Tuesday, September 6, 2011

05/09 Cơ chế để khu kinh tế phát huy hiệu quả?

07:20 | 05/09/2011
Cả nước hiện có 18 khu kinh tế được thành lập. Nhiều khu kinh tế đã mang lại những kết quả nhất định, góp phần tạo ra diện mạo ban đầu, cũng như tạo tiền đề và kinh nghiệm cho sự phát triển các giai đoạn tiếp theo trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Tuy vậy, điều kiện hạ tầng thiết yếu tại nhiều khu kinh tế chưa đủ, cộng với các cơ chế ưu đãi đặc thù cho các dự án có quy mô lớn, với hàm lượng xuất khẩu cao còn hạn chế. Theo PHÓ TRƯỞNG BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ MỞ CHU LAI ĐỖ XUÂN DIỆN, cần có các cơ chế đặc thù cho nhà đầu tư thì mới khẳng định được vai trò đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm.

Nguồn: vcmedia.vn
- Thưa Phó trưởng ban, có thể nói, khu kinh  tế mở Chu Lai là một trong những khu kinh tế được thành lập đầu tiên tại nước ta. Sau 8 năm phát triển, khu kinh tế đã đạt được những mục tiêu nào trong kế hoạch đề ra?
Khu Kinh tế Chu Lai được thành lập vào ngày 5.6.2003 bằng Quyết định 108 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở của Bộ Chính trị từ thông báo số 79 ngày 29.7.2002. Mục tiêu ban đầu của khu kinh tế Chu Lai như tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị là đưa ra một mô hình để áp dụng những cơ chế, chính sách, cũng như thể chế mới có thể vượt luật để tạo ra khung pháp lý cơ bản để đầu tư và phát triển khu vực này là đầu tàu phát triển của nước ta. Sau 8 năm thực hiện, hình hài của khu kinh tế Chu Lai đã rõ ràng. Một số dự án công nghiệp vào đầu tư và hoạt động có hiệu quả, nhưng chưa đạt đuợc sự kỳ vọng cũng như mong muốn ban đầu.
- Cụ thể là những kỳ vọng ban đầu nào chưa đạt được, thưa Phó trưởng ban?
Kỳ vọng của Bộ Chính trị ban đầu đây là một mô hình để áp dụng những cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội có thể vượt khung pháp lý. Nhưng trong quá trình thực hiện thì những cơ chế này không được ra đời và không áp dụng được ở khu kinh tế Chu Lai. Chúng tôi từ thực tế ở địa phương, mày mò nghiên cứu tìm hiểu và xin một số cơ chế và từ các cơ chế tài chính này có điều kiện ban đầu để xây dựng hạ tầng, từ đó hỗ trợ cho các nhà đầu tư.
- Để phát triển khu kinh tế thì điều cốt lõi có phải là cơ chế đặc thù phù hợp với điều kiện ở từng địa phương hay không?
Mỗi khu kinh tế có vị trí cũng như điều kiện riêng của khu vực đó để lựa chọn cho ra đời một khu kinh tế, thì việc áp dụng cơ chế đặc thù cũng theo yêu cầu thực tiễn đòi hỏi. Và từ thực tiễn đó, các khu kinh tế đề xuất với Chính phủ, các bộ ngành Trung ương tháo gỡ  vướng mắc. Đối với khu kinh tế Chu Lai, thực tiễn đòi hỏi phải có những cơ chế đặc thù ví dụ như phân cấp, giao quyền, trao quản lý tài nguyên đất đai. Tuy nhiên, những cái vướng này hiện chưa được giải quyết.
- Từ sự phát triển KKT Chu Lai, Phó trưởng ban thấy hiệu quả của đầu tư vào khu kinh tế này so với nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách như thế nào?
Từ năm 2003 đến nay, ngân sách Trung ương hỗ trợ cho khu kinh tế Chu Lai chưa được 1000 tỷ đồng. Lượng vốn này được sử dụng để xây dựng một số công trình hạ tầng thiết yếu để đủ điều kiện thu hút một số dự án. Các dự án này tạo ra nguồn thu trung bình 4.000 tỷ đồng/năm cho ngân sách tỉnh, và tạo ra việc làm cho khoảng 11.000 lao động. Như vậy cứ 1 đồng ngân sách hỗ trợ đã tạo ra 4 đồng. Và 1 đồng từ ngân sách Trung ương hỗ trợ, thì đuợc 50 đồng đầu tư của các nhà đầu tư tư nhân và ngoài nước.
- Tại khu kinh tế Chu Lai, Trường Hải là một trong những công ty đầu tư lớn nhất, với tổ hợp phát triển sản xuất linh kiện ô tô. Với nguồn thu chính này, Phó trưởng ban đánh giá như nào thế nào về tính chuyên biệt trong phát triển khu kinh tế?
Trong giai đoạn đầu chúng tôi rất lúng túng khi xác định ngành công nghiệp, cũng như dự án động lực trong quá trình thực hiện cũng như thu hút đầu tư. Sau đó chúng tôi lựa chọn Trường Hải là một doanh nghiệp tư nhân đầu tiên đầu tư vào khu kinh tế, với ngành công nghiệp sản xuất ô tô và công nghệ phụ trợ. Tổng đầu tư của Trường Hải vào Chu Lai hiện khoảng 400 triệu USD. Và tạo ra đuợc một tổ hợp sản xuất công nghiệp đặc biệt, với 17 nhà máy công nghiệp phụ trợ và tỷ lệ nội địa hóa tương đối cao trong lắp ráp ôtô. Trong đó, đối với xe du lịch 17%, với xe buýt là 46% và với xe tải là 52%. Nỗ lực này của Trường Hải đã đáp ứng được điều kiện để xuất khẩu xe tải, xe buýt sang các nước trong khu vực ASEAN. Trường Hải cũng  hợp tác với Tập đoàn Huyndai của Hàn Quốc để thành lập nhà máy động cơ. Từ đó, sẽ bảo đảm đủ điều kiện đưa xe du lịch tăng tỷ lệ nội địa hóa trên 40%, và là điều kiện cần cơ bản để xuất khẩu sang các nước ASEAN.
