Showing posts with label CIEM. Show all posts
Showing posts with label CIEM. Show all posts

Friday, February 17, 2012

Đa chiều nhận định kinh tế đầu năm


ĐOÀN TRẦN
17/02/2012 09:44 (GMT+7)
pictureVẫn còn quá sớm để nhìn nhận bức tranh kinh tế năm 2012 sẽ diễn biến theo chiều hướng tích cực hay là ngược lại - Ảnh: Reuters.
E-mailBản để inCỡ chữChia sẻ:facebooktwittergooglerss
Bình luận về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu năm, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Lê Đăng Doanh cho rằng cần phải nhìn thẳng vào sự thật: Việt Nam đã thấm sâu hơn những ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và trong bối cảnh như vậy thì môi trường đầu tư của Việt Nam đã tỏ ra kém cạnh tranh hơn so với các nước trong khu vực.

Friday, October 14, 2011

14/10 Cải cách thể chế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

14/10/2011 | 19:40:00

Quang cảnh hội thảo. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Với các chỉ số quan trọng xếp hạng năng lực cạnh tranh năm 2010-2011 của Việt Nam theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới đã bị tụt từ 10-20 bậc so với năm 2009, môi trường thể chế đất nước đang đối mặt với đòi hỏi bức bách phải cải cách một cách toàn diện, hệ thống nhằm thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh, đủ sức chống chọi với các cú sốc của nền kinh tế.


Thách thức môi trường thể chế

Monday, October 3, 2011

03/10 Tái cấu trúc kinh tế phải bắt đầu từ hiệu quả sử dụng vốn

NGHỆ NHÂN
03/10/2011 15:53 (GMT+7)
pictureNâng cao hiệu quả vốn đầu tư đang là đòi hỏi được đặt ra mạnh mẽ trong tái cấu trúc nền kinh tế.
Trong khuôn khổ một dự án nghiên cứu do UNDP tài trợ, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế của Việt Nam vừa ngồi lại cùng nhau để thảo luận về tái cơ cấu nền kinh tế, một nội dung đã được đưa ra thảo luận sôi nổi hồi năm ngoái, nhưng sau đó tạm thời lắng xuống.

TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nói rằng sau nhiều năm đạt được thành tích tăng trưởng được coi là khá ngoạn mục, trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đang đối mặt với yêu cầu gay gắt phải “chỉnh sửa căn bản” để thoát khỏi tình trạng nghiêm trọng, thậm chí rơi vào tình trạng “đình trệ - lạm phát cao”.

Thursday, September 22, 2011

22/09 “Doanh nghiệp nhà nước phải được xã hội giám sát!”


▪  MAI MINH
22/09/2011 14:23 (GMT+7)
 
Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ và Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú tại cuộc hội thảo về giá xăng dầu hôm 19/9. Nhiều doanh nghiệp xăng dầu kêu bị lỗ vì một phần phải gánh trách nhiệm xã hội - Ảnh: Tuổi Trẻ.
Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), ông Nguyễn Đình Cung, cho rằng việc công khai thông tin hoạt  động của khối doanh nghiệp nhà nước “nhìn thì tưởng đó là việc đơn giản, dễ làm, nhưng nếu thực hiện được, đó sẽ là “cú nhảy vọt” cho sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước”.

Ông Cung nói:

- Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước luôn có “lợi thế” là khi làm ăn có lãi thì họ cho đó là sự thành công của họ, nhưng lúc thua lỗ lại đổ tại vì phải gánh vác những trách nhiệm xã hội mà Nhà nước giao cho, và yêu cầu giải cứu... 

Như thế là không sòng phẳng, và vô hình trung trở thành rào cản cho chính họ trên con đường tiến tới sự phát triển tích cực hơn.

Muốn tốt cho doanh nghiệp nhà nước, cần đặt các doanh nghiệp này vào áp lực cạnh tranh và bình đẳng với các thành phần doanh nghiệp khác. Và khi cũng phải đối mặt với những rủi ro thị trường, tôi nghĩ họ sẽ có những thay đổi theo hướng tốt lên đối với người dân cũng như dư luận xã hội trong cách ứng xử.

