Showing posts with label Security. Show all posts
Showing posts with label Security. Show all posts

Wednesday, June 1, 2011

30/07/2009 Tai nạn lao động tại các công trình xây dựng cao tầng: Còn thờ ơ, còn phải trả giá


THỨ NĂM, 30 THÁNG 7 2009 10:18 BÁO LAO ĐỘNG

Hàng loạt vụ tai nạn lao động chết người xảy ra tại các công trình xây dựng cao tầng trong thời gian qua, mà gần đây nhất là tại công trình tòa nhà Keangnam Hanoi Landmark (Từ Liêm, Hà Nội) đã cho thấy công tác đảm bảo an toàn lao động tại các công trình cao tầng đang bị xem nhẹ.

Chỉ trong 6 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 51 vụ tai nạn lao động trong hoạt động xây dựng, làm chết 13 người, bị thương 60 người. Tai nạn lao động (TNLĐ) trong xây dựng luôn chiếm tỉ lệ cao trong tổng số các vụ TNLĐ xảy ra với khoảng 55% - 60% chủ yếu do điện, ngã cao, vật rơi, vật ép.

(nguồn : xomnhiepanh.com)

Mức xử phạt còn quá nhẹ

Dù chủ đầu tư của công trình tòa nhà Keangnam Hanoi Landmark - Cty TNHH một thành viên Keangnam Vina - luôn yêu cầu các nhà thầu phụ phải quan tâm đặc biệt tới vấn đề an toàn lao động (ATLĐ), trang bị thiết bị bảo hộ lao động đầy đủ cho công nhân, thành lập một đội giám sát về ATLĐ để kiểm tra, giám sát trên toàn công trường, nhưng những TNLĐ vẫn cứ liên tiếp xảy ra.

Chính ông Chủ tịch Cty Keangnam Vina khi trao đổi với PV cũng đã phải thừa nhận: "Các công nhân của VN không có ý thức tự bảo vệ mình. Chúng tôi luôn yêu cầu họ khi thi công trên cao phải đeo dây bảo hiểm, nhưng nhiều người thấy vướng víu lại bỏ ra. Đội giám sát của chúng tôi chỉ có 7 người, nên không thể nào bao quát hết cả công trường. Bản thân các nhà thầu phụ - những người phải trực tiếp giám sát, tuyên truyền cho công nhân của mình thực hiện các biện pháp ATLĐ - cũng thờ ơ, bỏ qua chuyện này".

Khi các nhà thầu phụ thờ ơ, người lao động tại các công trường đã phải chịu thiệt thòi rất nhiều, đôi khi phải đổi bằng chính tính mạng của mình. Nhiều công nhân thuộc nhà thầu Cty CP xây dựng và kinh doanh địa ốc Hòa Bình chúng tôi gặp gỡ, đều chưa từng biết về công việc xây dựng trước đó. Vậy mà khi vào làm tại công trường, họ cũng không được Cty hướng dẫn, tuyên truyền về ATLĐ.

Anh Lê Văn Đông - ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng - cho biết: "Ở nhà tôi chỉ nuôi tôm sú, chưa từng làm xây dựng. Nhà nghèo nên khi Cty tuyển thì đi làm. Tôi làm ở tổ sắt thì chỉ biết làm sắt, cũng không được hướng dẫn gì về an toàn lao động".

Anh Nguyễn Thanh Quang - ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng - cũng là "lính mới", không hề biết gì về xây dựng. Anh mới được Cty tuyển vào làm hôm trước cùng với hàng loạt lao động mới ở Bình Phước và một số tỉnh miền Tây Nam Bộ, vì có nhiều người bỏ về do thời tiết miền Bắc khắc nghiệt và hoang mang sau mấy vụ TNLĐ chết người. Tuy nhiên, vì công việc đơn giản nên Cty cũng không hướng dẫn gì cho anh, kể cả về công tác ATLĐ, chỉ phát cho dây bảo hiểm để đeo vào người.

