở nên bất ổn, các cú sốc lớn nhỏ thường sảy ra, kèm theo sau mỗi chính sách kinh tế. Nó khiến “mạo hiểm chính sách” trở nên tiềm tàng và luôn là một trong những yếu tố đầu tiên, không thể không quan tâm đối phó của mọi cá nhân, tổ chức kinh tế đã đầu tư hoặc đang toan tính tham gia đầu tư KDSX.

Cách điều hành này là môi trường tốt cho các tập quán kinh doanh thời bao cấp. Do vậy, tuy đã qua nhiều năm đổi mới các tập quán này vẫn chưa bị đào thải triệt để. Hậu quả là trên thị trường vẫn tồn tại nhiều tiêu cực. Cơ chế “xin cho” vẫn còn; Các mánh “lách luật” nhằm chốn tránh chính sách, gian lận đầu tư thương mại vẫn phổ biến và đa dạng; Phát triển của hệ thống thông tin kinh tế thị trường không theo kịp tốc độ chuyển biến của nền kinh tế.

Những tiêu cực nói trên tạo thành những chướng ngại “bất cập” khiến hiệu quả của các chính sách đưa ra bị hạn chế rất nhiều. Trong đó, nguy hiểm nhất là sự yếu kém của hệ thống tin kinh tế thị trường.

Thông tin mập mờ, thiếu minh bạch là “lá chắn chắc chắn nhất” dành cho sự cố thủ của lề thói quan liêu bao cấp. Do đó đổi mới, xây dựng hệ thống thông tin kinh tế thị trường lành mạnh hơn, minh bạch hơn là hết sức cần thiết và cấp bách.
Đổi mới hệ thống thông tin kinh tế thị trường không phải việc rễ làm. Nên tránh các biện pháp thái quá, su thế quá tả để hạn chế tối đa những bất cập có thể phát sinh.

Đổi lại, tiến trình thực hiện phải rứt khoát được đảm bảo. Chất lượng thông tin phải cao hơn, minh bạch hơn từng bước một. Trước hết, phải xóa bỏ thói quen báo cáo “nói chung - năm sau cao hơn năm trước”; Đồng thời cải tiến và nâng cấp dần hệ thống quy tắc thống kê báo cáo và hệ thống quy tắc công bố thông tin định kỳ. Tiến tới chất lượng hệ thống thông tin kinh tế thị trường phải luôn được coi là yếu tố quan trọng trong đánh giá chất lượng của nền kinh tế, chất lượng của tất cả các cơ quan quản lý nhà nước, các bộ, các ngành cũng như đánh giá chất lượng của mọi thành phần, tổ chức, cá nhân tham gia nền kinh tế.

Một chính sách thông tin chất lượng cao cao sẽ giúp cho nền kinh tế luôn “tự hiểu mình” và tất yếu sự “tự sửa mình” sẽ là liên tục, không ngừng và ...không nhiều khó khăn, bất cập.

2) Hiệu suất sử dụng vốn không thể cải thiện ngay. Và trông cậy trọng tâm vào “xiết” tín dụng là chưa đủ.

So với năm 1990, hệ số ICOR của VN đã tăng khoảng hai lần, hiệu quả sử dụng vốn chỉ còn một nửa. Nghĩa là với cùng một chỉ tiêu tăng trưởng, nay VN phải cần tới số vốn ngấp đôi. Tuy vậy tăng trưởng KT hàng năm của ta vẫn tăng đều đặn.

Chứng tỏ tăng trưởng đầu tư của VN quá nóng.

Kỳ vọng lợi nhuận cao bằng đầu tư kém hiệu quả (ICOR cao) chỉ có thể đạt được khi đầu tư với số lượng vốn rất cao. Như vậy để tồn tại, các đầu tư kém hiệu quả tất yếu phải dựa vào những ưu đãi, đặc biệt là các ưu đãi về vay vốn tín dụng: lượng vốn vay và lãi xuất vay.

Loại hình đầu tư này tăng trưởng cao sẽ làm tổn hao lượng vốn lớn của nền kinh tế.

Như vậy việc kinh tế tăng trưởng nóng, hệ số ICOR cao và lạm phát ngày càng trầm trọng là hậu quả trực tiếp của các chính sách ưu đãi bất hợp lý và chắc chắn có sự đóng góp tích cực của các hoạt động tín dụng: huy động vốn quá bạo dạn, cung ứng vốn quá rễ rãi, trong một thời gian kéo dài. Cho nên việc CP “xiết” tín dụng là rất đích đáng, chẳng có gì là oan ức cho khối ngành này cả.

Nhưng “xiết” tín dụng lại không thể mạnh tay với các đầu tư hiệu xuất sử dụng vốn kém nếu đang còn dở dang. Thậm trí còn phải chủ động hỗ trợ đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các đầu tư này để nhanh tróng thu hồi nợ và tránh đẩy kinh tế xa vào khủng hoảng. Nghĩa là nhanh nhất thì cũng phải sau trung bình một chu kỳ kinh tế chỉ số ICOR mới có thể bắt đầu được cải thiện.

Tuy nhiên “xiết” tín dụng hoàn toàn có thể ngăn chặn ngay, không cho dòng tín dụng đổ vào các dự án mới. Ngừng cho vay triển khai các đầu tư kém hiệu quả để cải thiện chỉ số ICOR và tạm thời dãn, giảm các dự án mới, chưa cấp bách nhằm giảm tổng chi trong ngắn hạn, qua đó giảm nhanh lạm phát.

Các nội dung này đều đã có trong “xiết” tín dụng. Nhưng nếu như các biện pháp này có hiệu quả thì tăng trưởng đầu tư tài chính tính tại thời điểm hiện tại lẽ ra đã phải có sự giảm tốc rõ ràng so với giai đoạn trước. Đáng tiếc, trên các thông tin đại chúng chưa thấy có thống kê nào cho thấy rõ điều này.

Phải trăng một mình ngành NH với “xiết” tín dụng chưa đủ lực để giải quyết vấn đề, cần có thêm sự hỗ trợ từ các ngành khác với những biện pháp bổ xung hữu hiệu hơn?