Ban quản lý khu kinh tế mở Chu Lai đã xác định do điều kiện hạ tầng kỹ thuật cũng như các yếu tố khác về các cơ chế ưu đãi đầu tư, nên chưa thu hút được các dự án lớn hơn của các tập đoàn đa quốc gia hay gói đầu tư có tổng vốn cao. Vì vậy, Ban quản lý đã hợp tác với Trường Hải để tổ chức một loại hình đầu tư. Hoạt động này góp phần điều chỉnh lại ngành công nghiệp ô tô nước ta cũng như tạo tiền đề cơ bản để phát triển công nghiệp tại khu kinh tế Chu Lai.
- Như vậy, có phải do tính khác biệt trong việc thu hút đầu tư tại khu kinh tế Chu Lai chưa rõ ràng nên lượng vốn đầu tư vào khu vực này chưa như kỳ vọng?
Tôi nghĩ rằng, do điều kiện hạ tầng thiết yếu tại khu kinh tế chưa đủ, cộng với các cơ chế ưu đãi đặc thù cho các dự án có quy mô lớn, với hàm lượng xuất khẩu cao. Muốn có dự án đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia, với thị trường toàn cầu, thì ưu đãi đầu tư phải bù lỗ được chi phí vận chuyển nguyên nhiên liệu đưa vào đây sản xuất, cũng như chi phí đưa thành phẩm ra thị trường tiêu thụ. Điều này cơ chế ưu đãi của chúng ta chưa thỏa mãn được. Vì vậy, Ban quản lý khu kinh tế Chu Lai đã đề nghị với Chính phủ cần có các cơ chế đặc thù cho nhà đầu tư vào khu vực này, để bảo đảm bù đắp được những chi phí trong quá trình sản xuất.
- Thưa Phó trưởng ban, dư luận nói nhiều về vấn đề phát triển khu kinh tế với vai trò là lan tỏa đối với vùng kinh tế trọng điểm. Nhưng dường như khu kinh tế Chu Lai  vẫn chưa làm được điều này?
 Thủ tướng Chính phủ vừa đồng ý bổ sung thêm 3 khu kinh tế vào Quy hoạch phát triển các khu kinh tế ven biển Việt Nam đến 2020 là: khu kinh tế Đông Nam, tỉnh Quảng Trị; khu kinh tế ven biển Thái Bình, tỉnh Thái Bình; khu kinh tế Ninh Cơ, tỉnh Nam Định. Như vậy, đến năm 2020 trên cả nước sẽ có 18 khu kinh tế, với tổng diện tích đất liền và mặt nước biển là 730.553ha (tương đương 7305,53 km2). Tại các khu kinh tế đã thành lập hiện thu hút được khoảng 130 dự án đầu tư vốn nước ngoài, với tổng mức đầu tư khoảng 25 tỷ USD. Và khoảng 650 dự án đầu tư trong nước, với tổng mức đầu tư 537 nghìn tỷ đồng.
Hiện nay, khu kinh tế Chu Lai đóng góp tương đương trên 50% ngân sách tỉnh Quảng Nam. Tổng lao động của khu kinh tế tăng lên khoảng 15.000 người. Với những yếu tố này có thể thấy, khu kinh tế đã có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Với tỉnh Quảng Nam, khu kinh tế Chu Lai không thể thiếu trong lúc này. Khu kinh tế này là đầu tàu cho kinh tế tỉnh. Tôi nghĩ rằng nếu như Chính phủ có những cơ chế đặc thù, thì Chu Lai sẽ làm được vai trò đầu tàu của vùng kinh tế miền Trung, không chỉ của tỉnh Quảng Nam.
- Phó trưởng ban chờ đợi gì nhất về cơ chế trong phát triển khu kinh tế Chu Lai, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay?
Khu kinh tế Chu Lai xác định có 3 dự án động lực, trong đó, dự án hạ tầng động lực khu vực này là sân bay Chu Lai. Cơ sở hạ tầng này được Chính phủ quy hoạch là sân bay trung chuyển quốc tế. Thủ tướng Chính phủ đã quyết định cho đầu tư nước ngoài hỗ trợ để làm quy hoạch cũng như làm dự án khả thi để kêu gọi các nguồn vốn để đầu tư ra một sân bay trung chuyển quốc tế. Dự án động lực thứ hai là công nghiệp cơ khí, công nghiệp phụ trợ và sản xuất ô tô. Trong 8 năm qua, chúng tôi cùng với Trường Hải đã làm được một việc là đào tạo lao động, cũng như mở rộng sản xuất công nghiệp phụ trợ. Dự án thứ 3 là đối với Chu Lai và vùng Đông Quảng Nam là chiến lược và dịch vụ từ du lịch. Tỉnh Quảng Nam có hai thuận lợi là thành phố Hội An, khu thánh địa Mỹ Sơn. Hai di sản văn hóa thế giới này cùng với các khu vực khác đã thu hút khoảng 3 triệu du khách vào Chu Lai, trong đó, có khoảng 1 triệu du khách là nước ngoài. Đây là điều kiện ban đầu để phát triển thêm các dịch vụ cho du khách nước ngoài. Ngoài ra, tỉnh Quảng Nam đã xác dịnh kêu gọi đầu tư một khu phức hợp giải trí đặc biệt ở khu ven biển. Dự án dịch vụ này được xác định là động lực thứ ba cho phát triển kinh tế - xã hội Chu Lai. Các dự án động lực này sẽ có tác động lan tỏa ra các dự án đầu tư khác, cũng như thúc đẩy dự án đầu tư và phát triển cho khu kinh tế, cũng như cho tỉnh Quảng Nam.
- Xin cám ơn Phó trưởng ban!
Đức Thành thực hiện