Các chuyên gia về ATLĐ nhận định, một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng TNLĐ trong các công trình xây dựng cao tầng là tình trạng các doanh nghiệp xây dựng cho mượn pháp nhân, sử dụng cai thầu và khoán trắng an toàn ở công trường cho cai thầu. Chính các cai thầu này lại về tuyển công nhân ở quê mình, hoặc lao động tự do vào làm, hầu hết là những người không có kiến thức và ý thức về an toàn lao động. Đó cũng chính là hoàn cảnh của những lao động kể trên tại nhà thầu Hòa Bình.
  • Ảnh bên : Công trình Keangnam Hanoi Landmark Tower đang thi công (Ảnh: VietNamNet)
Trao đổi với PV Lao Động, ông Vũ Như Văn - Phó Cục trưởng Cục An toàn lao động (Bộ LĐTBXH) - khẳng định: "Các văn bản hướng dẫn về thực thi ATLĐ đều có đủ, nhưng vấn đề chính vẫn là ý thức tự giác chấp hành các quy định ATLĐ từ nhà thầu cho đến các công nhân. Nhiều nhà thầu không cấp đủ các trang thiết bị bảo hộ ATLĐ cho công nhân. Việc huấn luyện kiến thức về ATLĐ cho lao động đôi khi chỉ làm theo hình thức. Đặc biệt, nhiều Cty khoán trắng cho lao động, thiếu sự kiểm tra.

Vấn đề kiểm tra sức khỏe của công nhân, nhất là những người phải làm việc trên độ cao, cũng thường bị các nhà thầu bỏ qua hoặc có kiểm tra thì cũng làm sơ sài. Trong khi đó, có nhiều người bị bệnh tim hoặc sợ độ cao, khi phải làm việc trên cao sẽ rất nguy hiểm tới tính mạng
".

Về mức phạt với các doanh nghiệp vi phạm quy định về ATLĐ, ông Vũ Như Văn cho rằng, mức phạt hiện tại vẫn nhẹ và Bộ LĐTBXH đang đề nghị nâng mức xử phạt để đạt mục đích răn đe và ngăn chặn vi phạm.

Ông Văn phân tích: "Hiện nay, chánh thanh tra được phạt tối đa 20 triệu đồng đối với một hành vi vi phạm của doanh nghiệp. Mức phạt này, theo tôi vẫn còn quá thấp. Nhưng có một cách còn hiệu quả hơn cả phạt, đó là áp dụng điều 32 của NĐ 113 về xử phạt các vi phạm pháp luật lao động, các doanh nghiệp bị xử lý sẽ bị "bêu tên" trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nếu ta làm tốt điều này thì các doanh nghiệp sẽ thấy sợ mà phải thực hiện tốt các quy định về ATLĐ".

TP. Hồ Chí Minh: Đại công trường đầy rủi ro
Trong tổng số 45 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm chết 45 người từ đầu năm đến nay, những vụ "rơi tự do", điện giật, bị vật chèn ép... đã chiếm hơn 60%. TNLĐ trong lĩnh vực xây dựng tăng đột biến so với cùng kỳ năm trước.

Ông Nguyễn Quốc Việt - Phó Chánh Thanh tra Sở LĐTBXH phụ trách lĩnh vực an toàn lao động (ATLĐ) - nhận định: "TPHCM hiện nay như một đại công trường xây dựng đầy rủi ro. Mức độ rủi ro tăng theo chiều cao công trình và độ sâu của hầm ngầm được thi công".

Hàng nghìn công trình dân dụng và hàng trăm dự án lớn - nhỏ đang được thi công thu hút khoảng 200-300 nghìn lao động (LĐ) trong lĩnh vực này, khi cao điểm lượng LĐ còn cao hơn nữa. Theo Thanh tra Sở LĐTBXH, thực trạng ATLĐ tại các công trường xây dựng đang ở mức đáng báo động. Trên 90% công trình dân dụng nhỏ lẻ không đảm bảo an toàn, còn với các công trình lớn cũng chưa đến 50% đảm bảo an toàn.