3) Cơ cấu lại mô hình kiến trúc nền kinh tế chưa đạt tiến độ khả quan.

Rõ nhất là tỷ khối cơ cấu giữa khu vực KTNN với khu vực KTTN vẫn còn quá cao.

Theo các chuyên gia kinh tế, khối DNNN được ưu đãi nhiều hơn nhưng hiệu quả các hoạt động đầu tư lại không bằng khối DNTN dẫn đến hậu quả đầu tư chung của toàn nền kinh tế kém hiệu quả.

Nguyên nhân này còn tác động tiêu cực đối với cơ chế vận động của nền kinh tế “kinh tế thị trường”. Nó tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh lành mạnh giữa hai khu vực trên thị trường kinh tế, hạn chế tiềm năng và tăng trưởng của khu vực KTTN nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung.

Thực tế đã có nhiều đề xuất cắt giảm những ưu đãi bất hợp lý đối với khối DNNN và chính phủ cũng đã đề ra phương hướng cụ thể cho việc CPH các DNNN nhưng việc triển khai thực hiện chưa đạt kết quả khả dĩ. Nguyên nhân và bất cập thì có nhiều.

Nhưng có thể nguyên nhân sâu nhất xa lại nguồn gốc chính từ phía các nhà quản lý, quản trị đương chức trong khối DNNN. Họ có quyền lực quá lớn và không thực sự nhiệt tình hưởng ứng việc thực thi các biện pháp, chính sách này của chính phủ.
Hy vọng chính phủ nhiệm kỳ mới sẽ kiên quyết và đủ sức mạnh giải quyết được vấn đề này.

4) Tỷ xuất đầu tư vào khu vực kinh tế “phi sản xuất” hiện vẫn là quá cao so với khu vực “sản xuất”.

Khu vực phi sản xuất tăng trưởng nhanh hơn khu vực sản xuất và phá vỡ cân bằng cơ cấu của nền kinh tế. Nó làm cho các chi phí “phi sản xuất” trong cấu thành giá giá trị tổng sản phẩm của nền KTQD trở nên bất hợp lý; Thậm trí chi phí “phi sản xuất” (chi phí lập dự án, chi phí vốn, chi phí lưu thông phân phối, hao phí cho đầu cơ và các dịch vụ phi SX khác) có khi còn cao hơn chi phí “sản xuất” (chi phí lao động, khấu hao công cụ sản xuất, chi phí quản lý sản xuất).

Khi khu vực kinh tế “phi sản xuất” chiếm tỷ trọng quá cao, ngoài hậu quả là sự gia tăng chi phí cấu thành giá giá tổng sản phẩm, làm lạm phát tăng; Nó còn gia tăng tiềm năng chiếm hữu vốn đầu tư của khu vực phi sản xuất, làm hạn chế lượng vốn cung ứng cho khu vực sản xuất khiến tổng sản phẩm giảm, dẫn tới tăng trưởng kinh tế giảm.

Chính phủ đã yêu cầu các NHTM hạn chế tối đa dòng tiền vào “phi sản xuất” là nhằm giải quyết vấn đề này.

Nhưng trong thực tế một nhà đầu tư hay một tổ chức kinh tế, khách hàng của các NHTM không phải bao giờ cũng chỉ hoạt động trong một khu vực hoặc sản xuất hay phi sản xuất, mà nhiều khi đồng thời cả hai; Đặc biệt một dự án hoàn chỉnh vận hành từ khi hình thành đến lúc kết thúc luôn bao hàm cả các hoạt động sản xuất và các hoạt động phi sản xuất. Nghĩa là không có hoạt động “phi sản xuất” thì cũng không thể có hoạt động “sản xuất”.

Cho nên các NHTM dù muốn “nghiêm chỉnh” chấp hành chính sách thì cũng rất lúng túng trong tác nghiệp. Đấy là chưa tính đến trường hợp các nhà đẩu tư phi sản xuất sẵn sàng vay tín dụng với lãi xuất cao hơn thị trường; Chưa tính đến việc dòng tiền cung ứng đến với khu vực phi sản xuất không nhất thiết chỉ qua kênh tín dụng, và có qua kênh tín dụng cũng còn một thị trường khác nữa, thị trường “đen”...

Thành thử, dường như biện pháp “xiết” tín dụng chưa đạt được kết quả khả quan. Các DNSX vẫn đói vốn và kêu gọi sự hỗ trợ nhưng chưa được đáp ứng đủ.

Quy luật tự nhiên của nền “kinh tế thị trường” là: ở đâu lợi nhuận cao hơn, dòng tiền đổ vào đó.

Thiết nghĩ, biện pháp của chính phủ nên thay vì “điều tiết vốn”, quay sang “điều tiết thu nhập”; Làm sao cho lãi xuất cơ bản khu vực sản xuất được cải thiện hơn so với khu vực phi sản xuất. Điểm đúng cái “huyệt” lãi xuất này, chắc chắn dòng cung tín dụng nói riêng và dòng tài chính đầu tư nói chung sẽ nhanh tróng, chủ động và “hoàn toàn tự giác” chuyển hướng sang khu vực sản xuất ngay lập tức.

5) Nhận thức để đánh giá, phân định giữa sự “cống hiến” chung cho nền KT với “thành quả” riêng của bộ phận trong thành phần kinh tế chưa được đúng đắn.

“Thành quả” riêng của thành phần kinh tế là tăng trưởng cục bộ của nó. Còn “cống hiến” chung cho nền kinh tế là khối lượng nhiệm vụ chức năng mà nó hoàn thành, đem lại những lợi ích chung với toàn bộ nền kinh tế.

Khi phân tích hay nghiên cứu tình hình KT vĩ mô thì sự phân định này rất cần thiết. Bởi quan điểm vĩ mô là: đặt lợi ích chung của nền kinh tế lên trước quyền lợi cục bộ của mỗi thành phần kinh tế. Khi đánh mức độ hoàn thành nhệm vụ của một thành phần kinh tế thì “cống hiến” cho cái chung phải được coi trọng hơn “thành quả” riêng của nó. Nếu không thận trọng trong vấn đề này, kết quả đánh giá có thể ngược lại hoàn toàn.