06/09 Xác định phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro

07:43 | 06/09/2011
Tại nước ta, phí bảo hiểm được thu theo một mức cố định tương đương 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi được bảo hiểm bình quân. Nhưng tỷ lệ tổng nguồn vốn/ tổng số dư tiền gửi giảm dần theo từng năm, khiến khả năng xử lý của cơ quan quản lý thấp hơn so với thời gian trước. Đòi hỏi phải thay đổi cách thức tính phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro, để tăng sự an toàn, lành mạnh của hệ thống tín dụng.

Nguồn: TL
Phí bảo hiểm tiền gửi là khoản tiền mà tổ chức tín dụng phải nộp để bảo hiểm cho tiền gửi của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, trừ một số tổ chức. Mục đích của thu phí bảo hiểm tiền gửi là để hình thành nguồn quỹ có sẵn giúp xử lý kịp thời đổ vỡ ngân hàng và thực hiện mục tiêu bảo vệ người gửi tiền. Nguồn vốn này sẽ bảo đảm hạn chế hoặc không phải sử dụng ngân sách nhà nước để hỗ trợ khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi gặp vấn đề. Đối với những quốc gia áp dụng hệ thống phí điều chỉnh theo mức độ rủi ro, hệ thống này sẽ bảo đảm công bằng giữa các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. Bởi nguyên tắc thu phí là tổ chức có mức độ rủi ro cao thì phải đóng mức cao hơn, từ đó, tạo động lực nâng cao chất lượng quản trị rủi ro của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tuân theo nguyên tắc thị trường.
Tại nước ta, phí bảo hiểm được thu theo một mức cố định tương đương 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi được bảo hiểm bình quân. Theo Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, tổng số phí thu được từ các tổ chức tham gia đến hết năm 2010 là 4.484 tỷ đồng, trong đó, số thu phí hàng năm tăng trung bình 20%. Từ năm 2004, nguồn thu từ phí bảo hiểm tiền gửi được bổ sung vào Quỹ nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi. Nguồn thu này góp phần quan trọng vào việc tăng quy mô nguồn vốn quỹ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Việc áp dụng mức phí đồng hạng đã giúp tổ chức của Nhà nước dễ dàng trong quản lý, dễ tính và thu phí phù hợp trong giai đoạn đầu triển khai hệ thống này. Quy định pháp lý hiện hành cũng cho phép điều chỉnh mức phí theo loại hình tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi hoặc trên cơ sở đánh giá, xếp loại của cơ quan có thẩm quyền.
Nhưng việc thu phí cố định và ở mức thấp trong bối cảnh lượng tiền gửi được bảo hiểm tăng nhanh khiến khả năng xử lý của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam giảm đi. Cụ thể là do tỷ lệ tổng nguồn vốn/ tổng số dư tiền gửi giảm dần theo từng năm, hiện chỉ còn 0,8%. Điều này khiến quy mô nguồn vốn quỹ không bảo đảm ứng cứu được hai ngân hàng trung bình bị đổ vỡ cùng lúc. Hơn nữa, trong bối cảnh nước ta hội nhập sâu các diễn biến trên thị trường thế giới sẽ có ảnh hưởng nhiều hơn đến hệ thống ngân hàng, với mức độ rủi ro cao hơn. Hiện đã có đề nghị phân biệt dựa trên chủ sở hữu của các tổ chức tín dụng. Song, trong bối cảnh đang thực hiện cổ phần hóa các ngân hàng thương mại, thì phân biệt dựa vào tiêu chí này không phản ánh chính xác mức độ rủi ro của từng nhóm ngân hàng, không bảo đảm nguyên tắc tổ chức có rủi ro cao phải nộp phí cao hơn và ngược lại.
Tại một số quốc gia, mức phí đồng hạng được áp dụng trong giai đoạn đầu. Nhưng ngay sau một thời gian ngắn đã triển khai thu phí theo mức độ rủi ro. Bởi sau một thời gian hoạt động, tổ chức bảo hiểm tiền gửi tích lũy đủ nguồn lực, kinh nghiệm, có khả năng đánh giá, xếp hạng, phân loại các tổ chức tham gia một cách phù hợp. Và đây cũng là kiến nghị của chính hệ thống ngân hàng để nâng cao động lực quản trị rủi ro, bảo đảm công bằng cho các tổ chức tham gia, từ đó, nâng cao sự an toàn, lành mạnh của hệ thống. Các tổ chức bảo hiểm tiền gửi tại Đài Loan, Mỹ và Malaysia cũng thay đổi các tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro của ngân hàng thương mại tùy theo sức khỏe của nền kinh tế trong nước, cũng như biến động của kinh tế thế giới.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đề nghị, cơ quan soạn thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi cần nghiên cứu quy định về phí theo mức độ rủi ro, đặc biệt là lộ trình áp dụng cách thu này. Đồng thời xác định khung phí, quy định rõ thẩm quyền của các cá nhân, tổ chức với hệ thống phí bảo hiểm tiền gửi. Theo Tổng giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Bùi Khắc Sơn, cần kết hợp giữa các chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính trong quá trình xây dựng tiêu chí phân loại các tổ chức tín dụng tham gia. Phương pháp này sẽ bảo đảm hệ thống phí phân biệt trên cơ sở rủi ro là khách quan, minh bạch, phản ánh được nguyện vọng của tổ chức tham gia. Trong đó, các chỉ tiêu định lượng gồm mức độ vốn, chất lượng tài sản, khả năng sinh lời của tổ chức tín dụng. Chỉ tiêu định tính gồm xếp hạng của cơ quan giám sát có thẩm quyền. Để thực hiện được phương pháp này cũng cần cơ chế trao đổi thông tin giữa các cơ quan có chức năng giám sát hệ thống các tổ chức tín dụng.
Mạnh Quang

06/09 Năm 2011 lao động xuất khẩu gửi về nước khoảng 1,8 tỷ USD


▪  VŨ QUỲNH
06/09/2011 08:30 (GMT+7)
 
Dự kiến từ 2012 đến 2015, lao động làm việc ở nước ngoài sẽ gửi về nước khoảng 2 tỷ USD mỗi năm.
Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết, số kiều hối lao động đi làm việc ở nước ngoài gửi về nước trong 6 tháng đầu năm 2011 là 1 tỷ USD. Theo đó, ước cả năm 2011 lao động xuất khẩu sẽ gửi về nước khoảng 1,8 tỷ USD.

Trong 5 năm (2011-2015) theo dự  báo của Cục Quản lý lao động ngoài nước, sẽ có khoảng 10 tỷ USD kiều hối của lao động đi làm việc tại nước ngoài gửi về Việt Nam.

Trao đổi với VnEconomy, đại diện Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết, so với nhiều quốc gia,lượng kiều hối do lao động xuất khẩu gửi về của Việt Nam vẫn còn hạn chế. Con số này ở  một số nước còn lớn hơn cả số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài  và viện trợ quốc tế và cao hơn kim ngạch từ mặt hàng xuất khẩu chủ yếu.

Tuy nhiên, số tiền 1,8 tỷ USD của lao động Việt đi làm việc ở nước ngoài gửi về đã giúp cải thiện đáng kể tình trạng đói nghèo và thúc đẩy đầu tư. 

Hiện, xuất khẩu lao động ở Việt Nam vẫn là một trong những hoạt động chính nhằm tạo việc làm cho lao động trong nước. Từ đầu năm đến nay đã có hơn 60.530 lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Trong đó, ba thị trường tiếp nhận lao động chủ yếu của Việt Nam là Đài Loan, dẫn đầu với 23.673 lao động; Hàn Quốc 14.134 lao động và Malaysia 6.664 lao động.