Thực trạng đó được "minh họa" bằng hàng loạt vụ TNLĐ nghiêm trọng tại các công trình xây dựng từ nhỏ đến lớn. Ngày 30.12.2008, 2 công nhân tử vong và 14 người bị thương do sập công trình xây dựng cao ốc tại Phú Mỹ Hưng, quận 7. Ngày 10.3, hai công nhân bị nạn trong vụ gãy dầm bêtông cầu vượt Chợ Đệm, huyện Bình Chánh.

Ngày 29.3, 6 người bị sập giàn giáo tại phường Đa Kao, quận 1. Ngày 10.4, hai công nhân bị thương do bêtông rơi tại công trình xây dựng cao ốc trên đường Phạm Ngọc Thạch, quận 3. Ngày 14.5, một lao động bị điện giật chết khi điều khiển máy trộn bêtông tại phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức...

Theo ông Nguyễn Quốc Việt, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TNLĐ trong lĩnh vực này là: Vị trí nguy hiểm như mép sàn tầng, hố, cửa thang máy... không được che đậy cẩn thận; dây dẫn điện nhiều mối nối để trên sàn, thiết bị điện không được kiểm tra trước khi đưa vào sử dụng; không làm lưới chống rơi, lưới đỡ vật rơi trong công trình; người lao động chưa nắm rõ quy tắc an toàn do huấn luyện ATLĐ chỉ mang tính hình thức.

Qua kiểm tra, Thanh tra Sở LĐTBXH phát hiện nhiều công trình lớn sử dụng các nhà thầu phụ hoặc nhóm cai thầu để có thêm lao động phổ thông. Đa phần những lao động này đều có trình độ học vấn thấp, thiếu tính tự giác nên xảy ra TNLĐ là tất yếu - ông Việt nhận định. Thêm vào đó, trong việc đấu thầu đơn giá thường thay đổi chậm so với thị trường, vì vậy dễ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của nhà thầu. Để tiết kiệm chi phí, cách đầu tiên nhà thầu thường nghĩ đến là cắt giảm chi phí phục vụ ATLĐ.

Trong khi đó, lực lượng thanh tra lao động trong lĩnh vực ATLĐ chỉ có 11 người, gần như "muối bỏ bể" khi phải bao quát hàng chục nghìn DN, cơ sở sản xuất và các công trình xây dựng. Chế tài xử phạt tối đa khi phát hiện sai phạm cũng chỉ lên đến 20 triệu đồng, chỉ như "phủi bụi" đối với nhiều chủ thầu. 
* Thống kê từ Bộ Xây dựng cho thấy, chỉ trong 6 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 51 vụ TNLĐ trong hoạt động xây dựng, làm chết 13 người, bị thương 60 người. TNLĐ trong xây dựng luôn chiếm tỉ lệ cao trong tổng số các vụ TNLĐ xảy ra với khoảng 55%-60% và nguyên nhân dẫn đến TNLĐ trong ngành xây dựng (điện, ngã cao, vật rơi, vật ép) đến 75% do điều kiện làm việc không bảo đảm an toàn. H.P

* Hà Nội: 80% số công trình xây dựng cao tầng vi phạm an toàn lao động. Ngày 29.7, ông Bạch Quốc Việt- Trưởng phòng An toàn lao động, Sở LĐTBXH Hà Nội - khẳng định: Nếu công tác thanh - kiểm tra được thực hiện chặt chẽ, sẽ có không dưới 80% số công trình xây dựng cao tầng đang bỏ quên việc đảm bảo an toàn cho công nhân (CN). Theo báo cáo của Sở LĐTBXH Hà Nội, 6 tháng đầu năm 2009, toàn thành phố đã có 13 người chết do TNLĐ, trong đó có tới 5 vụ xảy ra tai nạn khi thi công công trình trên cao. Mới đây nhất là những vụ TNLĐ xảy ra tại khu vực xây dựng tòa nhà Keangnam Hanoi Landmark trên đường Phạm Hùng.

