Showing posts with label nhac Viet. Show all posts
Showing posts with label nhac Viet. Show all posts

Sunday, October 23, 2011

UY TON VA SUY TON NGUOI SUY TON

LCB: just information.


KÍNH NHỜ CHỊ PHẠM HOÀI VIỆT CHUYỂN DÙM. XIN CÁM ƠN. BQK
NHÂN MÙA SUY TÔN NGÔ TỔNG THỐNG, TÔI VỪA LƯỢM TRÊN NET MỘT BÀI NÓI VỀ TÁC GIẢ BÀI SUY TÔN NÀY. ĐỂ TỎ LÒNG BÁI PHỤC TÁC GIẢ BÀI SUY TÔN, CŨNG NHƯ CÔNG BẰNG GIỮA NGƯỜI ĐƯỢC SUY TÔN VÀ NGƯỜI SUY TÔN, TÔI XIN CHUYỂN ĐẾN  QUÝ NGÀI, QUÝ VỊ BÀI NÀY. HÌNH NHƯ CỦA ÔNG DU TỬ LÊ, THÌ PHẢI. (tôi nói   hình   như, vì không thấy đề thẳng tên, mà viết bên cạnh. Xin lỗi ông Du Tử Lê, nếu có nhầm lẫn nào đó)
Ngọc Bích Tác Giã Bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống


Sunday, June 26, 2011

26/06 "Mười năm với Trịnh Công Sơn" tại Paris

Tác giả: CAO HUY THUẦN
Cùng với trong nước, "Hội Văn Hóa Trịnh Công Sơn" ở Pháp vừa tổ chức một đêm nhạc kỷ niệm mười năm vắng Trịnh Công Sơn vào đêm 11-6 tuần trước.
Tại sao tổ chức trễ như vậy so với trong nước? Tại vì tìm cho ra được một nhà hát còn trống chỗ vào một đêm thứ bảy là cực kỳ vô vọng: tất cả các nhà hát đều đã lên chương trình kín mít từ đầu năm. May sao nhà hát Les Gémeaux ở Sceaux đặc biệt dành cho một đêm thứ bảy, nhưng phải đợi cho đến giữa tháng 6.
Sceaux là một thành phố sang trọng nằm sít ranh giới phía nam Paris. Les Gémeaux là một nhà hát hiện đại, âm thanh cực tốt, vừa tầm 500 chỗ ngồi. Tưởng thế là đủ, không ngờ 500 vé bán hết sạch ngay khi đêm hát được loan báo trên mạng, khiến rất nhiều khách hâm mộ đã không vào nghe được. Khánh Ly, Đức Tuấn, Thanh Hải, Hồng Anh và một ban hợp xướng trẻ trung đã mang lại cho khán giả một đêm nhạc phong phú với tình cảm mặn nồng dành cho Trịnh Công Sơn.
Dưới đây, chúng tôi trích đăng 5 lời giới thiệu ngắn viết cho chương trình đêm hát của anh Cao Huy Thuần. Huế và Khánh Ly là trọng tâm của các lời giới thiệu.