Một số thị trường khác như Nhật Bản, Ả rập Xê út, Lào, Campuchia, Macao ….cũng có một số lượng không nhỏ lao động Việt Nam đang làm việc.

06/09 Bộ trưởng Bộ Tài chính kiêm Chủ tịch SCIC


picture
Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ vừa được cử kiêm một số chức vụ khác.
▪  P.V
12:14 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/9/2011

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định cử lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội.

Theo tin từ Cổng thông tin Điện tử Chính phủ, Thủ tướng quyết định cử ông Vương Đình Huệ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Bảo hiểm xã hội Việt Nam và kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), thay ông Vũ Văn Ninh, Phó thủ tướng Chính phủ.

Ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được cử kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, thay ông Nguyễn Văn Giàu, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đã chuyển sang làm Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội.

Các quyết định này đều có hiệu lực từ ngày 1/9/2011.

06/09 Chuyên gia nước ngoài mong Chính phủ thúc đẩy cải cách


picture
Nhiều chuyên gia nước ngoài cho rằng Việt Nam cần thúc đẩy tái cơ cấu khối ngân hàng và doanh nghiệp - Ảnh: Lê Tất Tiên.
▪  ANH MINH
15:20 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/9/2011

Phần lớn các chuyên gia quốc tế tham dự cuộc gặp mặt với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sáng 6/9 tại Hà Nội có chung nhận định rằng Việt Nam cần thúc đẩy tái cơ cấu khối ngân hàng và doanh nghiệp, nhằm khắc phục những yếu kém nội tại trong nền kinh tế và tạo đà cho giai đoạn phát triển mới.

Trước đó, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ đã có cuộc gặp mặt với 30 chuyên gia kinh tế trong nước vào ngày 20/8 vừa qua.

Tại cuộc gặp sáng 6/9, ngoài Thủ tướng, có tới gần 10 vị lãnh đạo cấp bộ trưởng, thứ trưởng. Ở phía đối diện, 17 vị chuyên gia nước ngoài, trong đó có những người từng làm việc nhiều năm ở Việt Nam, đã chuẩn bị các bản tham luận khá công phu.
 
Tham vấn ý kiến các chuyên gia, trong đó chủ yếu đến từ các nhà tài trợ cho Việt Nam, là công việc từng được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành hàng năm, nhưng điểm mới của năm nay là Thủ tướng Chính phủ đích thân sang Bộ để chủ trì cuộc gặp.

Theo bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, những kết quả mà Việt Nam đạt được trong phát triển kinh tế-xã hội như tốc độ tăng trưởng đạt khá (5,4% trong quý 1 và 5,7% trong quý 2), xuất khẩu tăng mạnh, tỷ giá hối đoái ổn định; dự trữ ngoại tệ tăng; công tác an sinh xã hội đạt được những kết quả tích cực… sẽ là tiền đề để Việt Nam tiếp tục phát và đạt tăng trưởng cao hơn trong năm 2012 và những năm tiếp theo.

Tuy nhiên, vị đại diện của WB cũng cho rằng bên cạnh những “tin tốt”, còn có nhiều “tin xấu” như lạm phát cao; xuất khẩu chưa tốt; lãi suất cho vay còn cao; cam kết FDI giảm… là những vấn đề mà Việt Nam cần giải quyết.

Nói về tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay, bà Victoria Kwakwa đưa ra một số so sánh, chẳng hạn mức lạm phát 23% so với cùng kỳ là cao nhất châu Á hiện tại.

Đồng nội tệ cũng dao động mạnh trong bốn năm qua và là đồng tiền duy nhất ở châu Á giảm giá so với USD; trong khi dự trữ ngoại tệ tính theo tuần nhập khẩu hiện chỉ ở mức 8 tuần, mức thấp nhất kể từ năm 1994, trong bối cảnh hầu hết các nước châu Á khác đều tăng dự trữ ngoại tệ.

Hiện trạng này đòi hỏi Chính phủ phải quyết tâm hơn nữa trong việc tiếp tục các giải pháp nhằm cấu trúc lại khối ngân hàng và doanh nghiệp để lành mạnh hóa nền kinh tế, từng bước phục hồi.

Trong khi đó, ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam và Lào nói rằng trong thời gian tới, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa việc tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiệu quả và bền vững.

Theo ông, Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với những vấn đề kế thừa từ quá khứ, chẳng hạn như lạm phát, nợ công, nợ của khu vực doanh nghiệp. Không chỉ vậy, một vấn đề khác là dường như sự quan tâm đến cải cách cơ cấu đang ít đi.

Việc tái cơ cấu khối ngân hàng và doanh nghiệp cần được thực hiện ngay và Chính phủ cần thể hiện điều đó thông qua việc đưa ra các tiêu chuẩn mới, chẳng hạn phải áp dụng ngay một Chương trình đánh giá ổn định tài chính.

Vị đại diện của IMF nói, sự chậm lại của cải cách cơ cấu trong hai năm qua là dễ hiểu, nhưng đã đến lúc Chính phủ cần có tín hiệu cụ thể rằng sẽ lấy lại động lực cải cách, qua đó mang lại hy vọng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Trong phần phát biểu của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục kiên trì thực hiện Nghị quyết 11, trong đó ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội.

Hiện, lạm phát của Việt Nam đang có xu hướng giảm và sẽ kiềm chế trong năm 2011 ở mức 18%, và mục tiêu trong năm 2012 là sẽ đưa lạm phát xuống còn một con số; tăng trưởng GDP năm 2011 được kỳ vọng ở mức khoảng 6%.

Thủ tướng cũng cho biết trong năm 2011, Việt Nam sẽ tiếp tục các giải pháp nhằm đảm bảo chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán ở mức tăng dưới 15%; kiểm soát tỷ giá và giữ được ổn định về tỷ giá; giảm lãi suất theo hướng đi liền với giảm lạm phát.

“Việt Nam thấy rõ những mặt đã đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và sẽ quyết tâm bằng nội lực, phát huy sức mạnh của của cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ, hợp tác nhiều hơn nữa của các chuyên gia, các nhà tài trợ, cộng đồng quốc tế…, nhất là trong tư vấn về chính sách, hỗ trợ nguồn lực để Việt Nam thực hiện thành công các mục tiêu đề ra”, Thủ tướng nói.