Ông Việt cho biết, 6 tháng tới sở sẽ tập trung thanh - kiểm tra những công trình trọng điểm, trong đó đặc biệt chú trọng đến các công trình cao tầng. Trước những băn khoăn về mức xử phạt hành chính hiện nay còn quá nhẹ,  ông Việt thừa nhận: Xử phạt hiện nay mới dừng lại ở mức "cảnh cáo" nên chưa đủ sức răn đe.

Cụ thể, thanh tra viên khi phát hiện vi phạm chỉ được lập biên bản với số tiền 200.000 đồng/vụ; còn chánh thanh tra là 20 triệu đồng/vụ. Về những vụ tai nạn liên tiếp xảy ra ở khu vực thi công tòa nhà Keangnam Hà Nội, đại diện Sở LĐTBXH cho biết: Hiện lực lượng liên ngành đã tiến hành thanh tra vụ việc.

Dự kiến, sau 20 ngày (không tính thứ bảy và chủ nhật), kết luận chính thức sẽ được đưa ra. Do tính chất nghiêm trọng đặc biệt nên vụ việc lần này sẽ không được phép gia hạn thời gian điều tra. N.L  
Hải Phong - Vinh Hải

Sunday, May 1, 2011

30/04 Đoàn quân sự Việt Nam dự ADSOM và ADSOM+

30/04/2011 | 09:20:00

Ảnh minh họa. (Nguồn: Reuters)
Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam do Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đã tham dự Hội nghị Quan chức Quốc phòng cấp cao các nước ASEAN (ADSOM) và Hội nghị Quan chức Quốc phòng cấp cao các nước ASEAN mở rộng (ADSOM+).

Hai hội nghị diễn ra tại thành phố Yogyakarta của Indonesia từ ngày 27 đến ngày 29/4.

Đây là hai hội nghị quan chức quốc phòng ASEAN đầu tiên được tổ chức để triển khai các quyết định của Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) lần thứ nhất, được tổ chức tại Việt Nam hồi tháng 10 năm ngoái.

Tham dự hội nghị có các thứ trưởng, thư ký thường trực Quốc phòng các nước ASEAN và tám nước đối tác đối thoại của ASEAN gồm Nga, Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đã có bài phát biểu tập trung vào Chương trình hành động ba năm (2011-2013) của ADMM, trong đó nhấn mạnh đến các thách thức an ninh đang nổi lên ở khu vực, như xung đột biên giới Thái Lan-Campuchia, an ninh môi trường và tài nguyên nước trong khu vực.

Trung tướng nhấn mạnh vấn đề an ninh trên Biển Đông không chỉ tác động, ảnh hưởng đến lợi ích các nước trực tiếp liên quan mà còn tác động mạnh mẽ đến nhiều quốc gia khác có lợi ích trong khu vực.

Trung tướng tái khẳng định cần giải quyết tranh chấp thông qua biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về luật Biển năm 1982 và Tuyên bố Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); đồng thời cho rằng các bên cần phải tích cực và có trách nhiệm xây dựng Bộ quy tắc Ứng xử khu vực ở Biển Đông (COC).

Cũng theo Trung tướng, các nước ASEAN có trách nhiệm yêu cầu Thái Lan và Campuchia ngừng bắn, sớm quay lại đàm phán để giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình. Trung tướng đề nghị Indonesia tích cực hơn nữa trong vai trò trung gian hòa giải theo sự ủy quyền của Liên hợp quốc và quyết định của Ngoại trưởng các nước ASEAN ngày 22/4 vừa qua.

Cũng trong khuôn khổ Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh đã có các cuộc gặp song phương với một số đối tác quan trọng như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ… để trao đổi về các vấn đề hợp tác quốc phòng-quân sự song phương và đa phương trong thời gian tới.