Lời 1: Tiếng hát Khánh Ly
Thưa Quý Vị,
Thưa các anh chị,
Tôi rất hân hạnh đã được nhiều lần gặp gỡ các anh chị để cùng nhau chia sẻ cảm tình chung đối với TCS. Với thời gian và tuổi tác, đáng lẽ  tôi không nên lên sân khấu nữa. Vậy mà lại cũng phải lên, lần này không phải chỉ vì TCS. Chính là vì Khánh Ly.
Cho đến hôm qua, tôi chưa bao giờ gặp Khánh Ly. Nhưng, với Khánh Ly, đâu có cần gặp mới quen. Giữa chị, và công chúng yêu mến chị, không phải chỉ có giọng hát. Còn có cả một chiều sâu lịch sử. Một lịch sử oai hùng. Một lịch sử thương đau. Một lịch sử Điện Biên. Một lịch sử Plei Me, Chu Prong. Một lịch sử đầy tình ca, kể cả tình ca người mất trí. Một lịch sử vang vọng tiếng ru, kể cả đại bác ru đêm. Lịch sử đó nằm không phai trong tim. Cho nên trong tim ai cũng có Khánh Ly.
Đối với riêng tôi, hơn thế nữa, Khánh Ly không phải chỉ là giọng hát lịch sử. Chị còn là người viết văn. Chị viết văn rất hay. Nhiều lần tôi tự hỏi : tôi cảm động vì chị, không biết có phải vì giọng hát hay vì lời văn. Tôi nói thế, không phải là để bốc chị lên thành văn sĩ. Tôi nói, là vì một ý nghĩ mà tôi chắc không sai : phải là một người biết vui buồn với cây bút mới thấm được lời ca của TCS và mới truyền được cái chất thơ ấy qua giọng hát. Có thể mỗi người mê giọng hát của Khánh Ly một cách khác nhau. Nhưng chắc ai cũng thấy giọng hát của chị đặc biệt ở một chỗ bí truyền của TCS : chị hát rất rõ lời, mỗi chữ là mỗi tiếng sỏi rơi vào hồ nước. Giọng hát ấy và lời thơ ấy gặp nhau, đâu có phải chỉ vì chị là ca sĩ ? Đâu có phải tình cờ ? Ấy còn là văn chương gặp văn chương.
Tôi còn thêm một lý do nữa để cảm nhận thấm thía giọng hát của Khánh Ly. TCS là người duy nhất lên sân khấu với giọng Huế. Có lẽ tôi là người thứ hai, nhưng may cho các anh chị là tôi không hát. Huế là nguồn cảm hứng bất tận của TCS, là mẹ, là người yêu, là mơ mộng, là chiếc nôi. Mỗi chữ của TCS đều là Huế. Cho nên phải thấm cái chất Huế đó của TCS mới giao hoan được với lời hát của anh. Mà Khánh Ly ... Có lẽ kiếp trước chị lọt lòng đâu đó ở Huế cho nên kiếp này chị mới tình tự được với Huế như thế này :
"Tôi là gái Bắc, lớn lên ở Sài Gòn, nhưng lạ lùng làm sao, tôi không nhớ Hà Nội bao nhiêu, không yêu Sài Gòn lắm. Mà chỉ xót xa đến Huế ... Vậy mà tôi yêu Huế ... Dù tôi chỉ biết Huế sau Tết Mậu Thân và không quá mười lần ghé Huế. Nhưng tôi yêu Huế bởi vì từ Huế tôi mới biết thế nào là tình yêu."
Các anh chị thân mến, nhan đề của đêm hát hôm nay là "Mười năm với TCS". Tôi nghĩ : không ai với TCS bằng Khánh Ly. Họ đã hòa quyện với nhau trong tiếng hát. Họ đã cùng hiến hai cuộc đời thanh xuân của nhau để cùng tạo dựng chung huyền sử của một thời đại, trong đó cái chết và tình yêu là hai nhân vật không rời nhau - chết trần truồng mình không manh áo nhưng nằm chết như mơ.
Chất thơ, chất Huế, cái chết, tình yêu ... Khánh Ly sẽ mang lại cho chúng ta tất cả không khí đó, bắt đầu bằng mưa Huế trong ba bài mưa. Mưa Huế là mưa dầm, nhưng mưa Huế trong TCS không phải vậy, đôi khi là mưa hồng, vì mưa ươm nắng, đôi khi là mưa bốn mùa, và không phải do ý trời mà do mệnh lệnh của Người - của một Người mang cái tên duy nhất trong TCS là Em.
Lời 2: Bàn chân dưới mưa
Khi nãy, tôi vừa nói với các anh chị rằng tôi rất lấy làm tiếc cho các anh chị là tôi sẽ không hát. Không hát thì đọc vậy. Lời của TCS hát cũng hay mà đọc cũng hay. Tôi xin đọc một bài để làm ví dụ : bài "Cho đời chút ơn". Tôi đọc một đoạn nhỏ, đoạn TCS ngắm một người đẹp đi bên kia phố. Anh thấy anh đi theo, theo từng gót chân, như chiếc lá bay theo, như giọt nắng bay theo :
Tôi tìm thấy tôi như giọt nắng kia
Làm hồng chút môi cho em nhờ.
Môi thiên đường / Hót chim khuyên
Ôi tóc trầm / Ướp vai thơm
Ta nghe đời / Rất mênh mông
Trong chân người / Bước chầm chậm.
Một bài hát ca tụng người đẹp. Ai cho đời chút ơn ? Những người con gái xinh đẹp. Ơn gì ? Mang lại cái đẹp cho cuộc đời, như mùa xuân đem mơn mởn cho vũ trụ.
Bài hát là một bức tranh vẽ người đẹp tiêu biểu trong TCS. Có môi, mà lại là "môi thiên đường". Có tóc, có vai, vai đã thơm mà còn được ướp thêm mùi trầm của tóc. Có tà áo phơn phớt nắng bình minh. Cả người là phấn thơm, thơm cả khu rừng. Nhưng ... nhưng ... tất cả những cái đẹp đó đều quỳ xuống để muôn tâu một nhan sắc chỉ riêng có trong TCS : hai bàn chân. Người đẹp trong TCS là đẹp ở bàn chân. Bởi vì, trong bước chân ấy, ngự giá một cái đẹp lạ lùng. Cái gì ? Cái "chầm chậm". "Dù em khẽ bước không thành tiếng / Cõi đời bao la vẫn ngân dài". Người con gái bước đi chầm chậm để mang trong hai bàn chân tất cả "mênh mông" của cõi đời.
Tôi không dám nói đây là bức tranh Huế ngày xưa - nghĩa là của thời TCS, thời chúng tôi. Thế nhưng có một người cứ thành khẩn quả quyết đó là bức tranh Huế. Người đó là Khánh Ly. Tôi lại đọc Khánh Ly :
"... Vậy mà tôi yêu Huế. Con gái Huế nói như hát, dịu dàng, đi đứng khép nép, nhẹ nhàng. Có một cái gì đó thật mong manh, như tơ, như sương khói, như một điều không có thật trong con người của các cô gái Huế. Tôi có cảm tưởng như họ không phải là một sự hiện hữu. Một chút hương khói hư ảo, chập chờn. Chỉ một tiếng động khẽ, dù là tiếng rơi của một chiếc lá, cũng đủ làm tan biến đi tất cả ... Như thế là yêu đấy, mà lại yêu nhiều mới khổ chứ".
Không phải cô gái Huế nào cũng vậy, anh chị đừng lầm mà bán nhà. Nhưng đúng đó là mẫu người đẹp trong TCS. TCS vẽ người đẹp, tương đối ít khi vẽ môi. Có : "Nắng có hồng bằng đôi môi em / Nắng có còn hờn ghen môi em". Có : "Một hồn yếu đuối / một bờ môi thơm". Có : "Môi em cho ta một cánh hồng / Lụa là phút ấy chưa quên". Có, kể cả những "môi đốm lửa", "môi lửa cháy", "môi rồ dại" chen lẫn với "môi hồng nhạt", "môi hồng đào". Có, nhưng lạ quá, thi sĩ của tình yêu gì mà ít khi cho người ta hôn nhau. Mà hễ hôn là hôn rất bi thảm : "Có chút lệ nhòa / Trong phút hôn nhau". Hôn, là lúc bắt đầu và cũng là lúc chấm dứt tình yêu. Bởi vì, "đã có nghìn trùng / trên môi người tình / đã dấu nụ tàn / bên trong nụ hồng / có chớm lạnh lùng / trên môi nồng nàn". Cho nên, môi ấy, khi hôn nhau lần đầu đã thấm mùi vị của hôn nhau lần cuối. "Đời sẽ buồn như một chiều nao / Hôn nhau lần cuối hôn nhau lần đầu. Đời sẽ là chưa vội tình sâu / Hôn nhau lần cuối hôn nhau lần đầu".
Đôi môi không phải là vương quốc trong tranh TCS. Thua cả vai gầy. Thua cả mắt xanh xao. Thua cả bàn tay, "bàn tay trau chuốt cho thêm ngàn năm". Thua cả năm ngón tay, năm ngón tay "xuân nồng", "năm ngón tay thiên thần ru vào cô đơn". Và thua xa, tất nhiên thua xa, làm sao sánh được, với đôi bàn chân ! TCS đem ngai vàng từ trên đôi môi của thiên hạ xuống dâng cho hai bàn chân không bao giờ vội vàng. Không bao giờ vội vàng, vì lúc nào cũng như thầm thì nói chuyện. Nhất là nói chuyện với mưa, "mưa thì thầm dưới chân ngà". Đó là bàn chân dưới mưa của Diễm trong Diễm Xưa, mà Khánh Ly đã từng ca tụng với tất cả thần cảm của một tâm hồn thấm hiểu điệu vui, điệu buồn, điệu lãng mạn, điệu nhớ nhung của mưa Huế, điệu liêu trai nơi nét đẹp mà TCS gọi là nét đẹp hoàng cung.
GS. Cao Huy Thuần (trước) và ca sĩ Khánh Ly (sau)
Lời 3: Dù đến rồi đi
Khi nãy, tôi đã nói về bàn chân như là hoàng hậu của tất cả nhan sắc. Bây giờ, tôi xin nói thêm : bàn chân và bước chân là linh hồn trong những bài hát hay nhất của TCS. Chẳng hạn bài "Tình Nhớ" :
Những bước chân mềm mại / Đã đi vào cuộc đời /
Như từng viên đá cuội / Rớt vào lòng biển khơi.
TCS đã dùng bàn chân để nói về tình yêu. Bởi vì bàn chân là để đi. Mà đi, có thể là đi xa, cũng có thể là đến gần. Đến gần, rồi đi xa : thế là tình yêu. Bàn chân là bước đi của tình yêu, là tình yêu được linh hồn hóa.
Bên nhà vừa in một cuốn sách với mấy trăm bức thư tình của TCS. Đọc thì cũng vui vui, nhưng đối với một người nghệ sĩ, con người thực không phải là con người xương thịt, mà là con người trong sáng tác. Họ khóc cười trong sáng tác. Họ thở than trong sáng tác. Và họ yêu trong sáng tác. Thư riêng của TCS có thể làm cho người đọc hiểu thêm chút nào về tâm trạng của TCS trong một quãng thời gian nào đó, nhưng đó chỉ là tình yêu của TCS đối với một người, không phải là tình yêu nói chung. Khi nói rằng TCS là thi sĩ của tình yêu thì chỉ có một TCS ấy thôi, là TCS trong những bài hát. Và trong những bài hát thì tình yêu là vậy đó, không có tên của một người con gái nào, chỉ có những bước chân, những bước chân của đi và của đến, phần nhiều là của đến và của đi.
Tôi lại xin đọc một bài, một bài hay, rất đơn giản và rất hay, bài "Hoa vàng Mấy Độ" :
Đây là đến : "Em đến bên đời / Hoa vàng một đóa / Một thoáng hương bay / Bên trời phố hạ / Nào có ai hay / Ta gặp tình cờ".
Và đây là đi : "Em đến nơi này / Bao điều chưa nói / Lặng lẽ chia xa / Sao lòng quá vội / Một cõi bao la / Ta về ngậm ngùi".
Một người đi, một người về. Và đây là nhớ nhung đau buốt của người về : "Trong lòng nỗi nhớ / Ngày tháng trôi qua / Cơn đau mịt mù ".
Còn gì lại sau cuộc đến và cuộc đi ? "Một vết thương thôi / Riêng cho một người".
Tình yêu là vậy thôi, cực kỳ đơn giản. Là vậy thôi, một bước chân. "Ngày nào vừa đến / Đã xa muôn trùng / Ngày nào vừa đi / Lạnh lùng bước chân".
Trong những bước chân đó, có những bước chân rất tàn nhẫn. Đó là bước chân phụ bạc :
"Hai mươi năm xin trả nợ dài / Trả nợ một đời em đã phụ tôi
Em phụ tôi một thời bé dại / Thơ dại ra đi không nhớ gì tôi
Thơ dại ra đi quên hết tình tôi".
Có những bước chân tàn nhẫn hơn nữa. Đó là bước chân gian dối :
"Tình khâu môi cười / Hình hài xưa đã thay / Mặn nồng xưa cũng phai /
Tình chia nhau gian dối / Tình đày tình đôi nơi".
Tình yêu là vậy, trong TCS của chúng ta. Bao giờ cũng vậy, "Từ lúc đưa em về / Là biết xa nghìn trùng".
Vậy thì kết luận là thế nào trong cuộc chơi mà một người đã để lại vết thương cho một người? Một lời nói đã bay trong gió ? Một "tuổi đá buồn" ngồi lại làm đá ngây ngô ?
Giải pháp thông thường nhất là quên. Nhưng đâu có dễ quên ?
"Tình ngỡ đã quên đi / Như lòng cố lạnh lùng
Người ngỡ đã đi xa / Nhưng người vẫn quanh đây".
Quên không được, mà nhớ thì khổ. Chỉ có một môn thuốc thần này mà thôi, tôi nghĩ chúng ta nên bắt chước TCS : hãy "tạ ơn". Tạ ơn những bước chân đến. Tạ ơn cả những bước chân đi. Dù phụ bạc. Dù gian dối :
"Dù đến rồi đi / tôi cũng xin / tạ ơn người / tạ ơn đời /
Tạ ơn ai / đã cho tôi / tình sáng ngời / như sao xuống từ trời"
Từ đó mà ai hát TCS cũng thấy trong tiếng hát một con người nhân ái, nhân hậu, độ lượng. Dù em phụ bạc, tôi vẫn ru em ngàn năm, ngàn năm, như Khánh Ly sẽ ru với "Tuổi đá buồn", "ngàn năm ngàn năm, ru em muộn phiền ru em bạc lòng". TCS yêu cuộc đời, nhưng cũng biết cuộc đời là ảo tưởng. TCS yêu tình yêu, nhưng cũng biết tình yêu là ảo tưởng, có đấy rồi không đấy. Chỉ có một tình yêu bất tận mà thôi, có đến và không hề đi : đó là tình yêu nghệ thuật. Tình yêu đó đã khiến TCS viết được câu máu thịt thế này : "Khánh Ly, một người bạn của định mệnh, vĩnh viễn thương yêu nhau".

