Showing posts with label HDND. Show all posts
Showing posts with label HDND. Show all posts

Sunday, December 11, 2011

11/12 Chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ Ba, HĐND thành phố Hà Nội Khóa XIV: Quyết tâm lớn của cơ quan dân cử Thủ đô

07:29 | 11/12/2011
Ùn tắc giao thông, giải quyết việc làm - những vấn đề nóng bỏng của thành phố được đặt lên bàn nghị sự, hứa hẹn phiên chất vấn sôi động. Nhưng, trái với kỳ vọng của cử tri, có những lúc phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ Ba, HĐND thành phố Hà Nội chùng xuống bởi những trả lời lòng vòng, khi nhiều bất cập chưa được làm rõ...
Khoảng trống chưa được lấp đầy

Wednesday, October 19, 2011

19/10 Nâng cao chất lượng các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết trình kỳ họp HĐND tỉnh

 19/10/2011
Tham luận của HĐND tỉnh Nam Định tại Hội nghị Nâng cao chất lượng kỳ họp HĐND các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc, do ỦY VIÊN THƯỜNG TRỰC TRƯƠNG ANH TUẤN trình bày

Trong hoạt động của HĐND, kỳ họp là hình thức hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất. Nâng cao chất lượng của kỳ họp là một vấn đề quan trọng, luôn mang tính thời sự, được đặt ra ngày càng bức thiết, rất cần được trao đổi, rút kinh nghiệm, đặc biệt trong thời gian đầu của nhiệm kỳ 2011 - 2016.

Nhiệm kỳ vừa qua, HĐND tỉnh Nam Định đã chú trọng thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định; phương thức hoạt động của HĐND, về cơ bản, đã làm tốt công tác phối hợp giữa Thường trực HĐND với UBND trong chuẩn bị và tổ chức kỳ họp; công tác TXCT được triển khai bài bản; công tác giám sát, thẩm tra trước kỳ họp có chuyển biến tích cực; chất lượng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn được nâng lên; công tác thông tin tuyên truyền tại kỳ họp được quan tâm; tại các kỳ họp, HĐND đã ban hành các nghị quyết phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo cử tri và nhân dân địa phương; chất lượng kỳ họp HĐND đã nâng lên một bước, đóng góp tích cực vào sự phát triển KT-XH với vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương.

Sunday, August 21, 2011

21/08 Công tác chỉ đạo của Thường trực HĐND đối với Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND trong việc tham mưu và phục vụ kỳ họp HĐND tỉnh