Nhiều khi một thành phần của nền kinh tế có tăng trưởng riêng rất khả quan nhưng chưa chắc đã đóng góp tương xứng cho nền kinh tế. Ví dụ: BĐS tăng trưởng riêng rõ ràng là mạnh, “cực mạnh”; Nhưng “cống hiến” chung cho nền kinh tế đã tương sứng hay chưa, lại phải cân nhắc kỹ càng mới kết luận được.

Xin đơn cử một số đánh giá, theo cách nhìn nhận này.

*Ngành NH.

Trong hai năm vừa rồi ngành này tăng trưởng vượt bậc lượng vốn đầu tư; Cải thiện mức độ thỏa mãn cao hơn các chỉ tiêu, tiêu chí an toàn tín dụng; Lợi nhuận ngành luôn ổn định và ở mức cao hơn nhiều ngành khác. Nhưng tất cả thành tích trên chỉ là “thành quả” riêng của ngành, các “thành quả” này ảnh hưởng rất ít đến kinh tế vĩ mô.

Đế thấy được tác động đến kinh tế vĩ mô từ phía ngành NH thì phải xem – cuối cùng - ngành này đã cung ứng được bao nhiêu tín dụng cho KDSX và lãi xuất tín dụng có ổn định, phù hợp với điều kiện thực tiễn hay không. Kết quả này mới thực là thước đo sự “cống hiến” của ngành cho nền KT. Ngoài ra, việc ngành có cạnh tranh hiệu quả, lấn lướt và dẹp được loạn “chợ đen” tín dụng hay không cũng là nhiệm vụ “nhiệm vụ chính trị” của ngành. Vì sự tồn tại một “chợ đen” tín dụng chắc chắn cũng sẽ ảnh hường không ít đến kinh tế vĩ mô.

Thoáng qua có thể thấy hiện tại ngành ngân hàng vẫn tiếp tục đạt nhều thành quả riêng. Nhưng “cống hiến” của ngành cho nền kinh tế lại chưa đáp ứng sự trông cậy của toàn xã hội.

Cũng cần xem lại xem cái lỗi chưa cung ứng đủ tín dụng cho nền kinh tế và lãi xuất tín dụng quá cao có bao nhiêu phần trách nhiệm thuộc về ngành này. Thêm nữa, tuy tăng trưởng đầu tư ngành là quan trọng nhưng nhằm lúc nền kinh tế đang khó khăn về vốn, ngành (ngành NH thuộc khu vực phi sản xất) lại ráo riết tăng vốn liệu có ích kỷ quá hay không?

*Ngành BĐS.

Rất có thể ngành này đứng đầu bảng về tăng trưởng so với các ngành khác. Tăng trưởng đầu tư, tăng trưởng sản xuất và lợi nhuận ngành, các chỉ tiêu đều cao vời vợi. Như vậy nói về “thành quả” riêng thì ngành này không nhất nhì thì cũng nằm ở bảng trên so với các ngành khác.

Còn “cống hiến” của ngành, phải xem đến mức độ hoàn thành nhiệm vụ chức năng, nhiệm vụ chính trị của nó.

Nhiệm vụ chức năng ngành BĐS là tạo ra lượng hàng hóa BĐS với giá cả phù hợp với các điều kiện thực tiễn và tương ứng với lượng đầu tư của XH cung ứng cho nó; Nhiệm vụ chính trị của ngành là không để sản phẩm hàng hóa BĐS tồn đọng làm lãng phí tài nguyên; Hàng hóa phải đảm bảo chất lượng và đến được nơi người tiêu dùng, góp phần cải thiện đời sống dân sinh xã hội của nền kinh tế.

Trong những năm qua “thành quả” mà ngành BĐS có được là rất cao. Thậm trí nói rằng ngành BĐS VN trong những năm qua đã đạt được những “thành tựu” rất lớn cũng không ngoa. Nhưng nói đến sự “cống hiến”, về công, tội của ngành này – đang còn rất nhiều ý kiến trái chiều nhau trong dư luận XH.

*Thị trường CK.

Sự thăng giáng chỉ số lượng vốn hóa toàn thị trường (dòng tiền vào ra), cũng như các biến động chỉ số Idex (giá cả) trên TTCK được các NĐT CK rất quan tâm. Đây là lẽ đương nhiên. Bởi các chỉ số này liên quan đến chốn làm ăn, lỗ lãi của chính họ. Và các nhà quản lý TTCK cũng vậy. Bởi các chỉ số này chứng tỏ “thành quả” được mất của TTCK.

Nhưng với các nhà quản lý vĩ mô thì khác, dù có cho rằng TTCK là “thước đo” sức khỏe nền kinh tế thì cái “thước đo” này cũng chỉ cho thấy “hậu quả” của sự vận động kinh tế vĩ mô trước đó mà thôi. Điều các nhà điều hành vĩ mô cần quan tâm là ở chỗ: TTCK “đã làm được gì” và sẽ “có thể làm được gì” cho kinh tế vĩ mô.

Vậy, cuối cùng TTCK đã làm được gì cho nền kinh tế? Đó là vốn TTCK cung ứng cho khối các CTĐC. Số lượng lượng vốn này hoàn toàn có thể tính được một cách chính sác (Vốn huy động được trong kỳ bằng: Tổng giá trị các loại CK phát hành thêm thành công và trừ đi cổ tức, tín tức trả lại cho chủ sở hữu CK); Chất lượng huy động vốn qua kênh này cũng có thể đánh giá được bằng cách so sánh với các kênh huy động vốn khác (So sánh tỷ số: Vốn do kênh cung ứng thành công/ Chi phí duy trì kênh).

Nếu nói rằng còn tồn tại sự thiếu khoa học trong cách đánh giá thành phần của nền kinh tế thì với TTCK nó thể hiện rõ nhất.