Lời 4: Vũ trường và đại bác
Năm 1965, TCS đã thấy những dấu vết đầu tiên của chiến tranh nơi thành phố : xác chết phơi ven đường, phụ nữ đi tìm xác, trực thăng chở thương binh, thanh niên chạy trốn lính ... Anh bắt đầu trực nhận và viết ra những "phi lý", "vô nghĩa", "vô lý cùng cực" của chiến tranh. Bài "Xin Mặt Trời Ngủ Yên" được hát vào năm đó, mang một chút hơi hướng của chinh chiến vào lời ca :
"Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè / Ngựa hồng đã mỏi vó / Chết trên đồi quê hương /
Ôi quê hương thần thoại / Thuở hồng hoang đã thấy / đã xanh ngời liêu trai".
Chinh chiến sẽ đưa quê hương vào thuở hồng hoang ? Câu hát chưa rõ nghĩa lắm. Nhưng câu sau đã bắt đầu nói lên nhân tính trước nguy cơ hủy diệt :
"Ôi nhân loại / mặt trời / và em thôi / này đôi môi xin thương người /
Ôi nhân loại / mặt trời trong tôi".
Một ly kỳ của "văn hóa" Sài Gòn ngày xưa : bài hát có mùi thuốc súng lại được phổ biến lúc đầu trong các vũ trường. Tôi vinh danh sự ly kỳ lịch sử đó ở đây, vì chính trong thế giới vũ trường mà TCS bắt gặp tiếng hát của định mệnh để đưa tiếng hát đó chào đời với Ca Khúc Da Vàng.
Đó là năm 1965, TCS 26 tuổi, đang yêu và được yêu, đang là một con đôm đốm mời được một ngôi sao xuống đất để cùng mình thắp sáng cả địa cầu. Nhưng chuyện thần tiên của con đôm đốm với ngôi sao bao giờ cũng kết thúc vào buổi sáng mai : sao bay lên trời và đôm đốm trần truồng sâu đất. TCS mang tuyệt vọng vào vũ trường và ở đấy anh gặp tiếng hát. Giá như chiến tranh không ập tới, không chừng TCS cứ mãi ướt mi với những Mỵ Nương. Nhưng chiến tranh đã nâng tầm vóc của anh lên cao, đã biến tình ca của anh thành thánh ca của hòa bình, đã làm con đôm đốm thành TCS.
Tiếng hát bắt gặp cùng lúc với chiến tranh là Khánh Ly. Đêm 20-3-1965, ở Đà Lạt, anh ngồi nghe Khánh Ly hát một bài ướt đẫm lãng mạn, rất nổi tiếng ở Việt Nam hồi đó, bài "Et j'entends siffler le train". Đó là một trong hai bài hát đã làm TCS thổn thức canh trường trong suốt một quãng đời thơ dại, "thơ dại ra đi không nhớ gì tôi".
Bài hát kia, cũng đầm đìa nước mắt, là bài "J'irai pleurer sous la pluie". Trong bài hát, có anh chàng si tình, chờ mưa để đứng dưới mưa mà khóc. Tại sao phải khóc dưới mưa ? Tại vì để giấu nước mắt. Tôi dịch bài hát để các anh chị hiểu và sống lại cái thời lãng mạn của TCS ngày xưa, nghĩa là của chúng ta, cái thời mà ai cũng đã từng "lên xe tiễn em đi" và "khóc đi em, khóc đi em, khóc đi em" :
Nếu anh muốn khóc
Anh sẽ giấu em
Vì anh tự phụ
Không muốn em thấy
Giọt buồn đời anh
Dưới mưa anh khóc.
Anh đợi mưa đến
Anh đợi cơn giông
Nước mắt nước mưa
Dưới mưa anh khóc.
Anh vẫn yêu em
Nhưng em đâu thấy
Giọt buồn đời anh
Dưới mưa anh khóc.
Mưa rơi trên mặt
Nhưng đâu xóa được
Kỷ niệm của em
Em đâu biết anh
Yêu em tha thiết
Em đâu biết em
Làm khổ đời anh.
Nhưng anh sẽ đi
Cười vui trong nắng
Mặt trời tháng năm.
Ngày ấy thương ôi
Bây giờ chưa đến.
Số phận đời anh
Còn trong tay em
Và anh sẽ chờ
Dưới mưa anh khóc.
Bài trước, "Et j'entends siffler le train", thì các anh chị thuộc quá rồi. Nhưng tôi cũng xin dịch để chảy thêm chút nước mắt nữa với các người tình khốn khổ :
Lòng anh nghĩ, em yêu, thà như thế
Thà xa nhau không lời tiễn biệt nhau
Lòng anh đau, gặp làm gì nhau nữa
Nhưng, em yêu, tiếng còi tàu đang thét
Buồn bao nhiêu còi giữa đêm thâu.
Anh nghĩ đến em, một mình, quạnh quẽ
Trên sân ga, giữa người vẫy tay nhau
Và anh nghe tiếng còi tàu đang thét
Buồn bao nhiêu còi giữa đêm thâu.
Anh toan chạy đến em, toan gọi tên tha thiết
Nhưng đành im, nói chẳng nên lời
Em đã xa rồi, em xa anh quá
Có bao giờ em trở lại em ơi !
Lòng anh nghĩ, em yêu, thà như thế
Thà xa nhau không lời tiễn biệt nhau.
Nhưng giờ đây, ôi, còn gì đâu nữa
Còn gì đâu khi tình đã xa khơi.
Và anh nghe tiếng còi tàu đang thét
Suốt đời anh tiếng còi thét, em ơi !
Khánh Ly đang ở sau màn và chắc đang nghe tôi đọc thơ tình. Nếu các anh chị muốn, tôi đề nghị Khánh Ly vui lòng hát lại một bài hát ngày xưa, để nhớ lại kỷ niệm 56 năm về trước, để 56 năm với TCS.
Các anh chị hãy tưởng tượng : nhà hát này là một vũ trường, một trong những dạ khách ngồi kia là TCS, và xa xa vọng về tiếng đại bác, ru đêm và ru tiếng hát Khánh Ly.
Lời 5: Hòa bình
Các anh chị thân mến,
"Khi đất nước tôi thanh bình" là câu đầu của bài "Tôi sẽ đi thăm". TCS tuyên bố sẽ đi thăm hầm chông, mộ chí, nghĩa địa, kể cả mã tấu. Và anh tuyên bố thêm : "Khi đất nước tôi không còn giết nhau / Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường".
Khi lấy câu hát đầu của bài hát này để làm nhan đề cho Phần 2 của chương trình đêm nay, tôi có nghe một ý kiến, nói rằng bài hát này ngây thơ quá, vẽ ra một TCS quá ngây thơ. Trời ơi ! - tôi nói - Có gì đẹp bằng ngây thơ ! Ta thường ca ngợi : một đôi mắt ngây thơ, một vầng trán ngây thơ, một nụ cười ngây thơ ... Vậy thì một lời hát ngây thơ của một bài đồng dao ngây thơ là quá đẹp đi chứ !
Mà chắc gì TCS ngây thơ ! Chắc gì có ai định nghĩa "hòa bình" đúng hơn hình ảnh "trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường" !
Tôi xin phép các anh chị được làm một cụ đồ nghiêm túc, khắc khổ - nghĩa là trái ngược với ngây thơ - để định nghĩa chữ "hòa bình" theo lối chiết tự. Chữ "hòa" có bộ khẩu bên phía phải. Khẩu là cái miệng. Trước hết, cái miệng phải cần ăn. Hòa bình là tình trạng dân chúng ai ai cũng có đủ cơm mà ăn. Nhưng cái miệng không phải chỉ biết ăn. Nó còn biết nói. Cấm nói, ấy không phải là hòa bình rồi. Hòa bình là tình trạng ai ai cũng có thể nói lên được điều mình mơ ước. Chưa hết, cái miệng không phải chỉ biết ăn, biết nói, mà còn biết hát nữa. Cấm hát, cam đoan cả vũ trụ này sẽ nổi loạn, trước hết là chim chóc, trước hết là rừng thông, trước hết là giọt mưa trên lá. Ấy vậy mà hát TCS, chỗ này chống, chỗ kia đối, chỗ nọ xì xào, da vàng da đỏ. Hòa bình chỗ nào ?
Chiến tranh chấm dứt rồi. Điều đó không có nghĩa rằng hòa bình không còn là giấc mơ.
Cám ơn các anh chị, tôi xin chấm dứt nhiệm vụ mua vui của tôi ở đây.