07:36 | 21/08/2011
Tham luận của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc tại Hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc bộ do UỶ VIÊN THƯỜNG TRỰC NGUYỄN XUÂN SƠNtrình bày
Kỳ họp HĐND là hình thức hoạt động chủ yếu, trực tiếp, tập trung nhất của các đại biểu HĐND để thực hiện chức năng quyết định và giám sát những vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND. Để từng bước nâng cao chất lượng kỳ họp HĐND, công tác chuẩn bị là yếu tố quan trọng, trong đó vai trò tham mưu, phục vụ của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND (Văn phòng) là một trong những nhân tố quyết định, vì chức năng nhiệm vụ của Văn phòng là giúp Thường trực HĐND xây dựng chương trình, tổ chức phục vụ, đôn đốc các cơ quan chuẩn bị tài liệu phục vụ kỳ họp HĐND, cuộc họp của Thường trực HĐND; giúp Thường trực, các ban HĐND tỉnh xây dựng báo cáo công tác, giúp việc các ban HĐND trong hoạt động thẩm tra, giúp Thường trực HĐND hoàn thiện các nghị quyết của HĐND tỉnh. Phối hợp với các cơ quan trong hoạt động tiếp xúc cử tri; tổng hợp ý kiến, kiến nghị cử tri gửi các cơ quan tổ chức có trách nhiệm xem xét, giải quyết.
Để kỳ họp HĐND tỉnh thực sự có hiệu quả, thiết thực, đảm bảo đúng quy trình, tính pháp lý, trong những năm gần đây Thường trực HĐND tỉnh Vĩnh Phúc đã chủ động chỉ đạo Văn phòng thực hiện tốt công tác tham mưu, giúp việc Thường trực, các Ban HĐND trong công tác chuẩn bị cho kỳ họp HĐND:
Trước hết là phải chủ động trong công tác chuẩn bị nội dung kỳ họp theo luật định, tại kỳ họp cuối năm trước, Thường trực HĐND tỉnh đã chỉ đạo Văn phòng tham mưu cho Thường trực HĐND tỉnh chương trình xây dựng nghị quyết, chương trình giám sát năm sau trình HĐND tỉnh thông qua. Theo quy định thì trước kỳ họp 40 ngày Thường trực HĐND tỉnh tổ chức hội nghị liên tịch với UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, các cơ quan liên quan để thống nhất nội dung chương trình kỳ họp HĐND tỉnh; tuy nhiên, đối với Vĩnh Phúc kỳ họp HĐND tỉnh có nhiều nội dung, ngoài các nội dung theo luật định thì mỗi kỳ họp trung bình UBND tỉnh trình từ 10 chuyên đề trở lên; để các cơ quan, các ban HĐND tỉnh có thời gian chuẩn bị kỹ các nội dung kỳ họp nên trước kỳ họp 2 tháng Văn phòng tham mưu cho Thường trực HĐND tỉnh tổ chức hội nghị liên tịch để thống nhất nội dung, chương trình, thời gian tổ chức kỳ họp đồng thời tại hội nghị này Văn phòng tham mưu cho Thường trực HĐND tỉnh thống nhất phân công trách nhiệm tới từng cơ quan, các ban HĐND tỉnh trong việc chuẩn bị nội dung kỳ họp, ấn định thời gian thực hiện, thời gian gửi tài liệu. Để hội nghị liên tịch thành công bảo đảm các nội dung đều được thống nhất, đặc biệt là các nội dung chuyên đề, Văn phòng giao cho các chuyên viên nghiên cứu từng nội dung theo lĩnh vực được phân công để tham mưu cho Thường trực HĐND tỉnh những nội dung không thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh sẽ được thống nhất không đưa vào chương trình kỳ họp. Đối với các chuyên đề phức tạp giao các chuyên viên có nhiệm vụ tham gia ngay từ khi xây dựng báo cáo, đề án để tham mưu cho Thường trực, các ban HĐND tỉnh. Các tài liệu trình kỳ họp đều được Thường trực HĐND chỉ đạo Văn phòng có văn bản hướng dẫn để các cơ quan thực hiện theo đúng quy trình luật định, định kỳ hàng tuần kiểm điểm tiến độ chuẩn bị, đôn đốc các cơ quan gửi văn bản trình kỳ họp qua Văn phòng để gửi các đại biểu HĐND tỉnh đúng thời gian quy định.
Trước kỳ họp 30 ngày, Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng tham mưu xây dựng kế hoạch tiếp xúc cử tri; kế hoạch họp Tổ đại biểu HĐND tỉnh, phân công lãnh đạo Văn phòng, chuyên viên dự các buổi tiếp xúc cử tri, các buổi họp Tổ đại biểu HĐND tỉnh, mỗi một Tổ đại biểu HĐND tỉnh tiếp xúc cử tri ít nhất 2 điểm, Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng xây dựng đề cương hướng dẫn cụ thể giúp các đại biểu tiếp xúc cử tri, trong đó dành thời lượng thích hợp để cử tri phát biểu. Sau các cuộc tiếp xúc cử tri, tiến hành họp Tổ, các Tổ đại biểu HĐND tỉnh đều phải tổng hợp các ý kiến gửi Thường trực HĐND tỉnh, Thường trực giao Văn phòng phân loại tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri chuyển đến UBND tỉnh và đề nghị UBND tỉnh có báo cáo kết quả giải quyết tại kỳ họp để các đại biểu và cử tri trong tỉnh được biết. Các ý kiến thảo luận tại các Tổ được Văn phòng tổng hợp gửi các đại biểu HĐND tỉnh biết và tại kỳ họp đại biểu chỉ thảo luận những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau, như vậy rút ngắn được thời gian tổ chức kỳ họp nhưng nội dung kỳ họp vẫn bảo đảm, chất lượng kỳ họp được nâng lên.
Việc thực hiện nhiệm vụ tham mưu, giúp việc các ban HĐND tỉnh trong hoạt động thẩm tra: trên cơ sở thống nhất nội dung kỳ họp, Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng tham mưu xây dựng kế hoạch điều hòa phối hợp để các Ban tiến hành thẩm tra các báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết trình kỳ họp; đồng thời phân công chuyên viên nghiên cứu các chuyên đề và đưa ra ý kiến của Văn phòng về nội dung thẩm tra, chuẩn bị các tài liệu cần thiết để làm cơ sở giúp các Ban tiến hành thẩm tra; kết thúc các buổi thẩm tra Văn phòng có nhiệm vụ tổng hợp các ý kiến của đại biểu, xây dựng dự thảo báo cáo thẩm tra tham mưu cho các ban HĐND tỉnh quyết định. Với quan điểm báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm, chính kiến của các ban, nêu rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, cung cấp thông tin về cơ sở pháp lý và thực tiễn để đại biểu HĐND tỉnh thảo luận, quyết định.
Trên cơ sở kết quả thảo luận Tổ đại biểu HĐND tỉnh trước kỳ họp, kết quả các cuộc thẩm tra của các ban HĐND tỉnh, Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng tổng hợp những vấn đề còn có ý kiến khác nhau giữa các Tổ đại biểu HĐND và các ban HĐND với cơ quan trình để Thường trực HĐND tỉnh báo cáo Đảng Đoàn HĐND tỉnh và hướng dẫn để đại biểu thảo luận tại kỳ họp.