Đánh giá về ngành này. Cái thứ yếu, tình hình nội cục của TTCK luôn được nhiều người quan tâm tính toán đo đếm và thông tin bình luận hàng ngày, “nóng bỏng” đến từng giờ thậm chí từng phút. Ngược lại, cái chính yếu là TTCK đã đóng góp cho nền kinh tế như thế nào thì chẳng ai quan tâm cả. Thậm chí có thể nghi ngờ rằng chính nhiều nhà quản lý trong ngành CK cũng không đánh giá ngành mình một cách đúng đắn; Họ không biết rõ sau từng ấy năm và hàng năm, số vốn kênh TTCK đã cung ứng cho nền kinh tế là “bao nhiêu tỷ”; Họ đã quên cái “bao nhiêu tỷ” ấy mới thực là nhiệm vụ của TTCK, là yếu tố tiên quyết để nền kinh tế cần một TTCK.

Cũng có vẻ như các nhà quản lý đang TTCK thua xa các nhà quản lý TT BĐS trong cách tiếp cận các nhà điều hành vĩ mô.
Muốn TTCK được “cứu”, họ phải nói rằng – nếu TTCK được khôi phục thì trong bao lâu, lượng vốn là bao nhiêu sẽ phục hồi và tiếp tục được cung ứng tới các DNĐC qua kênh này. Rõ ràng, rứt khoát như vậy, thì làm sao các nhà điều hành vĩ mô có thể “tạm quên” TTCK cho đặng. Tiếc rằng thay vì cách đó, họ suốt ngày kêu ra rả rằng CK thế này, thế kia. Liệu ai sẽ “cứu” họ đây và tại sao phải “cứu” !

Cũng xin nói thêm rằng, theo cảm nhận cá nhân. Tôi cho rằng trong tình hình này, nếu có một giải pháp hợp lý, kịp thời và đủ mạnh – không có kênh nào đưa tiền vào KDSX nhanh hơn kênh CK. Số liệu thống kê không có nhưng xin luận lý thế này: khi ổn định thì nền kinh tế sẽ ưu tiên trông vào dòng tiền đầu tư cẩn trọng và bền vững; Khi bất ổn nền kinh tế sẽ ưu tiên trông vào dòng tiền mạo hiểm và linh hoạt.

Ngoài ra, mời mọi người vào tham khảo mục “bình trọn” ngay trên VnEconomy này để khảo cứu sẽ thấy rõ hơn nhiều vấn đề!

29/07 Doanh nghiệp nợ BHXH: Quyền lợi người lao động bị rút ruột!


(Tamnhin.net) - Tốt nghiệp đại học 5 năm, Ngọc L. vẫn chưa một lần được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế dù cô đi làm được 2 công ty trong khoảng thời gian đó.
Mới ra trường, cô được nhận vào làm công việc hành chính tổng hợp, lo tất cả mọi thứ cho nhân viên trong văn phòng, nhưng chưa bao giờ nghe sếp đề cập đến vấn đề đóng bảo hiểm cả, có ai hỏi sếp cũng lờ đi, hoặc trả là đang chờ bên bảo hiểm làm thủ tục. Cô chuyển việc sau hơn 1 năm làm việc.

Đến công ty sau, rút kinh nghiệm ngay từ lúc phỏng vấn cô đã hỏi rõ chế độ và yên tâm khi người phỏng vấn (sau này cô mới biết đó là trưởng phòng) đã nói rõ về quyền lợi bảo hiểm sẽ được công ty thực hiện sau 2 tháng thử việc theo đúng bộ Luật Lao động. Cô cho biết “Hàng tháng công ty vẫn trừ tiền bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp theo mỗi kỳ lương”. Sau hơn 2 năm cô chuyển sang một công ty của Nhật, khi quay về hỏi sổ bảo hiểm công ty cũ cô nhận được đủ câu trả lời như “công ty mới thay nhân sự, nhân sự mới chưa quen hẹn lại lần sau”, hay “đang chờ bên bảo hiểm làm thủ tục”,… Sau quá nhiều lần bị từ chối cô quyết định đóng mới chịu mất đi quyền lợi đáng ra cô được nhận trong quá trình lao động của mình.

Theo ông Trương Trọng Thắng – Phó giám đốc BHXH TP.Hà Nội cho biết “Trong 6 tháng đầu năm nay số tiền nợ của DN với BHXH Tp. Hà Nội lên đến 925 tỷ đồng tăng lên nhiều so với năm trước”.

Ông cũng cho biết chỉ tính riêng số doanh nghiệp nợ bảo hiểm trên 1 năm đã lên đến con số 60 doanh nghiệp với số nợ hơn 160 tỷ đồng. Ngay trong 6 tháng đầu năm nay, cơ quan ông cũng đã khởi kiện 3 doanh nghiệp. Tuy nhiên con số nợ vẫn tiếp tục tăng chứng tỏ những cơ chế pháp lý phát huy hết hiệu quả.

Ông cho rằng “Lãi chậm nộp BH 10,5%/năm, phạt lãi chậm nộp 8% thấp hơn nhiều so với mức lãi suất của hầu hết ngân hàng hiện tại, nên nhiều doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận phạt để gửi tiền ở ngân hàng lấy lãi suất”.
Còn theo ông Trương Anh Tuấn Văn phòng luật sư Investlinkco thì “hiện nay có 2 mức phạt đối với doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm xã hội: cảnh cáo hay phạt tiền những tối đa chỉ 30 triệu đồng”. Các chế tài này chưa đủ mạnh để các doanh nghiệp thực hiện một cách “tự nguyện”.

Những trường hợp như Ngọc L. trên đây không phải là hiếm, chính sự e ngại, sự chưa hiểu rõ những quyền lợi của mình đã một phần “tiếp tay” cho doanh nghiệp nợ đóng tiền bảo hiểm và vô tình làm mất đi công sức của người lao động cũng như những quyền lợi về y tế khác.