Wednesday, March 30, 2011

30/03 Địa đàng còn in dấu chân



Bài viết được đăng lúc 8:46:04 AM, 30.03.2011
Trăng thiên cổ (Chân dung Trịnh Công Sơn) - Tranh sơn dầu Bửu Chỉ
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Trịnh Công Sơn sinh ngày 28.2.1939 tại thành phố Buôn Ma Thuột. Hai năm về trước, cụ thân sinh lên đây chơi, nhân thấy cảnh non xanh nước biếc xinh đẹp và thành phố núi yên tĩnh bèn đưa gia đình lên đây lập nghiệp dài lâu. Năm sau hai ông bà sinh con đầu lòng, nhưng không nuôi được. Năm tiếp theo, Trịnh Công Sơn ra đời, gia đình xem như con trưởng.

Vết tích của thời kì ấu thơ này chẳng còn để lại gì, ngoài một tấm ảnh của tuổi hài đồng, cùng một ít kỷ niệm mờ nhạt trong trí nhớ của người thân; với Sơn chắc cũng không hơn gì. Dĩ nhiên thôi vì nói như M. Ponty, nếu người ta không thể dừng lại một phút sau khi chết để biết mình chết như thế nào; thì người ta cũng không thể ra đời sớm hơn một phút, để biết mình ra đời như thế nào. Tuổi hài đồng là một kỉ niệm bất khả tri của đời người. Dù vậy, Trịnh Công Sơn vẫn coi rằng đây là thời kì trọng đại nhất trong cuộc đời của anh, và anh cố tìm đọc ở trong đó những tín hiệu của định mệnh mà anh sẽ phải đảm nhận sau này. Trịnh Công Sơn cảm nhận rằng tuổi hài đồng của anh là thời điểm mà thiên thần Ni-ca-e thông báo tin buồn về một sự ra đời, và rồi đây ở tuổi biết suy nghĩ Trịnh Công Sơn bắt đầu nghiền ngẫm về tin buồn đó trong nghệ thuật của anh, rằng cuộc đời này chẳng có gì vui, tuy nhiên, người ta vẫn phải sống hết cuộc đời của mình, điều mà triết học hiện sinh gọi là “Courage to be”. Trong bài hát Gọi tên bốn mùa, Trịnh Công Sơn viết: “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”.

Âm nhạc của Trịnh Công Sơn xuất phát từ nỗi buồn có tính cách chung thẩm như vậy, cùng với cái nhìn âm u của anh ném ra khắp thế giới, bất cứ chỗ nào đôi mắt của anh từng hướng đến, kể cả cõi tình. Mà người ta có lí khi nghĩ về cuộc đời của Sơn như một hiện hữu không thể có niềm vui.