Để hoạt động chất vấn thực sự có hiệu quả Thường trực HĐND tỉnh giao cho Văn phòng tổng hợp lại những vấn đề mà cử tri bức xúc qua các cuộc tiếp xúc cử tri, tiếp dân, hoạt động giám sát, phân công các ban HĐND chuẩn bị mỗi Ban từ 3-  câu hỏi chất vấn, Văn phòng tổng hợp báo cáo Thường trực HĐND tỉnh để lựa chọn nội dung chất vấn báo cáo Đảng Đoàn HĐND tỉnh cho ý kiến chỉ đạo và chuyển đến UBND tỉnh để chuẩn bị trả lời chất vấn tại kỳ họp. Đồng thời yêu cầu các Sở, ngành có báo cáo bằng văn bản về kết quả thực hiện lời hứa tại phiên chất vấn kỳ họp trước để HĐND và cử tri theo dõi, giám sát.
Trước 7 ngày khai mạc kỳ họp, Văn phòng tham mưu nội dung tổ chức hội nghị Đảng Đoàn HĐND tỉnh để Đảng Đoàn cho ý kiến chỉ đạo nội dung, chương trình điều hành kỳ họp, những nội dung còn có ý kiến khác nhau chưa thống nhất giữa cơ quan trình và các ban HĐND tỉnh, thống nhất nội dung chất vấn tại kỳ họp và rà soát chỉnh lý dự thảo nghị quyết HĐND tỉnh trình kỳ họp tạo sự thống nhất cao để Đảng Đoàn HĐND tỉnh lãnh đạo thành công kỳ họp.
Chỉ đạo Văn phòng phối hợp với các cơ quan tuyên truyền về kỳ họp HĐND, toàn bộ nội dung, chương trình kỳ họp được thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh để cử tri được biết, theo dõi. Đặc biệt trong những kỳ họp gần đây Thường trực HĐND tỉnh đã thực hiện lấy ý kiến nhân dân vào các nội dung chuyên đề trình kỳ họp thông qua Cổng Thông tin giao tiếp điện tử của tỉnh, sau đó giao cho Văn phòng phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh tổng hợp gửi các đại biểu HĐND tỉnh để thảo luận; tổ chức truyền hình trực tiếp toàn bộ thời gian diễn ra kỳ họp; đăng nội dung các nghị quyết của HĐND tỉnh sau kỳ họp trên các số báo của tỉnh và trên Website của tỉnh để nhân dân được biết thực hiện và giám sát.
Công tác phục vụ cho kỳ họp: Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng chuẩn bị tốt cả về nội dung, các điều kiện vật chất, kỹ thuật, bảo đảm an ninh trật tự, y tế, đón tiếp đại biểu, thông tin tuyên truyền, thực hiện chế độ cho đại biểu trong thời gian diễn ra kỳ họp, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các đại biểu hoạt động góp phần cho thành công của kỳ họp HĐND tỉnh.
Tuy nhiên, với vai trò Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng, điều hòa phối hợp với các ban HĐND tỉnh trong công tác chuẩn bị kỳ họp HĐND vẫn còn những tồn tại cơ bản là:
Trong công tác chỉ đạo Văn phòng tham mưu nội dung các kỳ họp tuy đã có sự thống nhất cao giữa Thường trực HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh song vẫn còn một số nội dung bổ sung vào các kỳ họp gấp về thời gian; biết rằng đó là những nội dung cần thiết phải thông qua HĐND tỉnh quyết định cho sự phát triển KT - XH của tỉnh; song sẽ là công việc gây khó khăn cho Văn phòng, các ban HĐND tỉnh trong công tác chuẩn bị các tài liệu cho đại biểu và hoạt động thẩm tra để đảm bảo đúng quy định của luật.
Trước mỗi kỳ họp, Thường trực HĐND tỉnh đều chủ động chỉ đạo Văn phòng xây dựng kế hoạch và hướng dẫn các Tổ đại biểu HĐND tỉnh họp Tổ, song chất lượng họp Tổ của các Tổ đại biểu HĐND trước kỳ họp còn rất hạn chế chưa có nhiều đóng góp cho hoạt động kỳ họp HĐND; trách nhiệm của Tổ đại biểu HĐND, đại biểu HĐND tỉnh còn hạn chế, còn nể nang, né tránh, ngại va chạm, vì vậy việc đăng ký chất vấn, thảo luận còn ít, chất vấn còn chung chung chưa cụ thể, truy đến cùng.
Một số đại biểu là thành viên các ban HĐND trong công tác chuẩn bị nội dung kỳ họp chưa thực sự quan tâm, có những cuộc thẩm tra của các Ban thành viên vắng nhiều, Văn phòng lại phải thêm một bước là xin ý kiến các đồng chí thành viên Ban vắng mặt vào dự thảo báo cáo thẩm tra của Ban như vậy ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian hoàn thiện báo cáo.
Qua quá trình chỉ đạo Văn phòng chuẩn bị kỳ họp HĐND, Thường trực HĐND tỉnh Vĩnh Phúc rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là, phải khẳng định rằng công tác chuẩn bị cho mỗi kỳ họp HĐND nếu được thực hiện chu đáo, kỹ lưỡng là yếu tố quyết định cho sự thành công của kỳ họp, quyết định đến việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND.
Hai là, trong chỉ đạo điều hành công tác chuẩn bị kỳ họp HĐND, Thường trực HĐND phải thể hiện sự tập trung thống nhất cao, phối hợp chặt chẽ với UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và các cơ quan liên quan, thường xuyên đôn đốc kiểm tra các ban HĐND, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh trong việc thực hiện những nội dung chuẩn bị kỳ họp được phân công.
Ba là, sớm chỉ đạo Văn phòng tham mưu tổ chức cuộc họp liên tịch với UBND, Ủy ban MTTQ, các ban HĐND và các cơ quan liên quan để thống nhất nội dung, thời gian kỳ họp, phân công trách nhiệm các cơ quan chuẩn bị nội dung với những yêu cầu đặt ra theo đúng luật định. Chỉ đạo Văn phòng giao cho các chuyên viên tham mưu cho các ban HĐND tỉnh phối hợp với các cơ quan trong quá trình chuẩn bị các nội dung nhất là các nội dung chuyên đề để giúp cho các ban có đầy đủ thông tin phục vụ công tác thẩm tra; báo cáo thẩm tra của các ban HĐND tỉnh phải thể hiện rõ được những căn cứ pháp lý và thực tiễn của chuyên đề, nêu được những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, những vấn đề cần giải trình làm rõ để cung cấp cho đại biểu HĐND có căn cứ pháp lý và thực tiễn để thực hiện chức năng quyết định. Kiên quyết không đưa vào kỳ họp những nội dung chuyên đề chuẩn bị chưa kỹ chưa có đủ căn cứ để HĐND quyết định và những chuyên đề không thuộc thẩm quyền HĐND tỉnh để bảo đảm nghị quyết HĐND tỉnh khi ban hành không trái với pháp luật, phù hợp với lòng dân và đi vào cuộc sống.
Bốn là, qua kết quả họp Tổ trước kỳ họp, báo cáo thẩm tra của các ban, kết quả nghiên cứu của Văn phòng, Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng tổng hợp những vấn đề còn ý kiến khác nhau giữa cơ quan trình và Thường trực HĐND, các ban HĐND và đại biểu HĐND, nêu rõ lý do, quan điểm chỉnh sửa để cung cấp cho đại biểu thảo luận thống nhất trước khi thông qua nghị quyết HĐND.