Monday, September 5, 2011

05/09 “Hữu nghị và hợp tác Việt-Trung là xu hướng chính”


.
picture
Đại sứ Nguyễn Văn Thơ phát biểu tại buổi chiêu đãi 66 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - Ảnh: CRI.
▪  P.V
08:24 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/9/2011

Nhân kỷ niệm 66 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2011) và chuẩn bị diễn ra hội nghị lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc tại Hà Nội, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ đã trả lời phỏng vấn của Tân Hoa Xã và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV).

Theo nguồn tin từ TTXVN, nội dung trả lời phỏng vấn tập trung vào những thành tựu nổi bật trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối chính sách lớn của Đại hội lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam, về tổng thể quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và những biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước trong thời gian tới.
 
Đại sứ Nguyễn Văn Thơ cho biết Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
 
Đại sứ nhấn mạnh quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong thời gian qua phát triển tốt đẹp, lấy hợp tác là xu hướng chính. Quan hệ hợp tác giữa hai nước đã giành được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục-đào tạo, an ninh, quốc phòng… Đặc biệt, kim ngạch thương mại hai chiều năm 2010 đạt gần 30 tỷ USD và trong 6 tháng đầu năm 2011 đạt 18 tỷ USD, tăng 40,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam.
 
Trong giao lưu văn hóa giáo dục, hơn 13.000 sinh viên Việt Nam đang theo học tại các trường đại học của Trung Quốc là những cầu nối quan trọng góp phần tăng cường sự hiểu biết và hữu nghị giữa hai dân tộc.
 
Theo Đại sứ Nguyễn Văn Thơ, tình hữu nghị Việt-Trung được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đích thân gây dựng, được nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dầy công vun đắp và là tài sản quý báu của hai đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần phải hết sức giữ gìn. Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam trước sau như một hết sức coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện với Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc, coi đây là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.
 
Đại sứ cho rằng để quan hệ hai nước tiếp tục phát triển ổn định, cần phải có nỗ lực chung của cả hai bên trên cơ sở nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước về xây dựng quan hệ đối tác hợp tác phát triển toàn diện Việt Nam-Trung Quốc; nâng cao lòng tin lẫn nhau về chính trị theo hướng tăng cường các chuyến thăm giữa lãnh đạo hai nước; hợp tác hiệu quả hơn về kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch; tăng cường giao lưu, hợp tác giữa các bộ ngành, địa phương, giao lưu giữa hai đảng và các đoàn thể hai nước; tìm hướng tiếp cận mới để giải quyết những bất đồng tồn tại cũng như mới nảy sinh trong quan hệ hai nước…
 
Theo TTXVN, Đại sứ Nguyễn Văn Thơ cũng nhấn mạnh quan hệ hai nước tuy tồn tại những bất đồng do lịch sử để lại như vấn đề biển Đông, nhưng đó không phải là tất cả trong quan hệ Việt-Trung. Kết quả và những kinh nghiệm quý báu trong việc phân định vịnh Bắc Bộ và biên giới trên bộ sẽ là tiền đề quan trọng để hai bên tiếp tục bàn bạc, giải quyết vấn đề biển Đông.

05/09 Sẽ cấm xe máy lưu thông tại một số thành phố lớn


.
▪  AN NHI
05/09/2011 15:11 (GMT+7)
 
Tại các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội và Tp.HCM, áp lực giao thông và nạn ùn tắc giao thông vẫn đang là bài toán nan giải.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 88/NQ-CP về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự an toàn giao thông.

Một trong những nội dung đáng chú ý tại nghị quyết này là giải pháp cấm xe máy lưu thông tại một số thành phố lớn.

Cụ thể, Chính phủ giao Bộ Giao thông Vận tải chủ trì phối hợp với các bộ, ngành và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố liên quan xây dựng đề án hạn chế và lộ trình cấm xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông tại các đô thị lớn. Thời hạn trình các đề án lên Thủ tướng là trong quý 4/2012.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng giao Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội và Tp.HCM tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các biện pháp để hạn chế xe môtô, xe gắn máy và xe ôtô lưu thông trên một số tuyến phố vào một số giờ nhất định phù hợp với điều kiện cụ thể của từng khu vực trong thành phố.

Sở dĩ giải pháp này tạo sự chú ý đặc biệt là bởi xe máy hiện vẫn đang là phương tiện vận chuyển chủ yếu của đa số người dân Việt Nam. Trong khi đó, tại các thành phố lớn, nhất là Hà Nội và Tp.HCM, áp lực giao thông và nạn ùn tắc giao thông vẫn đang là bài toán nan giải.

Tại Hà Nội, Sở Giao thông Vận tải cho biết lượng môtô, xe gắn máy trên toàn thành phố đang vào khoảng 3,7 triệu chiếc, lượng ôtô gần 380.000 chiếc và khoảng 50.000 phương tiện vãng lai.

Mới đây, trong buổi làm việc với Sở Giao thông Vận tải, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đánh giá: Với số lượng gia tăng đăng ký mới ôtô, xe máy như hiện nay (trung bình 12-14%/năm), nếu không có biện pháp kiểm soát thì dù có xây dựng hệ thống hạ tầng cũng không giải quyết được vấn đề ùn tắc. Do đó, ông Thảo cho rằng đề án hạn chế và lộ trình cấm xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông cần phải được nghiên cứu khẩn trương.

Một số chuyên gia cho rằng, hạn chế dần và tiến tới cấm lưu hành xe máy tại một số thành phố lớn là cần thiết song phải thận trọng trong từng giải pháp cụ thể. Cũng nhằm hạn chế lượng phương tiện giao thông cá nhân lưu hành, trước đây đã từng có một số đề xuất như lưu thông vào nội đô theo ngày chẵn, lẻ hay cấm lưu thông vào một số giờ cao điểm, tuyến phố. Tuy nhiên, những đề xuất này đã nhận được những phản đối mạnh mẽ từ người dân.
 
Thảo luận (9 ý kiến)
(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)
 
Hương Ly 15:57 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/9/2011
Giải quyết vấn nạn ùn tắc giao thông là cần thiết, nhưng biện pháp nên cân nhắc kỹ, có lộ trình rõ ràng, phù hợp.

Theo tôi, trước khi ra lệnh "cấm" một cách khiên cưỡng, cần "giải phóng" cho người dân khỏi sự lệ thuộc vào các phương tiện cá nhân bằng cách phát triển hệ thống phương tiện công cộng đồng bộ, tối ưu hơn hẳn xe máy.