Minh họa: Thái Ngọc Thảo Nguyên

Sau khi triển khai tất cả ý nghĩa của một hiện hữu vào nghệ thuật, Trịnh Công Sơn chỉ nhìn thấy còn lại trong tay mình một chút vôi kết tủa của nỗi cô đơn. Có thể nói rằng nỗi cô đơn là không khí tản mạn khắp trong nhạc Trịnh Công Sơn, và là “tội tổ tông” con người phải gánh chịu từ thuở sơ sinh, và không thể nói gì khác. Có thể nói ngay rằng nỗi cô đơn của phận người là một đóng góp quí báu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho cảm hứng âm nhạc Việt Nam một thời. Trong khi mãi dồn sức cho cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, nhiều người đã quen với những lời hô hùng tráng mà quên đi rằng con người là một gã lữ hành đi trong sa mạc. Nhưng một nền nghệ thuật đánh rơi mất nỗi cô đơn của phận người chưa phải là một nền nghệ thuật hoàn hảo.

Bóng dáng nhân loại gần gũi và thân thiết nhất đối với con người trong tuổi sơ sinh chính là hình bóng của người mẹ. Trong hầu khắp các ca khúc của anh, Trịnh Công Sơn thường dùng từ Mẹ khi nói về Tổ quốc hoặc quê hương. Tổ quốc của Sơn là một đất nước đổ vỡ vì chiến tranh, là một quê hương mịt mù trong khói lửa (Gia tài của mẹ), là những bà mẹ quê bỏ hoang ruộng vườn, ngẩn ngơ nhìn trái quả trên tay, nhớ về “một giàn đầy hoa”(Người mẹ Ô Lý). Tình cảm đau thương về Tổ quốc là một cảm hứng lớn trong nhạc Trịnh Công Sơn, đã làm cho anh mất ngủ, héo hon suốt tuổi thanh xuân, và từ đó, chín muồi thành thái độ phản chiến trong nhạc của Trịnh Công Sơn. Nội dung phản chiến tuy nhất thời đã làm một số người không bằng lòng, nhưng đó vẫn là tư duy chủ yếu của Trịnh Công Sơn trong ba tập: Ca khúc da vàng, Phụ khúc da vàng, Kinh Việt Nam, và là một nét nhân bản xứng đáng với nhân cách của một người công dân đối diện với một cuộc chiến quá dữ dằn và kéo dài. Chính Nguyễn Trãi, danh nhân văn hóa thế giới (do Liên hiệp quốc bầu chọn) đã từng nói “hòa bình là gốc của nhạc” dù ông đã đi qua cuộc kháng chiến chống Minh với tất cả hăm hở của một người chiến sĩ. Và trên con đường số Chín đầy máu lửa của một thời, đã từng có những người lính Mỹ đứng dàn hàng ngang, không chịu đi hành binh để phản đối chiến tranh. Ở đây, chúng ta thấy hậu quả quyết liệt và lâu dài của hành động phản chiến đó, và bây giờ bất cứ nơi đâu trên thế giới có tiếng súng của kẻ gây chiến, người ta lại thấy cần có hành động phản chiến như những người lính Mỹ nói trên. Vậy phản chiến không hề là một thái độ hèn nhát của những kẻ không dám xung trận, mà là hành vi dũng cảm của những người không muốn dùng máu lửa nhằm dập tắt một thảm kịch máu lửa đang diễn ra khắp nơi. Đây là một ít hồi quang xa xôi của tuổi sơ sinh mà chúng ta có thể tìm thấy trong sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn.

Tôi muốn dừng lại ở đây trong khoảnh khắc để giải bày lòng biết ơn của cuộc đời đối với vai trò đặc biệt quan trọng của Người Mẹ.

Tôi sung sướng được tiếp xúc gần gũi với thân mẫu Trịnh Công Sơn trong nhiều năm kết bạn với anh, và được hưởng sự ngọt ngào từ trái tim người mẹ của bà. Bà người nhỏ nhắn, dịu dàng. Tuy phải xoay xở lo cho cả gia đình, bà vẫn chăm lo cho tám người con ăn học đàng hoàng, và lúc nào bà cũng giữ được phong thái ung dung. Thỉnh thoảng, bà vẫn phì phèo một điếu thuốc Kent trên môi, và tiếp chuyện một cách thành thạo những người bạn cùng lứa tuổi của con bà lúc Sơn đi vắng. Dù con trai (Trịnh Công Sơn) đã lớn gần 50 tuổi, bà vẫn dành cho Sơn một tình yêu thương đằm thắm và sự chăm sóc tỉ mỉ như đối với một đứa trẻ; và đáp lại về phía mình, Trịnh Công Sơn cũng dành cho mẹ một niềm yêu mến và kính trọng. “Khi một người mất mẹ ở tuổi 50 - Sơn viết - điều ấy có nghĩa là không còn gì có thể dàn xếp được. Cái sa mạc để lại trong lòng bạn cứ thế mỗi ngày lan rộng ra và cõi lòng bạn thì tan nát như một cánh đồng xanh tươi vừa trải qua một cơn bão lớn” (Trịnh Công Sơn, thủ bút để lại). Tôi cho rằng nhiều nét trong tính cách của Trịnh Công Sơn là thừa hưởng từ bà, thí dụ như sự tế nhị, tính dịu dàng và lòng bao dung. Và với một người chuyên viết tình khúc như Trịnh Công Sơn, ta có thể nói rằng một người tình mang đến cho ta thật nhiều ngọt ngào pha lẫn chút cay đắng, còn tình yêu của người mẹ thì chỉ có sự cưu mang, và trái tim nhân từ mà thôi. Một người tình luôn tự đặt mình trong quan hệ biện chứng giữa cho và nhận, trong khi tình yêu của mẹ chỉ diễn ra trong một chiều của lòng từ tâm mà thôi. Chúng con xin triệu lần biết ơn mẹ, ôi người mẹ tuyệt vời, Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát! Phải có một người mẹ từ mẫu như thế, và phải có một đàn em trìu mến như thế mới có một tài năng kiệt xuất như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Không lạ gì bóng dáng của người mẹ thường hiện ra trong bài hát của Trịnh Công Sơn, hiện ra thấp thoáng trong hầu khắp mọi bài hát hoặc hiện ra thành một tượng đài toàn vẹn, như Người mẹ Ô Lý, Ngủ đi con, Ca dao mẹ, Huyền thoại mẹ… 

"Huyền thoại mẹ" - SH số 12/4-1985

Với Trịnh Công Sơn, ý niệm lời ru không chỉ dành riêng cho những gì êm ái, ve vuốt (Ru tình) mà còn là những gì dữ dội, tàn pha (Đại bác ru đêm) những gì đã trở thành thường xuyên, thường xuyên đến độ quen thuộc với tác giả, giống như một căn bệnh kinh niên của người già.

Trịnh Công Sơn trở lại Huế cùng gia đình, sống ở vùng Bến Ngự. Anh đã sống tiếp những năm thơ ấu ở đây, tiếp giáp với dòng sông Bến Ngự và khu ngoại ô Nam Giao đầy những làng vườn thơ mộng vùng trung du, đắm mình trong tiếng kinh cầu và tiếng chuông thu không của những ngôi chùa cổ ở Bến Ngự. Anh đi học ở Trường tiểu học Nam Giao và vào những trưa hè, thường theo đuổi thú vui đi bắt ve ve trong các khu vườn.