Muốn làm được điều này, công khai hoạt động của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước là một trong những cách làm mang tính chất quyết định nhất. Các doanh nghiệp nhà nước không thể vận hành theo cơ chế thị trường chừng nào họ chưa công khai minh bạch hoạt động của mình và luôn mang nặng tư tưởng rằng không cần dấn thân, có sáng kiến đổi mới, họ vẫn được hưởng thành quả xứng đáng hơn những gì họ đã bỏ ra, và nếu có gây ra sai sót, họ có thể cũng không phải chịu trừng phạt gì. 

Không có công khai, minh bạch thì hoạt động của doanh nghiệp nhà nước có thể sẽ vẫn còn tồn tại những hành vi mua bán dự án, tìm kiếm mối quan hệ, đầu cơ... Vì vậy, cần buộc các doanh nghiệp nhà nước phải công khai hóa, minh bạch thông tin với một tiêu chuẩn khắt khe về tình hình sản xuất, tài chính. 

Tôi nhấn mạnh đến sự “khắt khe” là vì doanh nghiệp nhà nước không phải sở hữu của cá nhân, tập thể nào mà là sở hữu của toàn xã hội, nên cần phải được xã hội giám sát quá trình hoạt động, kinh doanh của họ. Các mục tiêu kinh doanh, lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp nhà nước cũng cần được công bố và cả những chương trình kế hoạch cho 5 năm.   

Nhưng, nếu buộc các doanh nghiệp nhà nước cũng phải chịu áp lực cạnh tranh như các thành phần kinh tế khác, đồng thời công khai, minh bạch hoạt động, thì liệu có là bất công với họ vì các doanh nghiệp nhà nước còn phải gánh trách nhiệm xã hội?

Tôi cho rằng Nhà nước không nên tiếp tục giao trách nhiệm xã hội cho doanh nghiệp nhà nước như trách nhiệm điều tiết thị trường, điều tiết vĩ mô..., bởi sử dụng họ như thế  là trái với quy luật thị trường. 

Chúng ta vẫn phải quản lý thị trường bằng luật pháp, chứ không phải chỉ là giao trách nhiệm này riêng cho khối doanh nghiệp nhà nước.

Tốt nhất, đã là doanh nghiệp thì nên để họ hoạt động thuần túy theo nguyên tắc kinh doanh, không nên sử dụng doanh nghiệp như một công cụ điều tiết vĩ mô, điều tiết thị trường hay thực hiện chính sách xã hội.

Chẳng hạn với việc cung cấp điện, đã đến lúc Nhà nước phải đảm bảo tất cả các doanh nghiệp đều có cơ hội phân phối điện như nhau chứ không phải chỉ  giao cho một công ty độc quyền... Như thế, Nhà  nước vừa đỡ mất công quản lý để doanh nghiệp này không dùng vị thế độc quyền chi phối thị trường, hoặc lợi dụng vị trí độc quyền để gây tổn hại cho người tiêu dùng, vừa đỡ gánh nặng cho doanh nghiệp... 

Đã và đang nghiên cứu rất sâu về đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, ông có thể cho biết tâm tư khi thực hiện nghiên cứu này?

Đầu tư nhà nước, trong đó có đầu tư của doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng vào thành công của mô hình tăng trưởng hiện nay. Tuy vậy, thực tế cho thấy, mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào gia tăng vốn đầu tư, năng suất thấp, hiệu quả thấp đã đến mức tận khai và cần được thay đổi.

Đầu tư nhà nước gia tăng  là một trong các nguyên nhân làm mất cân đối vĩ mô, qua đó, làm cho kinh tế vĩ mô  ngày càng trở nên bất ổn định.  Đầu tư nhà nước tăng làm tăng bội chi ngân sách, tăng chênh lệch giữa tiết kiệm và  đầu tư, làm trầm trọng thêm thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai; làm gia tăng nợ quốc gia... 

Tất cả diễn biến này đã và đang làm suy yếu các yếu tố nền tảng vĩ mô của nền kinh tế, làm suy yếu vị thế và khả năng của Chính phủ trong quản lý kinh tế vĩ mô; làm cho nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các tác động bất lợi từ bên ngoài; khiến kinh tế vĩ mô mong manh, thiếu ổn định.