Friday, August 19, 2011

19/08 Nâng cao chất lượng kỳ họp HĐND - những yêu cầu lý luận và thực tiễn


Hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc bộ
07:28 | 19/08/2011
Báo cáo đề dẫn của Thường trực HĐND tỉnh Nam Định do PHÓ CHỦ TỊCH HĐND TỈNH NAM ĐỊNH TRẦN LƯƠNG BẰNG trình bày
Kính thưa các vị đại biểu khách quý, cùng toàn thể các đồng chí!
Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc bộ đã thống nhất cao với chủ đề hội nghị theo đề xuất của Thường trực HĐND tỉnh Nam Định, đó là: “Nâng cao chất lượng kỳ họp Hội đồng nhân dân”. Đây là nội dung quan trọng, có ý nghĩa bao trùm và có tác động mang tính quyết định đến hiệu quả hoạt động của HĐND. Đặc biệt, Hội nghị của chúng ta diễn ra trong thời điểm đầu nhiệm kỳ 2011 - 2016, Thường trực HĐND, lãnh đạo các Ban HĐND nhiều địa phương được bầu mới, vì vậy, mục đích việc lựa chọn chủ đề này là thông qua trao đổi, thảo luận tại hội nghị sẽ rút ra các vấn đề cả về lý luận và thực tiễn nhằm xác định rõ vai trò, trách nhiệm và củng cố thêm những kỹ năng cơ bản trong hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban HĐND và Văn phòng giúp việc cho HĐND nhằm nâng cao chất lượng kỳ họp và chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND.
Kính thưa các vị đại biểu!
Từ thực tế hoạt động của HĐND, chúng ta có thể thấy có rất nhiều yếu tố cả chủ quan và khách quan tác động đến chất lượng kỳ họp HĐND. Thứ nhất: Về xây dựng nội dung, chương trình kỳ họp: vào kỳ họp cuối năm, HĐND đều ban hành Nghị quyết về Chương trình xây dựng nghị quyết của năm sau, vậy các bước tiến hành thế nào, Thường trực HĐND cần phải phối hợp với UBND, các tổ chức hữu quan những vấn đề gì để đảm bảo Chương trình xây dựng nghị quyết phù hợp với yêu cầu đặt ra và mang tính khả thi cao? Sự phối hợp và trách nhiệm của Thường trực HĐND, các Ban HĐND với UBND, Ban thường trực UBMTTQ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các tổ chức, cá nhân có liên quan như thế nào trong chuẩn bị nội dung, chương trình kỳ họp? Quan điểm xử lý của Thường trực, các Ban HĐND đối với những nội dung phát sinh do UBND trình sau khi đã có thông báo dự kiến nội dung, chương trình kỳ họp như thế nào?
Thứ hai: Về nâng cao chất lượng và đảm bảo thời gian hoàn thành các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết trình tại kỳ họp: cần làm rõ trách nhiệm đôn đốc và những yêu cầu nhằm nâng cao chất lượng các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết trình tại kỳ họp như thế nào? Cách xử lý của Thường trực HĐND, các Ban HĐND đối với những nội dung báo cáo, đề án gửi muộn, gây khó khăn cho công tác thẩm tra của các Ban HĐND? việc tham gia của các Ban HĐND với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND ngay từ khi soạn thảo nội dung các báo cáo, đề án, nghị quyết có cần thiết và phù hợp không? 
Thứ ba: Về hoạt động giám sát, thẩm tra trước kỳ họp và nâng cao chất lượng báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND trình tại kỳ họp: báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND là thông tin hết sức tin cậy giúp cho các đại biểu HĐND làm căn cứ để đi đến những quyết định quan trọng của kỳ họp. Vấn đề đặt ra là: Cách thức tiến hành việc giám sát, thẩm tra như thế nào; làm thế nào để thu thập thông tin, nghiên cứu tài liệu, đánh giá tình hình và lựa chọn nội dung trọng tâm giám sát? Qua giám sát, thẩm tra các Ban cần phải nắm bắt những gì và thể hiện quan điểm như thế nào để báo cáo thẩm tra có chất lượng và độ tin cậy cao? Việc tổ chức tham vấn ý kiến nhân dân để đảm bảo sự phù hợp của các cơ chế, chính sách do HĐND ban hành nên thực hiện như thế nào? Đề nghị các địa phương đã tổ chức tham vấn ý kiến nhân dân trao đổi những hình thức tham vấn hiệu quả nhất đã được triển khai và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức tham vấn ý kiến nhân dân ở địa phương mình.
Thứ tư: Tổ chức cho đại biểu HĐND tiếp xúc cử tri và tham gia vào các nội dung của kỳ họp: Cần làm rõ vai trò của Thường trực HĐND trong việc phối hợp với UBMTTQ hướng dẫn các Tổ đại biểu tiếp xúc cử tri, tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri, tập hợp ý kiến kiến nghị của cử tri nhằm khắc phục tính hình thức và phản ánh trung thực, đầy đủ các kiến nghị của cử tri; làm thế nào để các đại biểu HĐND có thể chuẩn bị ý kiến tham gia vào các nội dung của kỳ họp? trách nhiệm của Tổ đại biểu như thế nào trong việc chuẩn bị tham gia vào các nội dung của kỳ họp? Trong khi Nhà nước chưa có quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ và chế độ chính sách phục vụ hoạt động của Tổ đại biểu HĐND, thì các địa phương đã có những cách làm, cách vận dụng như thế nào để nâng cao vai trò của Tổ đại biểu HĐND, nhất là các địa phương thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện?
Thứ năm: Về kỹ năng điều hành kỳ họp của Thường trực HĐND: Kỳ họp thường lệ của HĐND diễn ra trong phạm vi từ 2,5 đến 3 ngày, vậy cần phải bố trí thời gian như thế nào để đảm bảo cho việc sử dụng thời gian mỗi phiên họp đủ nội dung và đạt hiệu quả cao? Quy định các nội dung báo cáo tại hội trường, trả lời chất vấn và đối tượng trình bày như thế nào? Có biện pháp gì để nâng cao hiệu quả trong thảo luận, chất vấn và trả lời chất vấn? Cách xử lý những vấn đề thảo luận còn có nhiều ý kiến khác nhau của các đại biểu? Việc chuẩn bị dự thảo Nghị quyết và điều hành biểu quyết như thế nào để đảm bảo Nghị quyết khi được thông qua có sự thống nhất cao?
Thứ sáu: Về công tác thông tin, tuyên truyền: Kỳ họp HĐND là hoạt động được đông đảo cử tri và nhân dân quan tâm, vậy, cần làm thế nào để các nội dung của kỳ họp được chuyển tải rộng khắp và đầy đủ đến mọi tầng lớp nhân dân? Những hình thức tuyên truyền trước, trong và sau kỳ họp? Công tác tập hợp và in Kỷ yếu của kỳ họp? Việc triển khai thực hiện Nghị quyết như thế nào?
Thứ bảy: Công tác tham mưu và phục vụ kỳ họp: Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp việc cho HĐND. Để đảm bảo cho công tác chuẩn bị và tổ chức kỳ họp được thuận lợi, Thường trực HĐND chỉ đạo hoạt động của Văn phòng như thế nào trong việc tham mưu, phục vụ hoạt động của Thường trực, các Ban, các Tổ đại biểu và đại biểu HĐND trước, trong và sau kỳ họp? Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của
Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh theo Nghị quyết 545/2007/UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đảm bảo cho hoạt động của HĐND tỉnh chưa? Cần kiến nghị, đề xuất gì?
Thường trực HĐND tỉnh Nam Định xin kính chúc các vị đại biểu mạnh khoẻ, hạnh phúc, chúc Hội nghị thu được nhiều kết quả và thành công tốt đẹp!