Có ý kiến cho rằng, hiện nay các nhà làm luật cần nhìn nhận vấn đề “nợ” bảo hiểm xã hội của lao động như là hành vi trái phép, chiếm dụng vốn, xâm hại quyền lợi của người lao động. Ngoài ra việc đóng bảo hiểm xã hội cần phải được thực hiện bắt buộc như việc đóng thuế chứ không phải dựa vào sự “tự nguyện” của doanh nghiệp như hiện nay.

Điều 2 Luật BHXH:

1. Người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam bao gồm:

Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

2. Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước…; doanh nghiệp, hợp tác xã… có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.

Theo quy định trên, nếu công ty không đóng BHXH cho bạn là vi phạm pháp luật, bạn có quyền tự thương lượng trực tiếp yêu cầu người đại diện theo pháp luật của công ty giải quyết.

Nếu qua thương lượng trực tiếp mà bạn không đồng ý, bạn có quyền làm đơn yêu cầu Hội đồng hòa giải cơ sở (nếu Công ty có Hội đồng hòa giải) hoặc yêu cầu cơ quan lao động cấp huyện cử hòa giải viên lao động (nếu công ty không có Hội đồng hòa giải) để hòa giải. Bạn cũng có thể nhờ công đoàn cơ quan giúp bạn thương lượng.
 

Lê Hòa

29/07 Tái cơ cấu nền kinh tế, mệnh lệnh không thể thoái thác


(Tamnhin.net) - Những động lực như tăng vốn đầu tư, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên... đang cạn dần. Nếu không đi vào phát triển chiều sâu, nâng hiệu quả, năng suất lao động, phát triển công nghệ, Việt Nam sẽ khó có thể phát triển bền vững.
Ông Nguyễn Đình Cung, viện phó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
Khẳng định ý kiến trên, ông Nguyễn Đình Cung - Viện phó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương - cho rằng tái cơ cấu nền kinh tế, thay đổi mô hình tăng trưởng... đã thành một yêu cầu khách quan, một mệnh lệnh không thể thoái thác, xuất phát từ thực tế phát triển kinh tế Việt Nam. Bởi nếu không tái cơ cấu nền kinh tế, Việt Nam sẽ khó có thể phát triển bền vững. Sự đồng thuận xã hội trong yêu cầu tiếp tục đổi mới, tái cơ cấu nền kinh tế (thực chất là đổi mới kinh tế lần 2) là rất cần thiết.

Tái cơ cấu thực chất là thay đổi động lực tăng trưởng. Động lực cũ chỉ có thể giúp chúng ta phát triển đến như ngày hôm nay. Muốn có dư địa để giàu hơn, phát triển hơn thì phải thay đổi.

Giải pháp để tái cơ cấu có rất nhiều, nhưng trọng tâm cần thực hiện ngay là: ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả đầu tư, cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước...

Đặc biệt về ổn định vĩ mô, không nên thấy có hiệu quả một chút rồi lại làm như cũ. Ổn định phải vững chắc, theo tiêu chuẩn thế giới chứ không phải định tính. Ví dụ lạm phát không phải “một con số” mà phải cụ thể.

Chính phủ cần tạo cho được niềm tin của người dân vào đồng tiền, để người dân bỏ tiền ra đầu tư tạo ra năng lực sản xuất mới, giá trị gia tăng mới chứ không phải chủ yếu là đầu cơ hoặc tích trữ vào vàng, đôla, bất động sản để không bị lạm phát tước đoạt tài sản.

Ông Cung cho rằng tái cơ cấu kinh tế, ổn định vĩ mô phải có tầm nhìn dài hạn. Cán bộ quản lý cũng nên hiểu việc vốn vào chỗ này hay chỗ kia là việc của thị trường chứ không phải việc của bộ này, bộ kia. Việc của Nhà nước lúc này là thắt chặt vốn, chặn khả năng vốn “lách” vào khu vực nhiều rủi ro, còn vốn thị trường sẽ phải tự biết cách đưa vào chỗ nào hiệu quả. Cần kiên trì mới ổn định được đồng tiền, tạo cơ sở cho tái cơ cấu nền kinh tế.

Đề xuất 10 điểm của Ủy ban Kinh tế cho rằng không nên đầu tư vào khu vực doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả. Vì vậy, để tăng hiệu quả vốn đầu tư nhà nước, Chính phủ phải thay đổi cách tiêu tiền, phân bổ nguồn lực. Chúng ta đã công nhận vốn đầu tư nhà nước còn kém hiệu quả và đã nói điều này từ lâu rồi. Đầu tư nhà nước phải khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, không đồng bộ, cả vào dự án không cần thiết, không hiệu quả.

Cần thay đổi cả cơ chế đầu tư vốn nhà nước. Một trong những cái cần thay đổi trong đầu tư là trung ương phải làm nhiều hơn, cần có những dự án ưu tiên với những tiêu chí đặt hiệu quả lên hàng đầu.

Ông Cung viện dẫn có hàng trăm dự án hạ tầng mà ai cũng nói là cần cả. Nhưng không thể vì tắc hàng ở Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh mà xây dựng thêm 10-20 cảng biển trên toàn quốc hay làm hàng loạt sân bay. Có thể chỉ xây dựng 3-4 cảng mà thôi, thậm chí không hiệu quả thì kiên quyết không làm.

Đầu tư công chiếm số lượng vốn rất lớn. Vì vậy, nếu nâng cao được hiệu quả nó sẽ cải thiện được rất nhiều về môi trường kinh doanh và hiệu quả kinh tế.

Ủy ban Kinh tế cho rằng cần cải cách doanh nghiệp nhà nước, không nên thành lập thêm tập đoàn. Để việc cải cách này phát huy hiệu quả và đặt các doanh nghiệp này dưới áp lực cạnh tranh, Nhà nước cần để các doanh nghiệp này  bình đẳng trên thực tế về cơ hội kinh doanh, về tiếp cận vốn, đất đai... Họ phải đối mặt với rủi ro của thị trường và họ phải thay đổi cách ứng xử.

Nếu làm tốt các doanh nghiệp nhà nước sẽ được hưởng. Nếu không cố gắng, làm không tốt, các doanh nghiệp này sẽ bị thị trường trừng phạt và phải trả giá, bị phá sản như những doanh nghiệp bình thường khác.

Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước vừa gửi kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII cho thấy các tập đoàn, tổng công ty có vấn đề trong việc kê khai, nộp thuế. Vì vật cần công khai hơn nữa về các tập đoàn. Việt Nam có quy định các doanh nghiệp niêm yết phải đáp ứng những nhu cầu về công khai, cáo bạch, kiểm toán rất khắt khe. Mà công ty niêm yết chỉ là của vài chục ngàn cổ đông. Các tập đoàn là sở hữu của toàn dân, hàng triệu người, nên đáng ra phải công khai hơn.

Trước mắt, cần quy định các tập đoàn phải công khai, đáp ứng các tiêu chuẩn minh bạch thông tin như các công ty niêm yết. Khi đó sẽ có thị trường, hàng triệu con mắt giám sát giúp Nhà nước phát hiện, ngăn chặn kịp thời những sai sót, khả năng đổ vỡ như Vinashin.

Việc này nghe thì đơn giản và cũng không có gì khó làm, nhưng  nếu làm được sẽ là cú nhảy vọt, cuộc cách mạng đối với các doanh nghiệp nhà nước.

Ngoài cải cách doanh nghiệp nhà nước, để tăng hiệu quả, cần phải tăng cường hỗ trợ khu vực tư nhân với hiệu quả đầu tư cao hơn. Nhưng muốn phát triển khu vực kinh tế tư nhân thì hỗ trợ nó chỉ là một phần mà phần quan trọng hơn phải cải tạo khu vực doanh nghiệp nhà nước để khu vực này không chèn lấn. Hiện khu vực doanh nghiệp nhà nước đang chiếm dụng tỉ lệ vốn, tài nguyên, cơ hội kinh doanh rất lớn trong khi các nguồn lực trên là hữu hạn.

Nhiều khu vực tư phải tìm cách chui vào vỏ bọc nào đó để tiếp cận được các cơ hội trên hoặc chỉ là để được nhận lại các cơ hội do doanh nghiệp nhà nước ban lại.

Trong quan hệ với Nhà nước, khu vực tư nhân luôn yếu thế, thậm chí “thấp cổ bé họng”. Vì vậy, nên thành lập tổng cục hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân. Các cơ quan quản lý hành chính, dù pháp luật quy định thế nào nhưng thực tế luôn ở thế “bề trên” doanh nghiệp. Quan hệ đôi bên không thể bình đẳng.

Vì vậy, cần một đối trọng đủ mạnh, cũng trong Nhà nước để bảo vệ khu vực tư nhân. Vai trò tòa án hành chính, hiệp hội còn chưa lớn nên để một tổng cục giải quyết với các cơ quan nhà nước khác những vướng mắc vốn rất lớn của doanh nghiệp tư vẫn là cách làm nhanh gọn, hiệu quả nhất.

Ông Nguyễn Đình Cung cũng cho rằng nhiệm vụ 5 năm tới trọng tâm phải là tái cơ cấu nền kinh tế. Năm năm có thể chưa xong nhưng những hành động, kết quả ban đầu thì hoàn toàn có thể đánh giá được. Tôi cho rằng cần có cơ quan điều phối việc tái cơ cấu vì đây là nhiệm vụ cả một giai đoạn.

Cần có một cơ quan trung ương đủ mạnh về thẩm quyền, có thể là bộ hoặc ủy ban phát triển kinh tế để điều phối, tổ chức thực hiện, đánh giá việc tái cơ cấu để điều chỉnh, tránh chệch hướng.

Theo báo Tuổi trẻ

29/07 Tang lễ ông Nguyễn Cao Kỳ

Cập nhật: 09:21 GMT - thứ sáu, 29 tháng 7, 2011
Xe tang ông Nguyễn Cao Kỳ
Tro cốt ông Kỳ sẽ được đưa về Mỹ dù ông ước nguyện sẽ được yên nghỉ ở quê nhà
Gia đình cựu phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ đã tiễn đưa ông lần cuối trong tang lễ đầy nước mắt ở thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia hôm thứ Sáu ngày 29/7.
Người thân và bạn bè của ông đã bay từ Mỹ và Việt Nam tới tiễn đưa ông sau khi ông Kỳ qua đời bảy ngày trước ở tuổi 81 do biến chứng của bệnh sưng phổi.
Khi đó ông đang ở Malaysia trong hai tuần để thành lập một quỹ học bổng cho thanh niên du học ở Mỹ.
Vợ, con và cháu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã vái ba lần trước di ảnh ông đặt trên bàn thờ của một nhà tang lễ Phật giáo ở Kuala Lumpur.
Gấn 50 người khác có mặt tại nhà tang lễ đã chứng kiến người vợ thứ ba của ông Kỳ, bà Lê Hoàng Kim, và các con ông quỳ và khóc trước linh cữu chưa đậy nắp của ông.
Các nhà sư mặc áo vàng tụng kinh trước khi nắp quan tài đậy lại và được phủ quốc kỳ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Sau đó, quan tài được đưa đi hỏa táng.