Gần Trường tiểu học Nam Giao, có ngôi tháp của vị thiền sư nổi tiếng khắp trong vùng, gọi là tháp Cát Ma (tiếng địa phương gọi là tháp Kiết Ma). Sư Cát Ma kết bạn với sư Từ Quang. Hai người thân nhau như bóng với hình, và thường tranh luận về tư tưởng Phật giáo. Chiều chiều dân trong vùng vẫn thấy hai vị thiền sư từ trên dốc đi xuống vừa đàm đạo sôi nổi về những vấn đề kinh điển. Có lần một núi lửa nhỏ đã xuất hiện ngoài khơi tỉnh Phan Thiết và sư Cát Ma tích cực hưởng ứng một phong trào vận động nhằm quyên góp giúp đồng bào nạn nhân. Sư Từ Quang từ chối sự quyên góp, cho rằng theo lý thuyết tiểu thừa của Phật giáo, thì mỗi người chỉ có thể độ lấy bản thân, không thể lo thay cho người khác. Ngài Cát Ma nói lại rằng lịch sử Phật giáo công nhận rằng sau khi thành đạo, Đức Phật đã độ cho vợ là công chúa Gia Du Đà La, con trai là thái tử La Hầu La… Hôm sau, vừa gặp ngài Cát Ma, sư Từ Quang đã nói: nếu chúng ta quyên tiền cho đồng bào nạn nhân Phan Thiết, thì thay vì dùng tiền ấy mua quần áo, có kẻ lại dùng tiền ấy để mua cây dao giết người thì biết làm thế nào? Cứ thế họ tranh luận với nhau không dứt. Hòa thượng Từ Quang mất vào khoảng năm 1915. Ngài Cát Ma bèn cho dựng một bức tường bên cạnh ngôi tháp định sẽ dành cho mình và đối diện với tháp của sư Từ Quang, nguyện rằng sẽ viết lên đó những ý kiến của mình về một vấn đề kinh điển nào đấy mà ngài tự đặt ra và hy vọng rằng âm hồn của ngài Từ Quang sẽ đọc thấy. Người Huế là như vậy, thích tranh luận dù ở tận bên kia thế giới. Những người đàn bà đi chợ để bán những trái cây sản xuất được trong vườn thường chọn một hai trái tốt nhất đặt ở tháp Kiết Ma, hoặc khi không có trái cây thì họ có ý thành kính bằng cách đặt vào đấy những viên đá xinh xắn nhặt được trên đường. Cũng nên nhắc lại rằng khoảng năm 1951-1956, gia đình của Trịnh Công Sơn thường xuyên vào ra Huế - Sài Gòn, ngụ tại đường Hàng Bè (nay là đường Huỳnh Thúc Kháng) sau dời về phố Phan Bội Châu (nay là đường Phan Đăng Lưu). Cụ thân sinh (và thân mẫu) của Trịnh Công Sơn hoạt động cho phong trào kháng chiến, bị bắt giam nhiều lần, và đến tháng 6-1955 trên đường đi công tác, ông bị tai nạn xe qua đời. Trịnh Công Sơn và các em được mẹ đi qui y ở chùa Phổ Quang nơi dốc Bến Ngự, pháp danh là Nguyên Thọ. Sơn tụng kinh, ăn chay một tháng bốn lần, không ăn nhiều hơn vì trong nhà lo cho sức khoẻ của Sơn, trên đầu giường Sơn luôn có một chuỗi hạt và một chiếc áo tràng màu lam. Gia đình thường hay đi chùa vào ngày rằm, mồng một. Vì vậy, Trịnh Công Sơn không tránh khỏi ít nhiều tư tưởng Phật giáo, như chủ đề của của các bài hát Cõi tạm, Ở trọ, Đóa hoa vô thường, hoặc Một cõi đi về. Nhất là tư tưởng Sinh, Lão, Bệnh, Tử vẫn thường xuất hiện trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn. Và trong những bài như Biết đâu nguồn cội, thì giai điệu của âm nhạc nhắc nhở lại một cách rõ ràng giọng tụng niệm của Phật giáo.

Trên đây là tất cả những gì Phật giáo ở Huế đã để lại dấu ấn trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, làm tăng thêm giọng điệu buồn bã của các ca khúc.

Thời kì ở Bến Ngự, Trịnh Công Sơn thường ham mê thú vui đi bắt ve ve với một vài người bạn thân. Những con ve sống đời ấu trùng suốt bốn năm dưới những hang sâu tự khoét lấy trong lòng đất, đợi đến mùa hè để trưởng thành. Khi thân thể đã chuyển hóa thành hình con ve, chúng ngoi lên mặt đất đậu trên những cành cây, hát vang lừng những tuổi học trò cho đến một ngày đầu thu thì đời ve kết thúc. Suốt đời ve ve, nó chỉ biết ca hát, người ta thường mệnh danh nó là “ca sĩ mùa hè”. Đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn như là một mô phỏng của đời ve, với tấm thân rỗng không, suốt đời chạy về phía chân trời tràn ngập tiếng hát ca.

Dạo ở Bến Ngự, thỉnh thoảng Trịnh Công Sơn đi bộ từ nhà qua trường, thường đi bộ dọc theo bờ sông Hương, băng qua bến đò Thừa Phủ. Có lẽ chính đó là thời kì anh bắt đầu đọc được từng nét Huế trên cây xanh, và sau này nhạc của Trịnh Công Sơn tràn ngập thiên nhiên Huế (ví dụ như bài Biết đâu nguồn cội). 

Cho đến tuổi thiếu niên, gia đình mới mua cho Sơn một cây đàn ghi-ta, điều mà lâu nay anh vẫn hằng mơ ước. Cho đến năm 12 tuổi, Sơn vẫn thường đánh bạn với cây sáo trúc, những gì cần cho anh trong âm nhạc về sau này đều do tự học.

Và người ta tự hỏi: vậy thì Trịnh Công Sơn đã học nhạc từ bao giờ? Thì cũng giống như bảo con ve ve kia đã học nhạc từ bao giờ? Có lẽ nó đã học nhạc từ tuổi còn là ấu trùng, nằm tu luyện trong lòng đất tăm tối, hay nói như một ca sĩ chuyên nghiệp: Trịnh Công Sơn đã học nhạc từ trong “tiền kiếp”.

H.P.N.T
(266/4-11)

Wednesday, June 23, 2010

23/06 Lưu Hữu Phước & mối tình dành cho cô gái Huế


Bài viết được đăng lúc 3:48:20 PM, 23.06.2010

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước - Ảnh: nhantai.thv.vn
HƯƠNG CẦN
      
(Chuyện ít ai biết trong làng âm nhạc)

Nhạc sỹ, Giáo sư viện sỹ Lưu Hữu Phước (1921-1989) là tác giả của rất nhiều hành khúc nổi tiếng. Với tài năng của mình, từ bài hát này đến bài hát khác, ông đã góp phần nuôi dưỡng những phong trào cách mạng to lớn.

Những bước đi rầm rộ của hàng vạn, hàng triệu đồng bào theo nhịp hát “Lên đàng”, “Tiếng gọi thanh niên”, “Học sinh hành khúc”... trước đây và sau này là“Giải phóng miền Nam”, “Tiến về Sài Gòn”... đã làm rung chuyển cả đất nước. Phải nói rằng âm nhạc Lưu Hữu Phước đã có sức mạnh động viên, cổ vũ phi thường...

Thế nhưng Lưu Hữu Phước không chỉ có những hành khúc vang dội. Ông cũng có những tình ca cháy bỏng như“Trên Sông Hương”, “Ai nhớ ai”... Một điều ít ai biết là con người tài hoa ấy đã từng có một mối tình đầu đầy bí hiểm với một người con gái Huế.