Điều đáng lưu ý là trong những năm gần đây vốn đầu tư thực tế từ ngân sách luôn cao hơn khá nhiều so với vốn đầu tư dự kiến theo kế hoạch. Ví dụ, năm 2010, vốn đầu tư từ ngân sách dự kiến là 125,5 ngàn tỷ đồng, thì thực tế thực hiện lại vào khoảng hơn 180 ngàn tỷ đồng, tức là 55,5 ngàn tỷ cao hơn dự kiến, tương đương 2,7 tỷ USD, bằng khoảng 2,7% GDP năm 2010. 

Câu hỏi đặt ra là ai, cơ quan nào có thẩm quyền thay đổi các khoản chi của ngân sách đã được phê duyệt? 

Nếu chỉ đầu tư theo kế hoạch, thì bội chi ngân sách năm 2010 chỉ khoảng 3,5%, một tỷ lệ lý tưởng trong bối cảnh hiện nay để ổn định kinh tế vĩ mô. 

Và nếu bội chi ngân sách chỉ khoảng 3,5% GDP, thì chính sách tài khóa đã bổ sung, phối hợp tốt với chính sách tiền tệ trong chống lạm phát ổn định kinh tế vĩ mô; qua đó, tình hình kinh tế vĩ mô được cải thiện, không bất ổn đến mức báo động như những gì chúng ta đang chứng kiến. 

Friday, July 29, 2011

29/07 Nhiều khu công nghiệp còn trống vắng


Thứ Sáu, 29/07/2011, 01:51 (GMT+7)
TT - Phát biểu tại hội thảo “Phát triển khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp gắn với phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, hình thành mạng lưới liên kết sản xuất và chuỗi giá trị” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (CIEM) tổ chức tại Đà Nẵng ngày 27-7, ông Trần Kim Hào - tổ phó thường trực tổ biên tập đề án của CIEM - cho biết tỉ lệ lấp đầy diện tích các KCN còn thấp, còn các cụm công nghiệp chỉ 26,4%.
Báo cáo của CIEM cho thấy từ năm 1991-2010, cả nước có 260 KCN được thành lập với diện tích đất 71.394ha, trong đó đã có 173 KCN đi vào hoạt động có diện tích 43.718ha và 88 KCN trong giai đoạn giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ bản.
Tổng vốn thực hiện đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng của các dự án đã vận hành đạt hơn 1 tỉ USD và 49.170 tỉ đồng. Các KCN đã thu hút được 3.962 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký 53,588 tỉ USD nhưng mới chỉ thực hiện được 32% số vốn. Các KCN cả nước đã cho thuê hơn 21.000ha đất công nghiệp, đạt tỉ lệ lấp đầy diện tích cho thuê 46%.
Ông Hào chỉ ra hàng loạt hạn chế: không có tính liên kết giữa các doanh nghiệp dẫn đến hậu quả là khả năng cạnh tranh bị suy giảm do cạnh tranh triệt tiêu lẫn nhau; công nghiệp hỗ trợ kém phát triển; mối liên hệ giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo, nghiên cứu còn rời rạc, lỏng lẻo.
V.HÙNG

Tuesday, May 10, 2011

06/05 Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2011: Lạm phát 15% ?


Thứ Sáu, 06/05/2011 | 14:08
Phản hồi: 1 | A

Tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2011 sẽ ở mức 6,2%, lạm phát có khả năng sẽ ở mức 15%, và Việt Nam cần các biện pháp trung và dài hạn để duy trì phát triển kinh tế bền vững… là những thông tin được các chuyên gia đưa ra tại buổi công bố Báo cáo khảo sát tình hình kinh tế -xã hội khu vực châu Á- Thái Bình Dương, ngày 5-5 tại Hà Nội.
Ông Pisit Puapan (trái) và PGS. TS Lê Xuân Bá tại buổi công bố báo cáo

Nợ công đã vượt 50%GDP

Báo cáo do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) của Liên Hiệp Quốc công bố về tình hình kinh tế Việt Nam cho thấy sau khi đạt mức tăng trưởng mạnh trong năm 2009, kinh tế tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh hơn trong năm 2010. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những lo ngại về tình trạng phát triển quá nóng. Lạm phát ở mức cao và có những dấu hiệu rõ ràng về tình trạng quá nóng là những điểm Việt Nam cần lưu ý. Hiện Việt Nam là một trong những quốc gia có thâm hụt tài khóa cao nhất ở Đông Nam Á với khoản nợ công không ngừng tăng lên, hiện đã vượt 50% GDP. Theo dự báo, trong năm 2011 tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chậm lại, ở mức 6,2%.