Bên lề hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh đã tới chào xã giao Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia. Thứ trưởng khẳng định Việt Nam hết sức ủng hộ Indonesia hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ASEAN trong năm 2011 cũng như trong việc duy trì động lực hợp tác quốc phòng giữa các nước ASEAN và giữa ASEAN với các nước đối tác trong những năm tiếp theo.

Thứ trưởng cũng đề xuất một số biện pháp xử lý nhân đạo đối với các ngư dân bị bắt giữ do xâm phạm chủ quyền lãnh hải các nước trong khu vực.

Tại Hội nghị ADSOM, các quan chức quốc phòng ASEAN đã đánh giá kết quả thực hiện Chương trình hoạt động 3 năm của ADMM (2008-2010); thảo luận các tài liệu, nội dung và chương trình nghị sự cho Hội nghị ADMM-5 (gồm Dự thảo Tuyên bố chung, Chương trình hành động 2011-2013, Tài liệu khái niệm về thiết lập Mạng lưới các Trung tâm gìn giữ hòa bình ASEAN; Tài liệu khái niệm về hợp tác công nghiệp quốc phòng ASEAN và Chương trình nghị sự của Hội nghị ADMM-5).

Tại Hội nghị ADSOM+, trưởng đoàn các nước đã tập trung thảo luận và thông qua các tài liệu khái niệm thiết lập các nhóm chuyên gia (EWG); thông qua tài liệu khái niệm và đồng thuận quyết định thiết lập 5 nhóm chuyên gia theo 5 lĩnh vực hợp tác ưu tiên đã được thông qua tại ADMM+ lần thứ nhất tại Việt Nam, gồm hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa; an ninh biển; chống khủng bố; quân y và gìn giữ hòa bình./.

(TTXVN/Vietnam+)

Monday, February 14, 2011

09/02 Chiến lược quốc phòng Mỹ tập trung vào châu Á

Thứ tư, 9/2/2011, 11:03 GMT+7

Chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân Mỹ Mike Muller. Ảnh: Tribune.com.pk.

Lầu Năm Góc tuyên bố sẽ tiếp tục xây dựng đồng minh và tập trung giải quyết xung đột bằng cách triển khai thêm lực lượng ở các khu vực nhiều đe dọa, đặc biệt là châu Á và Thái Bình Dương.

Chiến lược quân sự quốc gia mà quân đội Mỹ công bố hôm qua kêu gọi tập trung phát triển lực lượng ở châu Á, nơi đang tăng trưởng nhanh cả về kinh tế và quân sự.

Theo tài liệu dày 21 trang này, môi trường an ninh toàn cầu ngày nay đang thay đổi nhanh chóng và có nhiều thách thức. Vì vậy, quân đội Mỹ cần tăng cường vai trò lãnh đạo và hợp tác cùng các quốc gia khác.

Mỹ cần chuẩn bị cho tương lai ngày càng biến động và không chắc chắn bằng cách củng cố mối quan hệ hợp tác an ninh sâu sắc thêm với các nước đồng minh cũng như những đối tác mới, trang Stars and Stripes dẫn lời Chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân Mỹ Mike Muller cho hay.

"Chúng tôi nhận thấy tốc độ thay đổi diễn ra nhanh chóng hơn quá khứ, ví dụ 30 hay 40 năm trước. Ai Cập là ví dụ hoàn hảo", một quan chức Lầu Năm Góc giấu tên nhận định. Ông cho rằng vì lý do đó, Mỹ và đồng minh cần sẵn sàng di chuyển lực lượng tới bất kỳ đâu và bất kỳ thời điểm nào.

Tuy nhiên, tham mưu trưởng liên quân Mỹ nhấn mạnh rằng việc đổi hướng tập trung sang châu Á không có nghĩa là Mỹ sẽ triển khai thêm quân tại Nhật hay Hàn Quốc. Chiến lược này có thể là thay đổi loại hình nhân lực và tăng cường các cuộc tập trận trong khu vực.