Lá thư của người không quen biết

Đầu năm 1943, lúc bấy giờ nhạc sỹ Lưu Hữu Phước đang học ở Hà Nội nhưng cũng đã nổi tiếng với các bài hát của mình như “Tiếng gọi thanh niên”(1941), “Bạch Đằng Giang” (1941), “Hội nghị Diên Hồng” (1942)... Một hôm ông đang phổ nhạc cho vở nhạc kịch thơ Tục lụy (nay gọi là Trần duyên) của Thế Lữ thì nhận được một là thư gửi từ Huế, ký tên Thu Hương.      

Đó là lá thư của cô gái Huế mà Lưu Hữu Phước chưa hề quen biết. Người viết lá thư ấy tỏ lòng ngưỡng mộ tài năng của nhạc sỹ trẻ, ca ngợi bài hát“Ta cùng đi” và ngõ ý muốn trao đổi thư từ với nhạc sỹ. Có một điều đáng nói là trước đó cũng có nhiều cô gái viết thư tỏ tình, mến mộ... song đều không được Lưu Hữu Phước để tâm đến. Thế nhưng tự nhiên nhận được lá thư này, bỗng nhiên Lưu Hữu Phước đâm ra nghĩ ngợi. Nhớ lại chuyện này, người bạn thân của ông là nhà hoạt động cách mạng Mai Văn Bộ kể: “Tôi tò mò hỏi Phước: ”-Phước nghĩ xem, tại sao Thu Hương ca ngợi bài “Ta cùng đi” mà không ca ngợi bài hát nào khác của Phước? ”Phước nói ngay: ”- Thu Hương đề nghị cùng trao đổi ý kiến về cả hai phương diện nghệ thuật và tư tưởng. Chưa có bức thư nào khác có nội dung như thế cả!” Câu trả lời của Phước bật ra như có sẵn trong đầu, khiến tôi chợt hiểu: thì ra Phước đã nhìn thấy ở Thu Hương một cô gái trình độ, có bản lĩnh và chưa chi đã có sự cảm thông, đồng tình, đồng điệu với nhau rồi! Phước ngồi thừ ra. Lần đầu tiên tôi thấy Phước trong tư thế đó. Phải chăng Phước đang nghĩ về cố đô và đang lắng nghe tiếng hò trên sông Hương, như 7 năm về trước, khi Phước còn là một học sinh của trường Collège Cần Thơ? Thôi, Thần lương tâm (biệt danh của Lưu Hữu Phước - người viết) mắc bệnh tương tư rồi. Và từ đó, tôi gọi gác trọ của chúng tôi là ‘‘Gác TT”...

Từ đó, Lưu Hữu Phước thư đi thư lại với người con gái Huế có tên là Thu Hương mà Phước chưa một lần gặp mặt.

Huế - không phải là điểm hẹn tình yêu

Khoảng đến cuối năm 1943, Hà Nội bị bom đạn dữ dội, trường đại học đóng cửa, Lưu Hữu Phước cùng nhóm bạn bè thân là Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ (sau này cùng với Lưu Hữu Phước và một số người khác lập nên nhóm Hoàng Mai Lưu nổi tiếng) rời Hà Nội trở về Nam. Họ trở về bằng xe lửa. Bỗng nhiên khi tàu dừng ở Ga Huế, Lưu Hữu Phước xách va-li xuống xe và tuyên bố sẽ ở lại Huế để đi tìm Thu Hương. Những người bạn đồng hành rất ngạc nhiên, Huỳnh Văn Tiểng can ngăn song không thể thay đổi ý định của Lưu Hữu Phước.

Một sinh viên tên là T đã đón Lưu Hữu Phước rồi đưa đi tìm người con gái mà những cánh thư mỏng manh đã từng làm nhạc sỹ mất ăn, mất ngủ. Theo địa chỉ của Thu Hương ghi cho, Phước và T dẫn nhau đi tìm. Hồi đó thành phố Huế chưa mở rộng như bây giờ, chỉ nhỏ như bàn tay con gái, những tưởng đi tìm nhà người đẹp sẽ dễ dàng song rốt cuộc lại không hề như thế. Bởi vì khi tìm đúng tên đường, lần theo số nhà, nhưng chưa đến số nhà Thu Hương ghi cho trong thư hẹn hò thì đã hết ngõ đường. Hỏi những người trong xóm đó thì ai cũng lắc đầu:”- Không có Thu Hương nào ở đây cả”. Không tìm ra người đẹp mình từng mộng tưởng, hẹn hò mà trời Huế đã về chiều. Quá thất vọng trong bóng chiều buông, chàng nhạc sỹ cảm thấy như mình đang đứng ở “ngõ cụt Liêu Trai” ngay trên xứ Huế. Bí quá, Lưu Hữu Phước đành nghe theo lời T ở lại nhà người quen của T để đi thăm Huế một tuần.

Bài tình ca đầu tiên      

Thay vì gặp một Thu Hương, nhạc sỹ Lưu Hữu Phước đã gặp nhị Kiều xứ Huế lúc bấy giờ là L.L và L.Đ, cả hai đều là em của T. Nghe chàng sinh viên kiêm nhạc sỹ nổi tiếng Lưu Hữu Phước đang có mặt ở nhà L.L và L.Đ, khoảng trên ba mươi nữ sinh Huế đã tìm đến và thế là đã từng diễn ra một cuộc trình diễn nhạc Lưu Hữu Phước ở Huế cách đây 67 năm. Trước những tà áo tím ngưỡng mộ mình, nhạc sỹ Lưu Hữu Phước đã hứng khởi giới thiệu một số bài hát như “Bạch Đằng Giang”, “Hồn tử sỹ” và không thể thiếu bài “Ta cùng đi” đã từng làm nên duyên nợ với Huế của chàng trai Nam bộ.

Những ngày sau đó, T đưa nhạc sỹ Lưu Hữu Phước thăm viếng các lăng tẩm hoàng cung, đi thuyền sông Hương và có lần L.L cùng L.Đ đưa Lưu Hữu Phước đi thăm quê ở ngoại ô thành Huế. Không tìm thấy Thu Hương ở Huế, nhưng tình cảm của chị em L.L, L.Đ đã làm cho Lưu Hữu Phước khuây khỏa. Mơ hồ như trong số họ có bóng dáng của Thu Hương.

Bút tích bản "Hương Giang dạ khúc" của Lưu Hữu Phước tặng Thu Hương

Những ngày vui qua nhanh, nhạc sỹ Lưu Hữu Phước từ biệt Huế mà lòng biết bao lưu luyến, trong tim canh cánh một nỗi niềm “Thu Hương-nàng là ai?”. Trở về Nam, nhạc sỹ đã sáng tác bài tình ca đầu tiên “Hương giang dạ khúc” theo phong cách dân ca Huế. Từ Sài Gòn, bài tình ca đã được gửi ra Huế cho Thu Hương, đồng thời cho cả L.L và L.Đ. Cô em L.Đ đã dành giữ bức thư, còn người chị L.L đằm thấm hơn thì giữ lấy phong bì có đóng dấu bưu điện Sài Gòn. Bài “Hương giang dạ khúc” có rất nhiều từ “hương”, như vừa để nhắn gửi đến nàng Thu Hương, vừa gửi về xứ sở đã để lại trong tâm hồn nhạc sỹ nhiều ấn tượng quá đẹp. Trong đó có những câu da diết: “Làn hương thu mờ trong bóng chiều, vờn run ánh ngà, nhẹ đưa đưa xa... Làn hương ơi! Làn hương mờ xóa bóng ai yêu kiều trong mơ...”