Ông Pisit Puapan, chuyên gia phụ trách các vấn đề kinh tế của UN ESCAP cho rằng, khả năng rơi vào bẫy thu nhập trung bình là tình hình không mong muốn ở nhiều nước châu Á. UN ESCAP đã xây dựng hai kịch bản, gồm: một kịch bản có tên Thế kỷ châu Á và một kịch bản bi quan. Việt Nam và Thái Lan đang phải đối diện với tình trạng toàn cầu hóa về giá cả, giá cả tăng lên một mức mà thu nhập nội địa không theo kịp.

Hạ lạm phát: Nhanh cũng phải 6 tháng

PGS. TS Lê Xuân Bá. Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết, trong mấy năm vừa rồi tình hình lạm phát ở Việt Nam tương đối phức tạp và đây là một trong những vấn đề “đau đầu” của Chính phủ. Con số thống kê cho thấy năm 2010, lạm phát ở mức 11,75%. Nếu so với năm 2008 thì mức lạm phát này còn thấp hơn. Tuy nhiên, so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra thì con số này là cao. Tính đến hết tháng 4, lạm phát đã lên tới 9,64%, vượt mức lạm phát cả năm mà Quốc hội cho phép. Với diễn biến này, nhiều ý kiến đặt ra về mức lạm phát năm nay. “Tại phiên họp Chính phủ vừa rồi, Chính phủ quyết tâm phấn đấu giữ lạm phát bằng mức của năm 2010. Đây là con số đặt ra để phấn đấu nhưng theo tôi nghĩ là khó thực hiện. Nhiều dự đoán cho rằng từ tháng 5 lạm phát sẽ xuống. Thí dụ lạm phát có giảm xuống 2,5%, cộng với 9,6% của các tháng đầu năm đã bằng con số lạm phát mục tiêu đề ra. Cá nhân tôi dự đoán, nếu chúng ta phấn đấu được lạm phát ở mức thấp hơn 15% cũng là tốt rồi vì để hạ được lạm phát phải có thời gian, có thể 6 tháng, 9 tháng.”- Ông Bá nói.

Ông Bá cho rằng, xét một cách đầy đủ, lạm phát ở Việt Nam là do cơ cấu kinh tế khá lạc hậu. Tăng trưởng của ta là tăng trưởng theo chiều rộng, dựa vào vốn đầu tư, ít dựa vào kinh tế tri thức, khoa học công nghệ. Đồng vốn đầu tư của ta hiệu quả chưa cao, thậm chí có những đồng vốn không hiệu quả. Muốn không có lạm phát hoặc lạm phát ở mức thấp, phải tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả đầu tư. Nếu không lạm phát là vấn đề tương đối thường trực. “Có thể hôm nay bằng biện pháp này khác ta kìm chế được lạm phát nhưng rồi nó sẽ bùng lại bất cứ lúc nào. Phải kết hợp giữa tăng trưởng theo chiều rộng và tăng trưởng theo chiều sâu, phải chú trọng đến việc tăng hàm lượng khoa học công nghệ, tri thức lên”- Ông nói.

Kiểm tra việc doanh nghiệp nước ngoài huy động vốn ở Việt Nam
Theo PGS-TS Lê Xuân Bá, năm 2010 Việt Nam thu hút được hơn 17,2 tỷ USD vốn FDI đăng ký và giải ngân được 11 tỷ USD. Đây là mức giải ngân khá cao nếu so với những năm đầu thu hút FDI của Việt Nam, khi tỷ lệ giải ngân chỉ đạt 1/3 vốn đăng ký. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng trong số 11 tỷ USD vốn FDI giải ngân của năm 2010, thực chất nhà đầu tư nước ngoài chỉ đưa vào giải ngân 8 tỷ USD, số còn lại là thu hút vốn từ trong nước. Tại cuộc họp của Bộ KH&ĐT trong tuần này, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc đã yêu cầu vụ chức năng xem kỹ lại có hay không việc này.
Phạm Tuyên
TIỀN PHONG