Sunday, July 3, 2011

03/07 Điều kiện cho hoạt động giám sát của HĐND

07:17 | 03/07/2011
Hoạt động giám sát của HĐND thời gian qua đã chuyển biến tích cực, góp phần thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ KT – XH, bảo đảm thực thi pháp luật ở địa phương. Tuy nhiên, theo đánh giá của HĐND các tỉnh và thành phố, công tác giám sát vẫn còn những hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tế. Việc tìm ra giải pháp tháo gỡ vướng mắc để hoạt động giám sát của cơ quan dân cử phát huy hiệu quả rất cần thiết, khi bước vào một nhiệm kỳ mới.
Giám sát là một trong hai chức năng quan trọng của HĐND. Qua giám sát, cơ quan dân cử có thể kiểm chứng tính đúng đắn, sự phù hợp của các quy định đang được áp dụng và những chủ trương, biện pháp đã quyết nghị; kịp thời phát hiện khó khăn, vướng mắc để đề xuất giải pháp tháo gỡ, góp phần thực hiện tốt hơn công tác quản lý, điều hành các nhiệm vụ KT - XH của địa phương. Thông tin thu được qua giám sát còn là cơ sở cho việc thẩm tra của các ban, giúp HĐND thảo luận và quyết định chính xác tại kỳ họp; bảo đảm để nghị quyết được ban hành có chiều sâu, sát thực tiễn, phù hợp với nguyện vọng của cử tri. Trên thực tế, hoạt động giám sát của HĐND thời gian qua tuy chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn nhiều lúng túng, bất cập, chưa mang lại hiệu quả cao. Công tác giám sát chủ yếu do Thường trực và các ban HĐND tổ chức; việc tham gia giám sát của đại biểu hạn chế, chủ yếu mới giám sát tại kỳ họp. Nhìn chung, giám sát của HĐND đôi khi còn hình thức: nội dung chưa sâu, chưa tập trung vào các vấn đề bức xúc ở địa phương; kết luận chưa chỉ đúng căn nguyên… Có trường hợp kết luận giám sát chưa được chú trọng, việc tiếp thu, khắc phục hạn chế dẫn đến tình trạng còi cứ thổi mà xe cứ chạy.
Nguyên nhân những bất cập trên trước hết do chưa nhận thức đúng, đầy đủ vị trí, vai trò, trách nhiệm của HĐND. Bên cạnh đó, cơ chế cho hoạt động giám sát chưa rõ ràng khiến một số đại biểu thiếu tự tin, một số còn nể nang, ngại va chạm… Mặt khác, còn do hạn chế về năng lực, trình độ của đại biểu, do thiếu thông tin và thời gian thỏa đáng cho đại biểu hoạt động… Việc tìm giải pháp tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong hoạt động giám sát rất cần thiết khi HĐND các cấp đã bước vào một nhiệm kỳ mới. Qua thực tiễn hoạt động, xin trao đổi một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, phải nâng cao nhận thức về hoạt động giám sát của HĐND cho các cấp, ngành; chính đại biểu HĐND cũng cần nhận thức rõ về công tác giám sát của cơ quan dân cử để thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Cụ thể, phải nắm rõ đối tượng chịu sự giám sát, nội dung, phương thức giám sát và thẩm quyền, phạm vi giám sát. Về nội dung giám sát, cần tập trung vào việc thực hiện các nghị quyết của HĐND và việc tuân thủ pháp luật của các ngành, các cấp. Ngoài giám sát của HĐND tại các kỳ họp thông qua xem xét các báo cáo của Thường trực HĐND, UBND, TAND và VKSND cùng cấp; chất vấn và trả lời chất vấn; xem xét văn bản quy phạm pháp luật; bỏ phiếu tín nhiệm… còn giám sát thông qua hoạt động của Thường trực, các ban, đại biểu HĐND theo phương thức giám sát chung, hoặc giám sát chuyên đề.
Như vậy, giám sát của HĐND là giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước về những vấn đề liên quan đến đời sống KT - XH của địa phương; theo dõi, kiểm tra và đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các quy định đã được ban hành. Trên cơ sở đó, kiến nghị sửa đổi, bãi bỏ, hoặc đưa ra được biện pháp khả thi. Việc thực hiện quyền giám sát của Thường trực, các ban, đại biểu HĐND bảo đảm công khai, khách quan và không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Nhận thức và thực hiện đúng, hoạt động giám sát của cơ quan dân cử sẽ đạt hiệu quả và có sự đồng thuận của các cấp, ngành và xã hội.
Thứ hai, phải xây dựng chương trình, nội dung giám sát đúng trọng tâm, phù hợp và tổ chức tốt các cuộc giám sát. Điều này đòi hỏi trách nhiệm, năng lực và bản lĩnh của Thường trực, các ban, đại biểu HĐND. Trước tiên là phải xác định đúng vấn đề trọng tâm cần giám sát, sau đó xây dựng chương trình và kế hoạch giám sát phù hợp, trên cơ sở chương trình giám sát hàng năm HĐND đã thông qua. Có những vấn đề mới phát sinh trong thực tế, bức xúc, cần thiết thì việc tổ chức các cuộc giám sát kịp thời là rất cần thiết. Cần lưu ý là, các cơ quan dân cử và đại biểu dân cử không thể làm thay các cơ quan hành pháp và tư pháp. Vì vậy, phương pháp tiến hành giám sát phải chặt chẽ, thực hiện theo đúng chức năng, thẩm quyền và đúng quy trình.
Tiếp đến phải chuẩn bị và tổ chức tốt các cuộc giám sát, từ khâu chuẩn bị nắm tình hình đến thu thập thông tin cần thiết liên quan đến nội dung, đối tượng giám sát. Cần dự liệu trước những tình huống, vấn đề cần đi sâu, làm rõ (có thể xây dựng nội dung chi tiết); có phương pháp, hình thức giám sát khoa học và phù hợp, đặc biệt là việc tổ chức Đoàn giám sát phải có sự tham gia của những thành viên am hiểu sâu về lĩnh vực cần xem xét, giúp Đoàn xác định chính xác những nội dung cần kiến nghị. Kết luận giám sát phải khách quan: khen đúng, chê đúng và quan trọng là chỉ ra được những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện các nghị quyết, chính sách, pháp luật; đề xuất hướng giải quyết khả thi, kiến nghị cơ quan chức năng có giải pháp khắc phục kịp thời.
Hiệu quả của hoạt động giám sát phụ thuộc vào việc thực hiện kiến nghị của các ngành hữu quan. Do đó, việc theo dõi thực hiện các kiến nghị là sự tiếp tục của hoạt động giám sát, nhất là trong những trường hợp giữa chủ thể và đối tượng chịu sự giám sát còn ý kiến khác nhau trong việc khắc phục hạn chế, thiếu sót và xử lý trách nhiệm của đơn vị chịu sự giám sát. Chủ thể giám sát phải chịu trách nhiệm về kết quả giám sát, để tiếp tục theo dõi đến nơi, đến chốn khâu tiếp thu, xử lý các kiến nghị của các cơ quan hữu quan. Nếu cơ quan nhà nước không chịu sửa sai, không thực hiện các kiến nghị sau giám sát cần giải quyết theo hướng cao hơn, như ban hành nghị quyết về thực hiện các kiến nghị; sau đó giám sát thực hiện nghị quyết. Thực tế, đây là vấn đề mà lâu nay trong hoạt động giám sát HĐND chưa thực hiện đầy đủ, hết trách nhiệm của mình. Do vậy cần phải xây dựng hồ sơ giám sát, nhằm bảo đảm cập nhật thông tin thường xuyên cho các hoạt động tiếp theo.
Kinh nghiệm cho thấy, nên xây dựng chương trình giám sát vừa sức, chọn trúng những vấn đề trọng tâm đại biểu và cử tri quan tâm; đồng thời phân công trách nhiệm rõ ràng trong quá trình tổ chức giám sát; giám sát đến nơi đến chốn để đưa ra được những kiến nghị, giải pháp cần thiết.
Thứ ba, trong thực hiện chức năng giám sát, cần có sự phối hợp chặt chẽ với MTTQ và các thành viên của MTTQ, giữa hoạt động giám sát với công tác tiếp xúc cử tri… nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong hoạt động giám sát và thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, nghị quyết của HĐND.
Thứ tư, tăng cường công tác thông tin về hoạt động giám sát của HĐND, vừa đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vừa tạo áp lực từ dư luận xã hội đối với việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát.
Thứ năm, phát huy vai trò của Thường trực HĐND trong việc điều hòa, phối hợp hoạt động của các ban, đại biểu HĐND trong giám sát. Thực tiễn cho thấy: ở đâu Thường trực HĐND chủ động làm tốt vai trò điều hòa phối hợp hoạt động của các ban, đại biểu HĐND thì ở đó hoạt động của HĐND phát huy hiệu quả tốt hơn.
Như vậy, để HĐND khóa mới nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, nhất là trong giám sát, phải có những điều kiện cần và đủ như trên.
Nguyễn Thị Nhàn