Làm được điều đó thì không cần cấm người dân cũng sẽ tự ý chuyển đổi phương tiện, vừa rẻ, vừa đảm bảo an toàn...Còn nếu khi chưa có phương tiện thay thế vượt trội so với xe máy thì không nên "cấm" một cách vô lý.

Mọi biện pháp đều vì mục đích cuối cùng là phục vụ nhân dân, nếu làm đời sống nhân dân trở nên khó khăn, khốn đốn vì những lệnh "cấm" bất hợp lý thì nên cân nhắc kỹ!
Nguyen Tuấn Thành 13:43 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/9/2011
Tôi cứ tự hỏi, các vị đưa ra chính sách có bao giờ đi xe bus chưa? Bẩn thỉu, chạy chậm, bỏ chuyến, lái xe nói tục, thiếu văn hóa... tôi đã rất kiên nhẫn đi xe bus nhưng cuối cùng vẫn phải quay lại với xe máy.

Tôi đồng tình với việc hạn chế xe máy, hoặc cấm hẳn xe máy, nhưng người dân sẽ đi làm bằng cái gì?

Tôi đã thấy Thái Lan, Lào có xe túc túc rất sạch sẽ, tiện và trông cũng rất đẹp. Tại sao nước ta lại cấm nhỉ?
P.T.Son 12:16 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/9/2011
Nhất trí cấm xe máy trong các thành phố lớn, đó là nguyên nhân gây ùn tắc giao thông lớn nhất, nhưng phải phát triển hệ thống giao thông bằng xe công cộng một cách khoa học, hợp lý.
Hoàng Duy 11:07 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/9/2011
Vấn đề ở đây là phải tìm ra nguyên nhân vì sao chúng ta cứ phải chạy xe long nhong trên đường hoài? Nếu như tôi có thể nhanh chóng đến được nơi tôi cần đến thì tại sao tôi cứ phải chạy xe vòng vòng mãi?

Liệu chúng ta có thể:

1. Di dời các cơ quan hành chánh, trường đại học ...ra ngoại ô thành phố.

2. Xây dựng các khu chung cư, cao ốc chất lượng cao, trao đổi với người dân để mở rộng đường sá.

3. Qui hoạch những khu vực nào được phép mở shop, những khu vực nào chỉ chuyên để ở.

4. Qui hoạch các tuyến xe công cộng, metro ra ngoại ô.

5. Qui hoạch các tuyến xe công cộng trong khu vực, chỉ chuyên di chuyển trong khu vực1 khu vực để đảm bảo thời gian giữa các chuyến xe. Từ đó người dân có thể dễ dàng tính thời gian cho các trạm xe kế tiếp.

6. Phân luồng xe. Tách xe 2 bánh ra khỏi dòng di chuyển của xe 4 bánh.

7. Qui hoạch những tuyến cấm xe máy, nhưng đồng thời hướng dẫn tuyến đường thay thế. ( những tuyến chỉ dành riêng cho xe máy).

8. Qui hoạch lại các nút giao thông ( ngã 3, ngã 4, vòng xoay...). Không để tình trạng quẹo trái, quẹo phải, xoay đầu tuỳ tiện làm cắt mạch di chuyển của các phương tiện giao thông khác.

9. Xử lí nghiêm khắc các trường hợp vi phạm, sử dụng camera quan sát để xử phạt chính xác hơn và thuyết phục hơn.

10. Phát triển các dịch vụ thông báo mật độ giao thông vào giờ cao điểm. Hướng dẫn các tuyến đường có thể thay thế, nhằm hướng dòng xe đến những tuyến đường thoáng hơn. ( mục đích chính là điều tiết lưu lượng giao thông trên các tuyến đường).

11. Xử phạt các công trình thi công chiếm dụng mặt đường, chậm hoàn công.

Cần tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia để có một kế hoạch khoa học và hiệu quả hơn nhầm giải quyết bài toán giao thông này.
Michael Nguyen 09:24 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/9/2011
Chính phủ cứ nói đi nói lại rất nhiều về việc cấm và hạn chế xe mô tô, xe gắn máy tại các thành phố lớn nhưng vẫn không thực hiện được.

Vấn đề chính không phải là "thực hiện các biện pháp để hạn chế hay cấm môtô, xe gắn máy và ôtô lưu thông trên một số tuyến phố vào một số giờ nhất định phù hợp với điều kiện cụ thể của từng khu vực trong TP" mà phải là THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ HẠN CHẾ HOẶC CẤM DÂN NHẬP CƯ TỪ CÁC TỈNH THÀNH KHÁC ĐỔ XÔ VÀO 2 THÀNH PHỐ LỚN LÀ HÀ NỘI & HCM.

Hiện nay cả 2 TP lớn đều có số lượng dân nhập cư rất đông và hàng năm đều tăng lên rất nhanh. Trung bình cứ 1 người nhập cư mang theo 1 xe máy nên số lượng xe máy mang biển số các tỉnh chiếm số lượng rất nhiều. Do đó muốn hạn chế xe máy thì trước tiên phải hạn chế người dân nhập cư vì XE MÁY LÀ DO CON NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN CHỨ XE MÁY KHÔNG TỰ CHẠY ĐƯỢC.

Việc làm này rất cơ bản và quan trọng hàng đầu, giống như khi một căn nhà bị ngập nước thì việc đầu tiên là phải tìm cách ngăn không cho nước tiếp tục chảy tràn vô nhà, sau đó mới làm động tác bơm nước ra ngoài.
Thu Hiền 08:33 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/9/2011
Cấm xe máy cũng được, nhưng vấn đề phương tiện giao thông công cộng có đáp ứng được nhu cầu đi lại cơ bản của người dân không: xe buýt đủ chỗ ngồi, không nhồi nhét khách, chạy đúng giờ, sạch sẽ, lịch sự ... ở Việt Nam e là hơi khó!
DTN 20:44 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/9/2011
Đa số làm ra ùn tắc là những “đường đi 2 chiều không có lan can”, “những ngã 4 được phép rẽ trái”, nếu các bác nghiên cứu lại và giải quyết được 2 vấn đề trên, tôi nghĩ sẽ giải quyết được tối thiểu 50% đường ún tắc giao thông.

Tất cả các tuyến đường đều cấm rẽ trái (hoặc cấm trong giờ cao điểm); các tuyến đường đi 2 chiều cũng phải có lan can.