Bản chiến lược quân sự quốc gia mới công bố vạch ra vai trò của các quân chủng bộ binh, hải quân, không quân và thủy quân lục chiến trong việc bảo vệ nước Mỹ trong những năm tới. "Phải điều lực lượng tới những nơi có nguy cơ", Lincoln Tribune dẫn lời thiếu tướng hải quân John Roberti cho hay.

Ông Roberti cho rằng chiến lược mới tập trung vào châu Á vì nền kinh tế toàn cầu đang chuyển hướng sang khu vực này, các sức mạnh quân sự cũng đang nổi lên và nhiều thay đổi về chính trị đang diễn ra tại đó.

Theo Roberti, các yếu tố quan trọng của môi trường chiến lược toàn cầu như phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, toàn cầu hóa, thảm họa thiên nhiên, thay đổi khí hậu, tội phạm mạng, cạn kiệt tài nguyên, bệnh dịch, tranh chấp thương mại và các nhóm cực đoan đều đang hiển hiện tại châu Á.

Lầu Năm Góc cũng cho rằng quân đội Mỹ cần nắm vai trò lãnh đạo trong việc liên kết các cơ quan chính phủ Mỹ với các đối tác dân sự và quân sự nước ngoài để giải quyết những vấn đề đe dọa đến an ninh và sự ổn định.

Đây là lần đầu tiên Lầu Năm Góc ra chiến lược quân sự quốc gia kể từ năm 2004. Văn bản này được hội đồng liên quân sửa đổi bởi vì phiên bản trước, vốn ra đời ba năm sau vụ khủng bố 11/9, chỉ tập trung vào ba mục tiêu chính gồm: bảo vệ nước Mỹ; ngăn chặn xung đột và các vụ tấn công bất ngờ; và đánh bại kẻ thù. Tài liệu này sẽ bổ sung cho chiến lược an ninh quốc gia của Nhà Trắng.

Ngọc Sơn

Monday, September 13, 2010

06/09 Cách nào để khai thác chung vùng tranh chấp trên Biển Đông?

Tác giả: Trần Hà Tĩnh
Bài đã được xuất bản.: 06/09/2010 06:00 GMT+7


Căng thẳng tại Biển Đông ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến hợp tác khu vực là nhận định của đa số học giả quốc tế tại Hội thảo quốc tế do Học viện Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Trung tâm nghiên cứu Châu Á của Mỹ (NBR) tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh hồi tháng 8 vừa qua.


Dư âm ARF và quan hệ ASEAN-Trung Quốc trên biển Đông

Loạt bài về Biển Đông


Hơn 50 học giả quốc tế và khu vực tập trung đánh giá về các nguồn năng lượng tại các vùng biển tranh chấp Châu Á, bao gồm Biển Đông, Vịnh Thái Lan và Biển Hoa Đông.

Chung mối quan tâm với An ninh năng lượng

Câu chuyện an ninh năng lượng là chủ đề quan trọng của Hội thảo. Một chuyên gia về năng lượng người Anh[1] nhận định rằng khi sản xuất dầu khí toàn cầu đạt đỉnh vào năm 2015 nhiều khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh năng lượng của các nước xung quanh Biển Đông. Nguồn cung dầu khí càng ngày càng giảm, giá càng ngày càng cao. Lúc này, ngoại trừ Brunei, tất cả các nước xung quanh Biển Đông còn lại đều phải nhập khẩu dầu khí. Tại các nước trong khu vực, giá trị của trữ lượng dầu khí tại các vùng biển tranh chấp tại Biển Đông đang được đánh giá ngày càng quan trọng.

Tuy nhiên theo ông này, nguồn năng lượng tại Biển Đông đang được đánh giá quá cao, trên thực tế nó chỉ chiếm phần nhỏ lượng cung trong bối cảnh cầu nhập khẩu tăng mạnh trong tương lai, và không giúp giải quyết vấn đề an ninh năng lượng của các nước xung quanh mà chỉ giúp kéo dài thời kỳ "quá độ".