Yêu nước sâu đậm

Nguyễn Cao Kỳ Duyên, con gái út của ông Kỳ, đã nói với hãng tin Mỹ AP rắng cô rất tự hào về cha.
“Cha tôi muốn được nhớ đến như một người yêu đất nước mình sâu đậm và làm tất cả những gì có thể cho quê hương,” cô nói.
Vị tướng không quân hào hoa này đã từng là Thủ tướng của miền Nam Việt Nam trong hai năm đầy sóng gió của cuộc chiến tranh Việt Nam vào giữa những năm 60.
Ông Kỳ được nhóm tướng lĩnh cầm quyền ở Việt Nam Cộng hòa chọn là Thủ tướng khi ông đang là tư lệnh không quân vào năm 1965, cũng là năm mà Mỹ leo thang trong cuộc chiến ở Việt Nam.
Ông là người đã giúp chấm dứt chuỗi đảo chính và phản đảo chính ở miền Nam lúc đó.
"Ông ấy có thể ép buộc mọi người chấp nhận một chế độ độc tài, nhưng ông đã từ bỏ quyền lực vì quyền lợi đất nước"
Nguyễn Cao Kỳ Duyên, con gái ông Nguyễn Cao Kỳ
Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1967, Tướng Kỳ đã từ bỏ quyền lực khi ông liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu và trở thành phó Tổng thống của ông Thiệu cho đến năm 1971.
Khi miền Nam rơi vào tay quân đội miền Bắc bốn năm sau đó, Nguyễn Cao Kỳ đã lái một chiếc trực thăng bay đến một con tàu sân bay Mỹ đậu ngoài khơi Việt Nam. Về sau, ông và gia đình định cư ở Hoa Kỳ.
Năm 2004, ông đã có một cử chỉ gây tranh cãi khi trở về Việt Nam sau hàng chục năm sống lưu vong. Trong chuyến đi đó, ông đã khen ngợi phe cộng sản, những kẻ thù trước đây của ông, đồng thời kêu gọi hòa bình và hòa giải.
Gia đình ông nói rằng sau chuyến đi đó, ông thường chia đôi thời gian của mình giữa California, nơi ông đang sinh sống, và Việt Nam.
Ông Nguyễn Cao Kỳ thời còn trẻ có tiếng là một tay chơi yêu thích các hộp đêm sang trọng và phụ nữ đẹp.
“Ông đã thiết lập hệ thống chính phủ. Ông ấy có thể ép buộc mọi người chấp nhận một chế độ độc tài, nhưng ông đã từ bỏ quyền lực vì quyền lợi đất nước,” Kỳ Duyên ca ngợi cha cô.
“Ông không bao giờ tham nhũng. Ông chẳng bao giờ tơ hào một xu nào,” cô nói.
Tro cốt Tướng Nguyễn Cao Kỳ sẽ được mang về Mỹ để họ hàng và bạn bè đến viếng. Theo lời Kỳ Duyên thì cha cô từng bày tỏ ước nguyện được để tro cốt của mình ở nhà thờ tộc ở Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội, nơi ông sinh ra.
Ông Kỳ kết hôn ba lần và có sáu người con.

Thêm về tin này

29/07 Cáo buộc quan chức giả mạo bằng cấp



Cập nhật: 08:39 GMT - thứ sáu, 29 tháng 7, 2011
Ông Vũ Viết Ngoạn
Ông Vũ Viết Ngoạn được cho là có nhiều kinh nghiệm về tài chính-ngân hàng
Ông Vũ Viết Ngoạn, tân chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, bị tố giác giả mạo khi tiểu sử có học vị tiến sỹ tài chính tại một trường đại học của Hoa Kỳ.
Tiểu sử của ông Ngoạn, được đăng trên một số báo điện tử trong nước nói ông sinh năm 1958 và có học vị là Tiến sỹ Tài chính Đại học La Salle (Hoa Kỳ).
Ngay sau khi có tin về việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết địnhsố 1218/QĐ-TTg về việc điều động, bổ nhiệm ông vào chức vụ mới từ 22/07, đã xuất hiện tố giác rằng bằng cấp tiến sỹ của ông là 'giả mạo'.
Các trang mạng cá nhân của giới quan tâm tới lĩnh vực kinh tế - tài chính rộn lên thông tin nói rằng trường Đại học La Salle (Philadelphia) không có chương trình Tiến sỹ Tài chính.
Theo báo Người Việt ở Mỹ, chỉ có một đại học Công Giáo ở thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania, tên là La Salle University, địa chỉ 1900 W. Olney Ave., Philadelphia, PA. 19141.
"Trường này có một chương trình tiến sỹ về tâm lý (APA Accredited Psychology Doctor Program in Clinical Psychology), và tiến sỹ điều dưỡng (Doctor of Nursing Pratice)."
Báo Người Việt viết: "Ðại Học La Salle không có chương trình tiến sỹ kinh tế hay tài chính".

Nhiều kinh nghiệm

Cũng theo báo này, có một Đại học mang tên La Salle khác tại tiểu bang Louisiana, nhưng đã bị đóng cửa năm 2002 vì nhiều sai phạm, trong đó có việc bán bằng cấp giả.
Ông Vũ Viết Ngoạn hiện đang là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Việt Nam.
Chức vụ chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia trước ông là do ông Lê Đức Thúy nắm giữ. Ông Thúy mới nhận quyết định nghỉ hưu, trong khi cũng có cáo buộc liên quan vụ một công ty Australia hối lộ quan chức Việt Nam.
Ông Vũ Viết Ngoạn được cho là có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng.
Ông từng làm việc nhiều năm tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giữ chức Tổng Giám đốc ngân hàng này từ năm 2000 - 2007.
Năm ngoái, hai quan chức cấp tỉnh ở Việt Nam cũng bị dân tố giác có bằng tiến sỹ ở một trường có tên Western Pacific University mà theo họ, thực chất chỉ là giả mạo.

Thêm về tin này

29/07 Manila: Cùng phát triển vùng tranh chấp Biển Đông


29/07/2011 | 16:29:00

Ảnh chỉ có tính minh họa. (Nguồn: Internet)
CÁC TIN LIÊN QUAN
Hải quân ASEAN cần hợp tác về vấn đề Biển Đông
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh nhấn mạnh tình hình Biển Đông với các thách thức an ninh đòi hỏi sự hợp tác hải quân ASEAN.

Hải quân của ASEAN cần thống nhất về Biển Đông
Tổng Tham mưu trưởng, Trung tướng Đỗ Bá Tỵ cho rằng hải quân các nước ASEAN cần thiết có sự thống nhất các vấn đề về Biển Đông.


Theo hãng tin AFP, Philippines ngày 29/7 cho biết nước này sẽ tìm kiếm sự ủng hộ của ASEAN đối với kế hoạch cùng phát triển các khu vực tranh chấp ở Biển Đông, trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng quyết tâm với các tuyên bố chủ quyền tại khu vực này.