Như vậy là biện pháp giải quyết vấn đề ùn tắc nhanh nhất và sẽ là liệu quả hơn.
Van 17:21 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/9/2011
Tôi ở ngoại thành Hà Nội hàng ngày đi 8km để đến đuợc nơi làm việc, nếu cấm xe máy vào nội thành thì chúng tôi đi làm bằng phưong tiện gì khi mà nơi chúng tôi ở không có xe buýt (chẳng lẽ đi bằng xe đạp)?

Cấm xe máy là đúng, nhưng xin quí vị hãy xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông công cộng thật đa dạng, thật tốt, rồi hẵng cấm!

Chưa hoàn thiện cái nọ mà đã cấm cái kia, thì xin hãy nhìn vào bài học trong quá khứ thì sẽ hình dung ra kết quả ngay thôi, xin hãy trưng cầu ý dân xem họ có đồng thuận hay không? Chớ nên đề xuất rồi lại huỷ bỏ, rất mất thời gian công sức và tiền bạc!
Hung Nguyen 15:28 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/9/2011
Vẫn cái cách làm không quản được thì cấm. Trong khi mô tô, xe máy là phương tiện đi lại chủ yếu của người dân Việt Nam tại các thành phố lớn, nếu cấm thì họ đi lại bằng cách nào? Xe bus có đủ để phục vụ đi lại của người dân không? Chất lượng dịch vụ xe bus đang có nhiều vấn đề, nếu tăng đột biến về số lượng thì chất lượng sẽ ra làm sao? Vậy cơ sở nào cho sự cấm đoán này?

Chủ trương lớn cần phải phục vụ mục địch của đại đa số dân chúng, lấy dân làm gốc chứ.

05/09 “Hữu nghị và hợp tác Việt-Trung là xu hướng chính”


picture
Đại sứ Nguyễn Văn Thơ phát biểu tại buổi chiêu đãi 66 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - Ảnh: CRI.
▪  P.V
08:24 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/9/2011

Nhân kỷ niệm 66 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2011) và chuẩn bị diễn ra hội nghị lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc tại Hà Nội, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ đã trả lời phỏng vấn của Tân Hoa Xã và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV).

Theo nguồn tin từ TTXVN, nội dung trả lời phỏng vấn tập trung vào những thành tựu nổi bật trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối chính sách lớn của Đại hội lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam, về tổng thể quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và những biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước trong thời gian tới.
 
Đại sứ Nguyễn Văn Thơ cho biết Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
 
Đại sứ nhấn mạnh quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong thời gian qua phát triển tốt đẹp, lấy hợp tác là xu hướng chính. Quan hệ hợp tác giữa hai nước đã giành được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục-đào tạo, an ninh, quốc phòng… Đặc biệt, kim ngạch thương mại hai chiều năm 2010 đạt gần 30 tỷ USD và trong 6 tháng đầu năm 2011 đạt 18 tỷ USD, tăng 40,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam.
 
Trong giao lưu văn hóa giáo dục, hơn 13.000 sinh viên Việt Nam đang theo học tại các trường đại học của Trung Quốc là những cầu nối quan trọng góp phần tăng cường sự hiểu biết và hữu nghị giữa hai dân tộc.
 
Theo Đại sứ Nguyễn Văn Thơ, tình hữu nghị Việt-Trung được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đích thân gây dựng, được nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dầy công vun đắp và là tài sản quý báu của hai đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần phải hết sức giữ gìn. Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam trước sau như một hết sức coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện với Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc, coi đây là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.
 
Đại sứ cho rằng để quan hệ hai nước tiếp tục phát triển ổn định, cần phải có nỗ lực chung của cả hai bên trên cơ sở nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước về xây dựng quan hệ đối tác hợp tác phát triển toàn diện Việt Nam-Trung Quốc; nâng cao lòng tin lẫn nhau về chính trị theo hướng tăng cường các chuyến thăm giữa lãnh đạo hai nước; hợp tác hiệu quả hơn về kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch; tăng cường giao lưu, hợp tác giữa các bộ ngành, địa phương, giao lưu giữa hai đảng và các đoàn thể hai nước; tìm hướng tiếp cận mới để giải quyết những bất đồng tồn tại cũng như mới nảy sinh trong quan hệ hai nước…
 
Theo TTXVN, Đại sứ Nguyễn Văn Thơ cũng nhấn mạnh quan hệ hai nước tuy tồn tại những bất đồng do lịch sử để lại như vấn đề biển Đông, nhưng đó không phải là tất cả trong quan hệ Việt-Trung. Kết quả và những kinh nghiệm quý báu trong việc phân định vịnh Bắc Bộ và biên giới trên bộ sẽ là tiền đề quan trọng để hai bên tiếp tục bàn bạc, giải quyết vấn đề biển Đông.

05/09 Hai kịch bản kinh tế Việt Nam và chuyện “điều chỉnh sớm”


picture
Thời gian qua, những nỗ lực hoàn thành các mục tiêu đã được đề ra từ trước đã khiến Chính phủ chịu nhiều áp lực trong điều hành kinh tế.
▪  ANH MINH
11:42 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/9/2011

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 đã xác định khá chi tiết các mục tiêu phát triển kinh tế trong giai đoạn 2011 - 2015.

Tuy nhiên, tình hình thực tế hiện nay đang khiến các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam phải tính toán lại các chỉ tiêu tăng trưởng cho giai đoạn này.

Nghị quyết Đại hội Đảng đã xác địnhtrong kế hoạch 5 năm sắp tới, Việt Nam sẽ phấn đấu “phát triển nhanh, bền vững”. Tuy nhiên, xét trong bối cảnh kinh tế hiện nay cũng như triển vọng của năm 2012, các chuyên gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng mục tiêu này nên được điều chỉnh.

Cụ thể, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất rằng mục tiêu phát triển cần được điều chỉnh là “đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững, tạo điều kiện để phát triển nhanh hơn vào nửa cuối của kế hoạch 5 năm”.

Tinh thần chung của kế hoạch có thay đổi, nên từ lúc này các chuyên gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng hai kịch bản kinh tế cho giai đoạn phát triển mới.

Kịch bản thứ nhất là vẫn giữ nguyên các chỉ tiêu phát triển như trong nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 11, theo đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ đạt bình quân 7-7,5% trong 5 năm tới.

Với mức tăng trưởng này, GDP sẽ đạt khoảng 185 tỷ USD vào năm 2015, qua đó GDP đầu người sẽ đạt khoảng 2.000 USD.

Các chỉ tiêu này, theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, là đã được đưa ra vào thời điểm cuối năm 2009, khi mà “tình hình kinh tế xã hội đất nước tại thời điểm đó còn tương đối khả quan”.