Tham luận của nhóm học giả Trung Quốc thì cho rằng để xử lý vấn đề an ninh năng lượng, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á cần tìm cách đa dạng hóa các nguồn cung. Trung Quốc tập trung mạnh vào việc khai thác càng nhiều càng tốt dầu mỏ và khí đốt, càng gần càng tốt (để giảm phí vận chuyển và dễ bảo vệ). Do đó, Biển Đông là một trong những hướng trọng tâm chính trong phát triển năng lượng của Trung Quốc.

"Rào cản" cho hợp tác: Đường lưỡi bò và Quy chế pháp lý Hoàng Sa, Trường Sa



Để xử lý phần nào vấn đề an ninh năng lượng, nhiều học giả cho rằng cần tính đến hình thức hợp tác cùng phát triển dầu khí tại các vùng biển tranh chấp. Bên cạnh đó, hợp tác cùng phát triển còn giúp xây dựng lòng tin, giảm nhẹ căng thẳng tại các vùng biển tranh chấp và là một bước tiến tới giải pháp lâu dài cho các tranh chấp. Tuy nhiên vấn đề nan giải nhất là khu vực hợp tác.

Một số học giả Phương Tây và ASEAN cho rằng tại Biển Đông tồn tại hai "rào cản" ảnh hưởng đến việc xác định khu vực hợp tác. Thứ nhất là "Đường lưỡi bò" của Trung Quốc, do lấn sâu vào các vùng biển của các quốc gia khác, không xác định rõ tọa độ và quy chế pháp lý. Thứ hai là các tranh luận về quy chế pháp lý của các vị trí tại Hoàng Sa, Trường Sa, Scaborough trong việc xác định phạm vi vùng biển xung quanh.

Liên quan đến vấn đề này, một số tham luận và phát biểu phân tích về ảnh hưởng của các Báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa. Đa số học giả cho rằng các báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa nói chung và ở Biển Đông nói riêng đã góp phần làm rõ yêu sách của các bên liên quan đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Hơn nữa, tại Biển Đông, các nước ASEAN xung quanh như Việt Nam, Malaysia, Philippines, Brunei và mới đây là Indonesia đã "đồng thuận" coi các vị trí tại Hoàng Sa, Trường Sa không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có lãnh hải 12 hải lý. Trung Quốc hiện đang bị "cô lập" trong vấn đề này. Nhiều học giả kêu gọi Trung Quốc cần phải công khai rõ yêu sách của mình tại Biển Đông, đặc biệt là cần giải thích rõ về đường lưỡi bò.

Cũng liên quan đến phạm vi ảnh hưởng của đảo, tham luận của một vị tiến sỹ đến từ Đài Loan và tham luận của 1 học giả Úc phân tích về các phán quyết gần đây của Tòa án Công lý quốc tế, bao gồm phán quyết về phân định biển giữa Rumani và Ucraina có liên quan đến Đảo Rắn. Một số ý chính được rút ra: thứ nhất, phương án sử dụng Tòa án để giải quyết tranh chấp đang được nhiều nước lựa chọn; thứ hai, vấn đề phân định biển chỉ có thể được giải quyết dứt điểm sau khi giải quyết xong vấn đề chủ quyền đối với các đảo; thứ ba, các đảo không có hiệu lực đáng kể trong phân định biển so với đất liền.

Đáng chú ý bài viết của học giả Trung Quốc đề cập tranh chấp tại Biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và Nhật Bản liên quan đến đảo Điếu Ngư (Senkaku) do Nhật đang nắm giữ và phân định biển tại đây, cho rằng giải pháp hợp lý là hai bên tách biệt vấn đề tranh chấp chủ quyền và phân định biển bằng cách không lấy đảo Điếu Ngư làm cơ sở cho việc đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Bà này còn cho rằng nếu Trung và Nhật không thể đạt được thỏa thuận về chủ quyền thì phương án tốt nhất là nhờ đến sự phân xử của Tòa án quốc tế.