Chuyên gia pháp lý của các nước thành viên ASEAN sẽ nhóm họp tại  thủ đô Manila của Philippines, vào tháng Chín này để thảo luận về đề xuất trên.

Ông Raul Hernandez, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines nhấn mạnh mục tiêu là 10 nước ASEAN và sau đó là Trung Quốc ủng hộ đề xuất nhằm xác định rõ các khu vực tranh chấp tại vùng biển có vị trí chiến lược và được cho là giàu tài nguyên này.

Theo ông Hernandez, "nếu chúng ta có thể xác định rõ các khu vực tranh chấp, chúng ta có thể cùng phát triển những khu vực này," còn những khu vực không tranh chấp sẽ là khu vực riêng của nước sở hữu chúng.

Ông Hernandez cho biết nếu đi đúng hướng, đề xuất của Philippines sẽ được đưa ra bàn luận giữa các quan chức cấp cao, sau đó là các ngoại trưởng ASEAN và cuối cùng sẽ là Trung Quốc./.

(Vietnam+)

Thursday, July 28, 2011

28/07 Lạm phát Việt Nam cao nhất khu vực Đông Á


Thứ năm, 28/7/2011, 18:24 GMT+7

Báo cáo Theo dõi kinh tế 6 tháng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho thấy Việt Nam đang phải chịu những tác động nghiêm trọng của lạm phát, trong đó có suy giảm tăng trưởng.
Lạm phát Việt Nam bắt đầu giảm từ quý IV
Đua làm thêm thời lạm phát
Khó giữ lạm phát 17%

So với Báo cáo Triển vọng phát triển châu Á được công bố hồi tháng 4, ADB không thay đổi nhận định về tăng trưởng của Việt Nam trong ngắn hạn. Theo đó, tốc độ tăng GDP năm 2011 vẫn ở mức 6,1% (giảm so với mức 7% đưa ra vào cuối năm 2010) và sẽ đạt khoảng 6,7% trong năm 2012.
Diễn biến lạm phát (tính theo năm) tại Việt Nam . Nguồn: ADB
Diễn biến lạm phát (tính theo năm) tại Việt Nam kể từ năm 2007. Nguồn: ADB
Theo ADB, việc kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại chủ yếu là do Chính phủ phải áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ và cắt giảm chi tiêu công nhằm kiểm soát lạm phát. Điều này là dễ hiểu khi mặt bằng giá vào thời điểm kết thúc tháng 6/2011 đã cao hơn tới 20,8% so với cùng kỳ. Đây là mức lạm phát cao nhất trong 14 nền kinh tế Đông Á mà ADB tiến hành khảo sát và cao gấp đôi so với nước xếp ở vị trí thứ 2 là Lào.
Tiền đồng có mức giảm giá mạnh nhất trong khu vực kể từ tháng 3/2011. Nguồn: ADB
Tiền đồng có mức giảm giá mạnh nhất trong khu vực kể từ tháng 3/2011. Nguồn: ADB
Cùng với lạm phát Việt Nam cũng phải đối mặt với một loạt các vấn đề vĩ mô khác như thanh khoản của hệ thống ngân hàng khi tỷ lệ cho vay so với huy động của toàn hệ thống tính đến tháng 3/2011, theo số liệu của ADB, đạt gần 106% (cao thứ 2 trong khu vực, sau Hàn Quốc). Bội chi ngân sách tính đến hết tháng 7 cũng lên tới 8%, cao nhất trong số 14 nền kinh tế được khảo sát.
Việt Nam cũng được Ngân hàng phát triển châu Á xác định là nước có dự trữ ngoại hối thấp nhất khu vực Đông Á khi chỉ đáp ứng được 1,6 tháng nhập khẩu. Theo số liệu thương mại 7 tháng đầu năm, con số này tương đương hơn 13 tỷ USD (so với mức 12,4 tỷ USD mà ADB dự báo hồi tháng 4). Do dự trữ ngoại hối thấp, công với thâm hụt thương mại cao, Việt Nam đã phải điều chỉnh giảm 9,3% giá trị tiền đồng so với đôla Mỹ và là một trong số ít những đồng tiền trong khu vực mất giá so với USD.
Vn-Index của Việt Nam cũng là chỉ số chứng khoán sụt giảm mạnh nhất trong thời gian qua. Nguồn: ADB
Vn-Index của Việt Nam cũng là chỉ số chứng khoán sụt giảm mạnh nhất trong thời gian qua. Nguồn: ADB
Theo đánh giá của ADB, những nguy cơ nói trên, đặc biệt là lạm phát với vòng xoáy lương-giá có thể tiếp tục ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nói riêng và các nền kinh tế trong khu vực nói chung. Các nguy cơ khác có thể đến từ sự hồi phục chậm chạp của Nhật Bản, khủng hoảng nợ tại Mỹ cà châu Âu… cũng có thể khiến thị trường tài chính biến động mạnh hơn và dòng vốn đầu tư trở nên kém ổn định.
Tuy vậy, báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á cũng ủng hộ quan điểm về việc các Chính phủ nên tiếp tục các chính sách mang tính “thực dụng” để kiềm chế lạm phát, tương tự những biện pháp đã được áp dụng tại Việt Nam kể từ đầu năm. Đồng thời, ADB cũng khuyến nghị Việt Nam và các nền kinh tế khác nên áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn, giúp giảm nhẹ tác động của việc tăng giá hàng hóa trên thị trường thế giới đối với mặt bằng giá trong nước.
Theo dự báo của ADB, mức tăng GDP chung của các nền kinh tế mới nổi tại Đông Á có thể đạt 7,9% trong năm 2011 và 7,7% trong năm 2012 (giảm mạnh so với mức 9,3% của 2010). Tăng trưởng của Trung Quốc tuy có chậm lại nhưng vẫn ở mức 9,6% trong năm nay và 9,2% cho 2012. Trong khu vực ASEAN, tăng trưởng của Thái Lan, Malaysia, Philippines sẽ giảm tốc trong khi GDP của Indonesia dự kiến tăng 6,4%, cao hơn so với mức 6,1% của 2010.
Nhật Minh
Ý kiến của bạn