Trong khi đó, kịch bản thứ hai được xây dựng dựa trên các dữ liệu kinh tế hiện nay cũng như xu hướng phát triển sắp tới, đưa ra các chỉ tiêu thấp hơn so với nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 11, với lý do tình hình kinh tế trong và ngoài nước đang diễn biến “theo chiều hướng xấu đi so với trước”.

Cụ thể, mức tăng trưởng GDP của năm 2011 được dự báo là vào khoảng 6%, trong khi năm 2012 được dự báo đạt khoảng 6,5%. Nếu giữ nguyên mục tiêu như trong nghị quyết, “gánh nặng” hoàn thành mục tiêu sẽ dồn hết cho các năm còn lại và như vậy sẽ khó khả thi.

“Nếu thực hiện mục tiêu này, đòi hỏi Chính phủ phải tiếp tục bỏ ra một lượng vốn lớn để kích thích tăng trưởng và bài học trong các năm qua cho thấy việc chuyển liên tục từ chính sách thắt chặt sang chính sách nới lỏng sẽ dẫn đến những tác động xấu, gây bất ổn tới kinh tế vĩ mô và thúc đẩy lạm phát tăng cao”, trích từ một báo cáo mới đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi Chính phủ.

Từ lập luận này, mức tăng trưởng cho 5 năm tới được đề xuất là 6,5 - 7% mỗi năm, thấp hơn trung bình 0,5% so với nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ 11.

Chưa rõ việc điều chỉnh này có được chấp thuận hay không, song điều quan trọng là tinh thần “rút kinh nghiệm” đã được thể hiện khá rõ trong đề xuất này. Thời gian qua, những nỗ lực hoàn thành các mục tiêu đã được đề ra từ trước đã khiến Chính phủ chịu nhiều áp lực trong điều hành kinh tế.

Nay, khi giai đoạn 5 năm 2011 - 2015 mới đi qua được một năm, việc điều chỉnh sớm các mục tiêu có thể giúp giảm đáng kể áp lực này.
 
Thảo luận (2 ý kiến)
(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)
 
Zhang 09:28 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/9/2011
Vấn đề "tái cấu trúc nền kinh tế" được nhắc nhiều lần, sau khi ổn định kinh tế vĩ mô phải chú trọng vấn đề này, chỉ thực hiện tốt điều này mới tạo nền tảng vững chắc trước mọi thay đổi của môi trường quốc tế.
Nguyễn Thanh Phương 14:43 (GMT+7) - Thứ Hai, 5/9/2011
Chúng ta không nên đặt nặng vấn đề tăng trưởng là bao nhiêu %. Cái chính là giải quyết các bất ổn vĩ mô và hướng tới tăng trưởng bền vững. Có như vậy thì chúng ta mới tự đi trên chính đôi chân của chúng ta được.

Saturday, September 3, 2011

03/09 ホアンサ諸島海域に中国の大型漁業監視船

2011/09/06 11:35 JST配信
         
 新華社通信によると、中国の400t級の大型漁業監視船「漁政306」が2日、ホアンサ諸島(英名:パラセル諸島、中国名:西沙諸島)に向けて広州の港を出港した。この大型監視船は、2隻の小型監視船と共にホアンサ諸島海域で巡視活動を行うという。3日付ベトナムネットが報じた。

 南シナ海では今年の5月と6月に、ベトナムの資源探査船が自国の主権海域内で調査活動中に中国の監視船から妨害を受けるなどの事件が起きている。

 国際問題アナリストらによると、中国は非軍事または半軍事(漁業監視船や巡視船など)の船舶を使用して、中国が領有権を争う海域で活動する外国船に対する妨害を行う傾向が強いという。中国は日本との間で尖閣諸島の領有権を争っているほか、南シナ海でも東南アジア諸国(ベトナム、フィリピン、マレーシア、ブルネイ)との間で領有権を巡る対立を深めている。
         
[Vietnamnet, 03/09/2011 06:05:00 PM (GMT+7), O]
© Viet-jo.com 2002-2011

03/09 Luật Biển Việt Nam sẽ được trình trong tháng 9


picture
Đảo Đá Lớn thuộc quần đảo Trường Sa (Việt Nam) - Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN.
▪  NGUYỄN VŨ
11:10 (GMT+7) - Thứ Bảy, 3/9/2011

Thủ tướng đã giao Bộ trưởng Bộ Ngoại giao phối hợp chuẩn bị Dự án Luật Biển Việt Nam để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ hai, sẽ diễn ra vào cuối tháng này.

Văn phòng Chính phủ vừa gửi đến các bộ, ngành liên quan ý kiến phân công nhiệm vụ của Thủ tướng về việc chuẩn bị các phiên họp thứ hai và thứ ba của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Theo đó, tại phiên họp thứ hai (từ 19 – 27/9), bên cạnh dự án Luật Biển Việt Nam, một số dự án luật khác cũng sẽ được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến. Như, Luật Quản lý giá; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật Quảng cáo; Luật Bảo hiểm tiền gửi…

Còn tại phiên họp thứ ba dự kiến sẽ diễn ra từ 5 -12/10/2011, bên cạnh báo cáo về kinh tế, xã hội, ngân sách năm 2011, Thủ tướng cũng phân công chuẩn bị Báo cáo về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015.

Báo cáo về kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 và quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020 cũng sẽ được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp này.

Thủ tướng cũng giao Tổng Thanh tra Chính phủ chuẩn bị, trình: Báo cáo về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 2011. Đồng thời chủ trì, phối hợp với Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Văn phòng Chính phủ chuẩn bị, trình Báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2011.

Đây là những nội dung được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội khóa 13 tại kỳ họp thứ hai, sẽ khai mạc vào ngày 20/10 tới.

Tại kỳ họp này, theo Nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh chương trình năm 2011, Quốc hội sẽ thông qua Luật Biển Việt Nam.

Tại không ít phiên thảo luận của Quốc hội, một số vị đại biểu đã tỏ ra rất sốt ruột khi Luật Biển Việt Nam đã được lùi, hoãn khá nhiều lần. 

Vào đầu năm nay, Chính phủ cũng đã đề nghị bổ sung Luật Biển Việt Nam vào chương trình trình Quốc hội khóa 12 xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ chín, (tháng 3/2011).

Tuy nhiên, sau đó Chính phủ lại đề nghị lùi thời hạn trình dự án luật này do còn một số vấn đề chưa thống nhất, cần thêm thời gian nghiên cứu.