Khi bị chất vấn về lập trường trái ngược nhau của Trung Quốc tại Biển Hoa Đông và Biển Đông, các học giả Trung Quốc cho rằng mỗi khu vực có một đặc trưng khác nhau, do đó cần giải quyết bằng thỏa thuận song phương giữa các bên liên quan, dựa trên hoàn cảnh lịch sử của từng vấn đề.




Nhìn chung bức tranh Biển Đông thời gian qua không thuận lợi cho hợp tác. Tuyên bố ứng xử các bên tại Biển Đông năm 2002 không ngăn cản được các va chạm, căng thẳng và tranh chấp tại đây. Các hoạt động hợp tác hầu như chưa được triển khai do khác biệt về cách tiếp cận giữa Trung Quốc và ASEAN.

Đa số học giả cho rằng Diễn đàn an ninh khu vực ARF 17 vừa qua tại Hà Nội đánh dấu một "thắng lợi ngoại giao" của Việt Nam với việc 14 nước nêu vấn đề Biển Đông, trong đó có phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Clinton thể hiện mạnh mẽ quan điểm của Mỹ. Qua ARF vừa qua, đa số học giả đều coi vấn đề Biển Đông đã bước sang giai đoạn mới, đã được đa phương hóa và quốc tế hóa với sự dính líu thực sự của Mỹ. Các học giả nhắc lại các bài học trong gần hai mươi năm Hội thảo kiềm chế xung đột tiềm tàng tại Biển Đông là các bên tranh chấp cần tính đến lợi ích của các nước khác quan tâm đến việc giải quyết hòa bình các tranh chấp.

Một số đại biểu cho rằng Trung Quốc cần chú ý đến chiến lược nước lớn của mình để điều chỉnh chính sách tại Biển Đông theo hướng trách nhiệm hơn, nhằm làm yên tâm các nước ASEAN, qua đó tăng cường sức mạnh mềm, củng cố hình ảnh quốc gia.

Một số kiến nghị tăng cường minh bạch và hợp tác

- Trung Quốc cần hợp tác với các nước xung quanh trong việc cùng quản lý nguồn cá tại Biển Đông, qua đó không cần ban bố các lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương gây căng thẳng khu vực.

- DOC cung cấp khuôn khổ cho việc thúc đẩy xây dựng lòng tin và tăng cường hợp tác tại Biển Đông, do đó cần thúc đẩy:

+ Tăng cường đối thoại giữa ASEAN và Trung Quốc tại các trao đổi thường niên về an ninh và quốc phòng.

+ Thông báo trước các cuộc tập trận và tuần tra tại Biển Đông.

+ Thiết lập mạng lưới các đường dây nóng để sử dụng trong các trường hợp khẩn cấp.

+ Đàm phán về các hiệp định tránh đụng độ nhằm tránh các va chạm trên biển giữa lực lượng hải quân các nước.

+ Trao đổi để đi đến thỏa thuận về phạm vi ảnh hưởng của các vị trí tại Hoàng Sa, Trường Sa đối với các vùng biển xung quanh.

- Tăng cường trao đổi xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa trong vấn đề Biển Đông tại các diễn đàn khu vực, bao gồm cả ADMM+ và các cơ chế an ninh khác.

- Biện pháp giúp tăng cường độ tin cậy và xây dựng lòng tin là các bên cần tăng cường minh bạch các chương trình hiện đại hóa quân đội của mình.

- Đối với vấn đề an ninh năng lượng, điều cơ bản nhất không phải là đa dạng hóa nguồn cung mà là tăng cường tính hiệu quả của việc sử dụng năng lượng.



--------------------------------------------------------------------------------

[1] Hội thảo theo nguyên tắc của Chatham House, mọi ý kiến đều có thể được trích dẫn nhưng không dẫn tên người phát biểu.