Năm 1944, Mặt trận Việt Minh kêu gọi, lệnh chuẩn bị khởi nghĩa đến với những người sinh viên yêu nước. Lưu Hữu Phước hát vang bài “Xếp bút nghiên”, bỏ học đi về Nam. Trước khi lên đường, chàng nhạc sỹ Lưu Hữu Phước thức suốt đêm đốt hết tất cả những bức thư của Thu Hương cùng các thư từ kỷ vật đã lưu niệm từ mười năm qua. Không chỉ thế, khi về ngang Huế, nhạc sỹ đã cắt một đoạn bài hát “Xếp bút nghiên” gửi cho Thu Hương theo địa chỉ “Ngõ cụt Liêu Trai” mà mình đã đến tìm nhưng không gặp người. Đoạn cắt ấy là: “Hèn thay đời nhàn cư! Hèn thay vui yêu đương! Lúc quê hương cần người. Dứt làn tơ vương”... Những lời ấy nói thay cho nhạc sỹ một quyết tâm cắt đứt mối tình đầu để lên đường tranh đấu...

Thu Hương - nàng là ai?

Những tưởng câu chuyện đến đó là kết thúc, thế nhưng mọi chuyện về người con gái xứ Huế bí hiểm mang tên Thu Hương đã dần dần sáng tỏ vào một ngày của năm 1948. Mai Văn Bộ kể lại, lúc ấy ông đang hoạt động bán công khai ở Sài Gòn - Chợ Lớn thì có người phụ nữ tìm đến gặp, tự giới thiệu là L.L. “Nàng có khuôn mặt hơi dài, trán cao, một cái nhìn rất sâu và rất tri thức sau cặp kính trắng”- Mai Văn Bộ tả. Rất tự nhiên, L.L cho biết là nàng đã có chồng và đang làm ăn buôn bán ở Sài Gòn, Hương Cảng, Singapore. Quanh co một hồi, L.L hỏi tin tức của Lưu Hữu Phước. Mai Văn Bộ cho biết là nhạc sỹ đang ở Việt Bắc và chưa có vợ. Ông nhớ là ông nhấn mạnh Lưu Hữu Phước chưa có vợ và cảm thấy như L.L muốn nói điều gì đó song lại thôi, vội vàng từ giã ra về. Ông Mai Văn Bộ đưa tiễn người đẹp ra ngõ, thế nhưng khi về đến nhà, ông mới giật mình vì một câu hỏi xoáy lên: “L.L có phải là Thu Hương không?”. Ông vội chạy ra ngõ tìm nhưng muộn mất rồi, không còn thấy bóng người đâu cả.

Sau Hiệp định Geneve, nhóm Hoàng Mai Lưu găp nhau ở Hà Nội. Lưu Hữu Phước kể cho mọi người nghe là năm 1946, nhạc sỹ đã gặp L.L ở Hà Nội. Lúc ấy nàng đã có chồng, thế nhưng L.L không những vẫn giữ thái độ thân tình của người quen cũ, mà còn tích cực giúp nhà xuất bản Hoàng Mai Lưu II ấn hành một số bài hát, trong đó có bài “Hương giang dạ khúc” của nhạc sỹ không tên, tặng cô Thu Hương. Nghe chuyện L.L tìm gặp Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước thở dài: “Yêu người trong mơ, gặp người cụ thể, chưa biết hẹn hò gắn bó thì người ta đã đi lấy chồng”.

Nói vậy nhưng có phải L.L đã núp dưới tên Thu Hương để mê hoặc Lưu Hữu Phước không? Câu hỏi ấy vẫn chưa dễ dàng kết luận.

Câu trả lời chỉ đến 18 năm sau đó, vào năm 1961. Ông Mai Văn Bộ kể:“Tháng 8 năm 1961, Trần Văn Khê dự Hội nghị Âm nhạc của Hội quốc tế nghiên cứu Âm nhạc (S.I.M) tại New York. Gần địa điểm Hội nghị, có một tiệm ăn Việt Nam. Thấy Khê đến, hai vợ chồng chủ tiệm đón tiếp rất niềm nở. Trước ngày Khê rời New York, hai vợ chồng, nhất là người vợ khẩn khoản mời Khê ăn một bữa bánh khoái, vì hai vợ chồng đều là người Huế.

Sau bữa ăn, người vợ tự giới thiệu là L.L. và hỏi Khê có còn nhớ bài hát “
Hương Giang dạ khúc” của Lưu Hữu Phước. Dĩ nhiên là Khê còn nhớ bài hát và L.L đã đề nghị Khê hát.

Khê kể lại rằng khi L.L yêu cầu Khê hát bài “
Hương giang dạ khúc”, Khê bồi hồi nhớ lại cuộc đi thăm Huế một tuần lễ của Phước và nói : “Vâng, tôi còn nhớ và cũng còn hát được bài hát mà Phước viết sau chuyến thăm Huế cuối năm 1943 để tặng một bạn gái tên là Thu Hương’’.

L.L. không nói gì, nét mặt của nàng cũng không biểu lộ một điều gì. Nàng ngồi im, chờ nghe Khê hát.

Khê lại thoáng nghĩ L.L ắt có liên quan đến Thu Hương.

Với ý nghĩ trên đây, Khê hát bài “Hương giang dạ khúc” với tất cả tình bạn nồng nàn đối với Phước. Lúc đầu L.L còn nhìn Khê và nghe Khê hát. Nhưng sau đó, nàng nhìn xuống đất như để lẩn tránh cái nhìn của Khê vào mắt nàng.

Khê tiếp tục hát: “...Làn hương ơi. Làn hương mờ xóa bóng ai yêu kiều trong giấc mơ”

Đến đây, L.L gục xuống, ôm mặt khóc nức nở và nói qua hơi thở:

- Thu Hương ngày ấy là... em! 
Em xin lỗi anh Phước...

Người chồng - chắc có biết tâm tình vợ ôm hai vai vợ, tìm lời an ủi. Khê xúc động, cặp kính nhòa nước mắt.

Cuối cùng, tuy vì những lí do không giống nhau nhưng cả ba đều khóc”.
L.L - Thu Hương không còn nữa. Khi trên đường bay về Việt Nam, một tai nạn máy bay đã đưa nàng ra đi vĩnh viễn, mang theo cuộc đời có quá nhiều uẩn khúc của nàng. Từ bức thư đầu tiên của Thu Hương gửi cho Lưu Hữu Phước đến khi L.L bật khóc và thú nhận “Thu Hương ngày ấy là em”, tính ra đã 18 năm đi qua. Còn mãi đến năm 1976, nhạc sỹ Trần Văn Khê gặp nhạc sỹ Lưu Hữu Phước và nhắc lại chuyện cũ, bấy giờ Lưu Hữu Phước mới biết chắc L.L là Thu Hương ngày ấy, thì cũng đã 33 năm đi qua.

Ở Huế, người ta thường hay nhắc đến mối tình của một người con gái gửi ảnh và những dòng thư cho nhà thơ Hàn Mặc Tử, để rồi nhà thơ có bài thơ bất hủ “Đây thôn Vỹ Dạ”. Thế nhưng chuyện những dòng thư của Thu Hương và xuất xứ của bài “Hương giang dạ khúc” và câu chuyện ly kỳ trên đây thì không phải ai cũng biết.

Xứ Huế thường có những bí ẩn bất ngờ dành cho những con người tài hoa rất mực một cách lạ lùng như thế.
(SDB – 3-2010)

----------------------------
Ghi chú: các trích dẫn trong bài dẫn theo “Lưu Hữu Phước-con người và sự nghiệp” của Mai Văn Bộ, NXB Trẻ 1989