Friday, July 1, 2011

30/06 HĐND tạo đột phá từ lời hứa của ứng cử viên


07:05 | 30/06/2011
Sau kỳ họp thứ nhất, các chức danh của HĐND đã được củng cố, ổn định và đi vào hoạt động. Đối với những chính khách mới bước vào cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, phải làm gì, làm như thế nào… là những trăn trở, thôi thúc hiện hữu. Nên chăng, từ những lời hứa của các ứng cử viên trong quá trình vận động bầu cử, HĐND xây dựng chương trình hoạt động, đưa những tâm tư, nguyện vọng của cử tri vào nội dung giám sát của Thường trực và các ban HĐND…
Bầu cử đại biểu HĐND đã thành công tốt đẹp, Kỳ họp thứ Nhất của HĐND cũng vừa kết thúc, mọi người như nhẹ nhõm, an nhàn hơn. Các chức danh của HĐND đến vị trí làm việc - những chủ nhân mới hơi ngỡ ngàng lạ lẫm. Phòng ốc của người tiền nhiệm khá rộng, tủ đựng đầy tài liệu và sách pháp luật, dù mới để lại thôi, nhưng như đã lâu ngày thiếu hơi người vào ra... Có lẽ phải xoay lại hướng bàn ghế ngồi làm việc, cho mua bộ ấm chén tiếp khách mới, thay đổi rèm che cửa cho ấm áp... Cao và sang trọng hơn nữa, muốn cải tạo phòng làm việc, sắm sửa thêm nội thất, đề nghị thay xe mới và tài xế, thay đổi vài nhân sự của cơ quan tham mưu giúp việc... Tất cả những điều đó có lẽ chưa cần thiết và cũng không nên! Vì trong quá trình tiếp xúc cử tri vận động bầu cử, không có người “trao quyền” nào mong muốn và yêu cầu như thế cả. Vả lại, chúng ta đã hơn một lần hứa hẹn: chống lãng phí, thực hành tiết kiệm, đẩy lùi lạm phát, phòng chống tham những...
Cũng như nhiều lãnh đạo khác, đại biểu HĐND phải tiếp tục và thường xuyên học tập, nghiên cứu chủ trương, chính sách, pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ... Các chức danh của HĐND hơn ai hết cần nghiên cứu kỹ luật pháp, cần thiết cho công việc trước mắt như: Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Quy chế hoạt động của HĐND các cấp năm 2005, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004. Rồi, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Cán bộ, công chức... Xem thêm Quy chế của HĐND địa phương mình, Quy chế của Thường trực HĐND với các cơ quan hữu quan, Quy chế nội bộ cơ quan... để vừa thực hiện vừa hình thành ý tưởng tham gia xây dựng lại các quy định mới theo thẩm quyền cho phù hợp với những quy định chung. Cũng cần phải đọc lại Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và nhiều văn bản khác, chuẩn bị hành trang để tham dự hội họp thường xuyên. Tại các hội nghị, không thể phát biểu chung chung hoặc ngồi lặng im mãi, đừng để mất vị thế của HĐND ngay những ngày mới nhập cuộc. Đúng, nếu không biết thì không có việc để làm, mà biết lại làm không hết việc.
Càng nghiên cứu kỹ luật và những quy định liên quan, càng thấy HĐND có nhiều chức năng, nhiệm vụ. Điều đó được khẳng định từ vị trí của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, vai trò đại diện của cơ quan dân cử và xuất phát từ thực tế hoạt động của HĐND qua hàng chục nhiệm kỳ. Với tư cách là cơ quan được cử tri và nhân dân ủy quyền, quyền lực vẫn thuộc về người dân. Hoạt động của HĐND trước hết phải bắt nguồn từ ý chí và nguyện vọng của cử tri, phục vụ lợi ích của nhân dân. Đại biểu HĐND không thể quên trong quá trình tiếp xúc cử tri vận động bầu cử vừa qua, chúng ta đã đến rất nhiều nơi, được trình bày chương trình hành động, kế hoạch công tác trước nhân dân; hơn nữa, được nghe rất nhiều kiến nghị, đề xuất của bà con… Những cán bộ lãnh đạo ở địa phương đã thay mặt ứng cử viên hứa trước cử tri, trước đồng bào rất mạnh mẽ, rất rõ ràng và tâm huyết. Bây giờ nên biến những lời hứa đó thành kế hoạch, chương trình công tác của HĐND. Và, ai đã hứa với cử tri những gì thì ghi tạc vào lòng để thực hiện trong suốt 5 năm hoạt động. Ý kiến đề nghị của cử tri cũng đã được UBMTTQVN tổng hợp đầy đủ và báo cáo với HĐND tại Kỳ hợp thứ Nhất, Thường trực và các ban của HĐND cần nghiên cứu kỹ, phân loại cụ thể báo cáo tổng hợp ý kiến cử tri trong tiếp xúc vận động bầu cử của từng ứng cử viên để xem xét, đưa vào chương trình công tác và nội dung hoạt động giám sát của HĐND - Đó là hành động thiết thực đầu tiên đối với những người đã tin tưởng, trao cho đại biểu của dân quyền hạn chính trị cao nhất.
Chương trình giám sát của HĐND, nhất là những nội dung giám sát thường xuyên năm 2011 đã được HĐND khóa trước thông qua tại kỳ họp cuối năm 2010. Vì vậy, chúng ta không thể đưa được nhiều kiến nghị, đề xuất của cử tri vào nội dung chương trình giám sát của năm nay được, mà cần phải kết hợp bố trí dần trong nhiều năm sau. Trước mắt, cần chọn một vài vấn đề thực sự nổi cộm, bức xúc nhất của nhiều cử tri, như: môi trường bị ô nhiễm, công tác khám chữa bệnh... để bổ sung vào nội dung chương trình giám sát. Cần sắp xếp kế hoạch, bố trí thời gian để Thường trực hoặc các ban của HĐND tổ chức giám sát một chuyên đề theo kiến nghị của cử tri, trong quá trình các ứng cử viên vận động bầu cử. Đây là nội dung mới và có ý nghĩa quan trọng của chương trình giám sát đầu nhiệm kỳ nên còn thiếu kinh nghiệm, rất bỡ ngỡ và nhiều khó khăn. Vạn sự khởi đầu nan nhưng khi đã làm thì phải làm thật tốt để tạo được ấn tượng ngay từ đầu. Để cuộc giám sát có hiệu quả, cần có kế hoạch thật chu đáo, huy động lực lượng có kỹ năng và nghiệp vụ, nhất là những người có kinh nghiệm; tổ chức khoa học, bài bản, làm việc nghiêm túc, tích cực. Đặc biệt, kết quả giám sát cần tổng hợp đầy đủ và phải được trực tiếp trình bày tại kỳ họp cuối năm để đại biểu HĐND xem xét, thảo luận, chất vấn, tạo sự đột phá ngay bước đầu thực hiện chức năng giám sát của HĐND.
Mở đầu một nhiệm kỳ mới, bao nhiêu việc phải làm, bao nhiêu điều phải giải quyết để đáp ứng được những kỳ vọng chính đáng của cử tri. Thường trực và các ban của HĐND cần phải nghiên cứu kỹ, học hỏi nhiều để nhanh chóng trở thành nòng cốt, khởi xướng và tạo động lực cho mọi hoạt động của HĐND. Đó là thực hiện trách nhiệm chính trị lớn lao mà chúng ta đã hứa trước cử tri và nhân dân.
Trần Quảng

Wednesday, June 29, 2011

28/06 Đại biểu Quốc hội cần có tâm thật sáng...


07:00 | 28/06/2011
Nếu thực sự vì lợi ích chung của người dân thì đại biểu sẽ có đủ sự tinh tường để xác định được cái gì cần ưu tiên số 1, cái gì là ưu tiên số 2, cái gì thật sự cấp bách... Cái tâm thật trong sáng thì chắc chắn đại biểu sẽ được ủng hộ. PHÓ CHỦ TỊCH HỘI HOÁ HỌC VIỆT NAM BÙI THỊ AN, một trong 500 người trúng cử ĐBQH Khóa XIII đã chia sẻ với PV Báo ĐBND như thế và cũng cho rằng, đã là đại biểu của dân thì trong bất cứ trường hợp nào cũng phải hành xử đúng với vai trò, trách nhiệm của một người đại diện cho dân.
- Kỳ họp thứ Nhất, QH Khóa XIII đang đến rất gần. Sau khi thẩm tra tư cách đại biểu, các ĐBQH Khóa XIII sẽ chính thức thực hiện nhiệm vụ của mình. Tâm trạng của chị bây giờ như thế nào?
Tôi đang rất hồi hộp chờ đón Kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ QH Khóa XIII, vì đây là nhiệm kỳ đầu tiên tôi tham gia QH. Khi biết tin trúng cử ĐBQH Khóa XIII, là đại diện của giới trí thức Thủ đô tại QH tôi thực sự rất vui mừng. Nhưng cũng thấy ngay trách nhiệm của mình trong 5 năm tới đây rất lớn vì cuộc sống đang bề bộn nhiều vấn đề, mà không phải vấn đề nào cũng có thể giải quyết được trong ngày một, ngày hai. Tôi ý thức rằng, là ĐBQH thành phố Hà Nội, tôi không chỉ đại diện cho tiếng nói của cử tri Thủ đô, giới trí thức Thủ đô mà còn có trách nhiệm đại diện cho tiếng nói của cử tri cả nước. Lựa chọn vấn đề gì để đóng góp ý kiến với QH để giải quyết những mong muốn, nguyện vọng của cử tri Hà Nội và cử tri cả nước là vấn đề mà ngay từ bây giờ tôi đã giành thời gian suy nghĩ, nghiên cứu.
- Trong hình dung của một Tiến sỹ hóa học, chị thấy QH như thế nào?
Trước khi làm đại biểu HĐND, nói thực là tôi cũng ít quan tâm đến hoạt động của QH, cũng hình dung về QH giống như nhiều người là, QH là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao, cơ quan đại diện cho nhân dân cả nước, là nơi duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước... Sau 7 năm làm đại biểu dân cử, tôi nghĩ, QH có thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, trình độ, trí tuệ, bản lĩnh của từng ĐBQH và các cơ quan của QH.
- Từng là đại biểu HĐND thành phố Hà Nội, khi ứng cử ĐBQH, chị đã thuyết phục cử tri Thủ đô như thế nào?
Tôi có may mắn là đã được cử tri biết đến với vai trò là một đại biểu HĐND thành phố, đã có cuộc sống thực và những việc làm thực được người dân Thủ đô ghi nhận. Vì thế, tôi thuyết phục cử tri bằng những kinh nghiệm thực tiễn đã tích lũy được và bằng những việc làm cụ thể trong 7 năm làm đại biểu HĐND thành phố của mình. Chương trình hành động của tôi rất ngắn gọn. Tôi hứa dành thời gian để lắng nghe dân nói bằng nhiều hình thức, có thể là gặp gỡ trực tiếp, tiếp dân tại nơi làm việc, tại nhà, lắng nghe ý kiến của dân qua thư, email, điện thoại... Trên cơ sở đó, phân loại các ý kiến, giành thời gian đi khảo sát thực tế và đối chiếu với luật pháp, cái gì luật pháp đã quy định sẽ kiến nghị cơ quan chức năng giải quyết, cái gì chưa được luật pháp quy định sẽ tiếp tục nghiên cứu để đề xuất sửa đổi hoặc ban hành chính sách mới. Tôi nghĩ, với tư cách một đại biểu của dân thì quan trọng nhất vẫn là góp phần tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thuận tiện cho sinh hoạt và đời sống của người dân. Mọi việc làm của đại biểu, từ lắng nghe, phân loại, khảo sát thực tế đến kiến nghị chính sách cũng đều vì mục tiêu thuận tiện cho người dân, mang lại lợi ích chung cho đông đảo người dân. Tôi nghĩ đó cũng chính là mang lại lợi ích chung cho đất nước.
- Vậy chị đã chuẩn bị cho mình hành trang như thế nào để thực hiện được những điều đã hứa với dân?
Tôi đã có kinh nghiệm thực tế trong việc thực hiện nhiệm vụ của một đại biểu dân cử. Tuy nhiên, tầm vóc của QH rất khác so với HĐND thành phố. ĐBQH nói gì, làm gì ở diễn đàn của QH đều phải hết sức thận trọng, phải nghiên cứu và quyết định trên cơ sở thực sự thấu hiểu vấn đề đó mang lại lợi ích như thế nào cho người dân. Tôi là đại biểu của giới khoa học, không am hiểu nhiều về các quy trình hoạch định chính sách, hệ thống pháp luật hiện hành nên chắc chắn sẽ phải học hỏi thêm rất nhiều về luật pháp, về kinh tế, xã hội... Có kiến thức, có hiểu biết thì mới có thể tự tin thảo luận, tranh luận về những vấn đề mà QH xem xét, quyết định.
- Chị thấy làm đại biểu dân cử như thế nào?
Rất thú vị!
- Có vất vả và áp lực không?
Vất vả thì cũng có. Nhưng áp lực thì không. Những vấn đề tôi nêu ý kiến, đóng góp với HĐND thành phố, với chính quyền thành phố đều đã được người dân thủ đô ghi nhận và được các cơ quan có liên quan chấp nhận. Có lẽ vì thế mà tôi không thấy có áp lực gì chăng?
- Vậy theo chị, điều cần nhất đối với một người đại biểu dân cử là gì?
Điều cần nhất là trong bất cứ trường hợp nào cũng phải hành xử đúng với vai trò, trách nhiệm của một người đại diện cho dân. Nếu luôn xác định được mình đứng ở đâu, đại diện cho ai, vì lợi ích của ai thì người đại biểu dân cử dù hoạt động chuyên trách hay kiêm nhiệm cũng sẽ luôn có thời gian để lắng nghe dân nói, sẽ có thời gian để khảo sát, nghiên cứu và đề xuất được những giải pháp đáp ứng mong muốn của cử tri; sẽ bản lĩnh, sẽ không thấy ngần ngại, cân nhắc, đắn đo trong những tình huống cần thiết phải va chạm, thậm chí là hy sinh lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cục bộ của địa phương, của một nhóm người nào đó cho lợi ích chung.
- Lâu nay khi nói về mối quan hệ giữa đại biểu dân cử và cử tri, có ý kiến cho rằng, đại biểu dân cử chưa có động lực gắn bó với cử tri, còn cử tri lại chưa có cơ chế cụ thể để giám sát hoạt động của đại biểu. Chị thấy như thế nào?
Sao có thể nói đại biểu dân cử không có động lực để gắn bó với dân được? Tôi nghĩ cần nói cho rõ động lực của người đại biểu dân cử là gì? Là chức vị, quyền lực, là lợi ích cá nhân hay là lá phiếu của cử tri để có thể tái cử ở nhiệm kỳ sau? Nếu là tất cả những điều đó thì với cơ chế hiện nay đúng là đại biểu không thực sự có động lực để gắn bó với dân. Nhưng đã là đại biểu dân cử, đã được người dân lựa chọn và ủy quyền đại diện cho dân thì việc gắn bó với người dân, lắng nghe dân nói và giúp dân giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn cuộc sống phải được xem là trách nhiệm sống còn. Đó là đạo đức, là tư cách, phẩm giá của một con người. Với tôi, đó còn là lòng tự trọng của một trí thức. Người dân có bỏ phiếu cho mình thì mình mới có thể trở thành đại biểu. Nếu đại biểu của dân mà không gắn bó với dân thì dân cần đến người đại diện để làm gì? Chúng ta hay nói về động lực mang tính cá nhân nhưng tôi nghĩ động lực quan trọng nhất của một người đại biểu dân cử chính là lòng tự trọng của một con người.
- Có ý kiến cho rằng, thách thức lớn của một ĐBQH là làm thế nào để cân bằng giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, giữa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia. Khi còn là đại biểu HĐND thành phố Hà Nội, chị đã khi nào phải cân nhắc vấn đề này chưa?
Tôi nghĩ cân bằng giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích địa phương trên diễn đàn của QH chắc không dễ dàng gì. 7 năm làm đại biểu HĐND thành phố Hà Nội, nói thật, tôi chưa từng nghĩ đến vấn đề này. Có thể ở phạm vi hẹp hơn trong một địa phương thì tính chất vùng, miền, địa bàn này địa bàn kia không rõ nét như ở diễn đàn của QH nên đại biểu HĐND cũng không mấy khi phải băn khoăn về việc mình cần bảo vệ lợi ích của quận, huyện mình ứng cử hay lợi ích của thành phố. Nhưng nói đó là thách thức của ĐBQH có lẽ cũng chưa hẳn đã chính xác. Có thể, trong 5 năm tới, trong quá trình hoạt động ĐBQH, tôi cũng sẽ có những lúc phải lựa chọn giữa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, tôi nghĩ chỉ cần tâm mình trong sáng thì việc cân bằng lợi ích đó chắc cũng không quá khó khăn. Nếu thực sự vì lợi ích chung của đa số quần chúng nhân dân thì tôi tin sẽ có đủ sự tinh tường để xác định được cái gì cần ưu tiên số 1, cái gì là ưu tiên số 2, cái gì thật cần thiết, cái gì cấp bách hơn... Nếu khách quan, thật tâm trong sáng thì quyết định của mình chắc chắn sẽ được mọi người ủng hộ.
- Đại biểu HĐND TP Hà Nội Bùi Thị An được biết đến như một “cây chất vấn”, một đại biểu hay cãi, gai góc và thẳng thắn… Vậy một ĐBQH Bùi Thị An thì sẽ như thế nào?
(Cười) Dù là đại biểu HĐND hay là ĐBQH thì tôi vẫn là Bùi Thị An, vẫn là người hay cãi và cãi thẳng như thế thôi, dù vẫn biết là hay cãi quá, thẳng quá nhiều khi cũng khó nghe... 7 năm qua, tôi chất vấn nhiều, cũng có lúc gai góc, có lúc khó nghe nhưng sau đó chưa thấy ai phàn nàn hay nhắc nhở gì mà ngược lại, các anh bên UBND thành phố còn rất quý tôi nữa. Có lẽ đó cũng là động lực khiến tôi không phải e ngại gì mỗi khi chất vấn các anh bên UBND TP Hà Nội.
- Nhìn vào danh sách trúng cử ĐBQH Khóa XIII, nhiều người tin tưởng rằng, QH Khóa XIII sẽ là QH của những trí thức. Cá nhân chị, đại diện cho giới trí thức Thủ đô tại QH, chị mong muốn điều gì ở QH Khóa XIII?
Tôi nghĩ trình độ học vấn cao là điều rất cần thiết đối với các ĐBQH. Trình độ, trí tuệ càng cao thì càng có khả năng nắm bắt, xử lý thông tin và giải quyết vấn đề tốt hơn. Tuy nhiên, hoạt động của cơ quan dân cử, cơ quan quyền lực nhà nước mang tính thực tiễn rất lớn, cá nhân mỗi ĐBQH phải tự trau dồi kinh nghiệm, lắng nghe dân để chuyển tải được thực tiễn cuộc sống đến với nghị trường QH. Mong muốn của trí thức Thủ đô và cũng là mong muốn của giới trí thức cả nước là được cống hiến, được đóng góp sức lực, trí tuệ của mình cho đất nước và sự đóng góp đó phải mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần thúc đẩy sự phát triển KT-XH của đất nước. Vì thế, tôi mong QH Khóa XIII sẽ có cơ chế để tận dụng được tối đa chất xám của đội ngũ trí thức hiện nay, tạo cho họ động lực và niềm phấn chấn được góp sức cho sự phát triển của đất nước. Tôi hy vọng nhiệm kỳ QH Khóa XIII cũng sẽ đạt được những thành tựu rực rỡ hơn QH Khóa XII. Tất nhiên, điều này đòi hỏi sự phấn đấu rất lớn của ĐBQH và các cơ quan của QH.
- Xin cám ơn sự chia sẻ của chị và chúc chị sẽ làm được những điều chị đã hứa với người dân!
B.Long thực hiện

Monday, June 27, 2011

26/06 Tiếp tục nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát tối cao của QH trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

07:20 | 26/06/2011
Để nâng cao chất lượng của hoạt động giám sát của QH, theo kinh nghiệm của các nước còn cần phải có các phương tiện trợ giúp như kiểm toán nhà nước, cung cấp thông tin, phân tích chính sách, các phương tiện thông tin đại chúng… Ở nước ta khi mà cơ cấu tổ chức và năng lực của các cơ quan của QH và ĐBQH chưa đủ mạnh thì việc tăng cường các phương tiện trợ giúp cho hoạt động giám sát càng có vai trò đặc biệt quan trọng. Những vấn đề này cũng cần được luật hóa.
1. QH Khóa XII đã kết thúc, QH Khóa XIII sắp họp kỳ thứ nhất, nhìn lại QH nước ta trong thời kỳ đổi mới đặc biệt là các khóa QH gần đây, có thể khẳng định rằng hoạt động giám sát của QH ngày càng thực chất, xứng đáng với vị trí và vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Sự phát triển về chất trong hoạt động giám sát tối cao của QH thể hiện rõ nét trên một số phương diện sau đây:
Một là, hoạt động giám sát tối cao của QH từ chỗ chỉ dựa trên tinh thần và nội dung của Hiến pháp và Luật Tổ chức QH với những quy định chung, chưa cụ thể đến chỗ hoạt động căn cứ vào một đạo luật về hoạt động giám sát với những quy định chi tiết, chặt chẽ từ việc xây dựng chương trình kế hoạch giám sát 6 tháng, hàng năm đến các quy định về chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và cách thức giám sát… Nhờ đó mà hoạt động giám sát tiến hành thường xuyên, có nền nếp, có trọng tâm trọng điểm, phản ảnh được những vấn đề nóng bỏng, bức xúc, đang được nhân dân quan tâm (như những vấn đề xây dựng cơ bản, công trình trọng điểm quốc gia, hiệu quả đầu tư; quản lý các tập đoàn, các doanh nghiệp nhà nước; chất lượng giáo dục, an toàn vệ sinh thực phẩm mà QH Khóa XII đã thực hiện…). Thông qua việc thực hiện các hoạt động giám sát đó, nhiều tiêu cực tham nhũng, lãng phí được phát hiện, đã rung lên những hồi chuông cảnh báo xác thực nhằm kịp thời uốn nắn những sai trái trong tổ chức thực hiện. Vì thế, giám sát tối cao của QH đã trở thành một phương tiện không thể thiếu được trong việc phòng chống tiêu cực; tham nhũng của bộ máy nhà nước, đã góp phần xây dựng lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước.
Hai là, hoạt động giám sát tối cao của QH được tiến hành trong không khí ngày càng dân chủ, cởi mở và trách nhiệm. Nhờ đó mà đại biểu thực hiện quyền chất vấn ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt và quyết tâm đi đến cùng vấn đề mình đặt ra. Người có nghĩa vụ trả lời chất vấn đã có ý thức hơn trong việc nâng cao năng lực và trách nhiệm trước nhân dân và trước đại biểu. Vì thế, dân chủ trong hoạt động giám sát tối cao của QH đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước tại kỳ họp đã trở thành một điều kiện tiên quyết, một trường học dân chủ, một phương tiện hữu hiệu để nhân dân thông qua người đại biểu của mình kiểm soát quyền lực nhà nước đối với những người đứng đầu bộ máy nhà nước, nhất là bộ máy hành pháp (Chính phủ).
Ba là, hoạt động giám sát tối cao của QH được tiến hành dựa trên trình độ, năng lực, bản lĩnh của ĐBQH ngày càng được nâng cao. Nhờ đó mà chất lượng của các hoạt động giám sát tối cao của QH tại kỳ họp, cũng ngày càng được tăng thêm một cách rõ rệt, các phân tích lập luận của nhiều ĐBQH rất sắc sảo, có sức thuyết phục, các đề xuất kiến nghị có tình có lý, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Vì thế, chất lượng của ĐBQH nhất là kỹ năng và bản lĩnh là nhân tố có ý nghĩa quyết định góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động giám sát tối cao của QH.
2. Trước nhiệm vụ xây dựng một QH, thực thi đầy đủ, đứng đắn nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo Luật định trong đó có các nhiệm vụ và quyền hạn về giám sát tối cao, nhằm tiếp tục nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát, dư luận xã hội mong muốn QH Khóa XIII cũng như các đối tuợng chịu sự giám sát của QH cần phải khắc phục một số hạn chế sau đây:
Thứ nhất là vấn đề nhận thức. Nguyên nhân cơ bản của hiệu lực và hiệu quả giám sát tối cao chưa cao, chưa được như mong muốn trước hết là do nhận thức chưa đầy đủ, chưa thống nhất về vai trò của hoạt động giám sát tối cao. Các quan niệm nhấn mạnh một chiều, tính thống nhất của quyền lực nhà nước rằng các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều có mục đích chính trị chung là phục vụ nhân dân, xây dựng một nhà nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh, đều dưới sự lãnh đạo của một Đảng. Do đó, vấn đề cơ bản và mấu chốt trong tổ chức quyền lực nhà nước là hợp tác và phối hợp, tạo điều kiện cho nhau làm tốt nhiệm vụ và quyền hạn của mình, chứ không phải là vạch lá tìm sâu, là cản trở gây khó khăn cho nhau trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước; rằng chỉ cần hành pháp mạnh, lập pháp và tư pháp phải có nghĩa vụ ủng hộ hành pháp, chứ không nên gây khó khăn cản trở hành pháp. Với các quan niệm như thế làm cho hoạt động giám sát còn có những biểu hiện dễ dãi, chưa đi đến cùng vấn đề trách nhiệm thuộc về ai. Cùng với quan điểm đó là các lập luận rằng chỉ trong nhà nước có nhiều Đảng phái mới cần đến giám sát, mới đề cao vai trò của giám sát và mới có điều kiện để thực hiện quyền giám sát một cách có hiệu lực và hiệu quả. Tất cả các quan niệm đó đều không phù hợp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của dân, do dân và vì dân. Bởi vì trong nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Giám sát tối cao của QH là một phương thức để cho nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua các đại biểu do mình bầu ra, để nhân dân giao quyền mà không bị mất quyền, lạm quyền. Thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền của các nước chỉ ra rằng sức mạnh và sự thịnh vượng của một quốc gia, cũng như khả năng đối mặt với những khó khăn thách thức, phần lớn được quyết định bởi sự vững mạnh của cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sự cam kết làm đúng, làm đủ nhiệm vụ và quyền hạn được nhân dân giao cho mỗi quyền là nhân tố góp phần làm cho đất nước giàu mạnh. Nó không kém phần quan trọng so với các yếu tố về tài nguyên, khí hậu, vị trí địa lý và con người. Những nước duy trì được sự phát triển ổn định lâu dài về kinh tế, chính trị, xã hội chính là những nước có cả ba quyền đều mạnh. Để làm được điều đó, cần phải kiểm soát được quyền lực nhà nước, nhất là quyền lực nhà nước về hành pháp. Giám sát nói chung, giám sát tối cao của QH nói riêng là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước, góp phần xây dựng cả ba quyền đều mạnh, bảo đảm cho các quyền làm đúng làm đủ nhiệm vụ và quyền hạn được nhân dân giao phó. Do đó, những quan điểm không đầy đủ, không đúng đắn về vai trò của giám sát tối cao của QH là không làm cho cả ba quyền đều mạnh, là trái với đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của Đảng ta. Không thể có một Chính phủ mạnh khi tồn tại một QH hoạt động hình thức. Hoặc ngược lại không thể có một QH hoạt động thực chất thì làm cho Chính phủ yếu. Chúng ta cần cả lập pháp, hành pháp và tư pháp đều phải mạnh, đều là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và bảo đảm cho nhân dân kiểm soát được quyền lực nhà nước.
Thứ hai, là nâng cao chất lượng của các kiến nghị giám sát. Hiệu lực và hiệu quả của giám sát suy cho cùng là đưa ra được các kiến nghị mang lại sự thay đổi tích cực trong thực tế, phù hợp với mục đích giám sát, đáp ứng mong mỏi của nhân dân và dư luận xã hội. Điều đó đòi hỏi các cuộc giám sát tối cao của QH phải tiến hành công phu, phải được thực hiện cơ bản và chủ yếu ở các Ủy ban và Hội đồng dân tộc. Khắc phục tình trạng giám sát hình thức với các kiến nghị chung chung mang tính định hướng thiếu cụ thể. Đó còn là đòi hỏi phải nâng cao năng lực giám sát của các chủ thể giám sát, đặc biệt là ĐBQH về bản lĩnh, về thu thập và xử lý thông tin, về ý chí và quyết tâm theo đuổi đến cùng việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát.
Thứ ba là khắc phục tình trạng giám sát dàn trải theo chiều rộng mà thiếu chiều sâu. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng các hoạt động giám sát theo chuyên đề với các chủ đề giám sát cụ thể, thiết thực. Kinh nghiệm thực tế của nhiều nước chỉ ra rằng giám sát hoạt động của Chính phủ và các bộ, trước hết và chủ yếu là giám sát hiệu quả của việc sử dụng ngân sách nhà nước được Nghị viện phân bổ. Bởi hiệu quả của việc sử dụng ngân sách quốc gia có tác động mạnh mẽ đến các hoạt động khác của nhà nước. Suy cho cùng, mọi hoạt động của nhà nước đều dựa trên ngân sách quốc gia do nhân dân đóng góp. Các hoạt động của nhà nước tốt hay xấu đều bắt nguồn từ việc sử dụng ngân sách của Chính phủ và các bộ có hiệu quả hay không? QH quyết định phân bổ ngân sách quốc gia thì QH phải kiểm soát được hiệu quả của việc sử dụng ngân sách. Nên chăng trong thời gian tới cần tập trung giám sát chuyên đề hiệu quả của việc sử dụng ngân sách quốc gia của Chính phủ và các bộ. Việc xác định khách thể của giám sát tối cao tập trung vào hiệu quả sử dụng ngân sách của Chính phủ làm cho hoạt động giám sát đi vào chiều sâu, tránh được dàn trải, hạn chế được các biểu hiện tiêu cực tham nhũng trong bộ máy nhà nước góp phần làm yên lòng dân.
Thứ tư là tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, tăng cường các phương tiện trợ giúp cho hoạt động giám sát như cung cấp thông tin, kiểm toán nhà nước…
Luật Hoạt động giám sát của QH cũng đã bộc lộ một số hạn chế cần được hoàn thiện bổ sung thêm. Ví dụ như vấn đề quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể giám sát, đối tượng chịu sự giám sát, đặc biệt là trách nhiệm thực hiện kiến nghị giám sát còn quy định thiếu cụ thể. Quy trình thủ tục giám sát còn chung chung, ĐBQH không có cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện quyền của mình (như vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm). Chế tài giám sát cũng cần được quy định rõ ràng minh bạch hơn nhằm tạo điệu kiện thuận lợi cho việc áp dụng.
Trước mắt đề nghị QH Khóa XIII sửa đổi, bổ sung Luật Hoạt động giám sát của QH ở một số điểm cơ bản sau đây:
Làm rõ đối tượng giám sát tối cao của QH là cơ quan và cá nhân nào? Bởi hiện nay còn có các ý kiến khác nhau, nhận thức chưa thống nhất. Có ý kiến cho rằng, QH là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nên đối tượng giám sát tối cao của QH là toàn bộ các cơ quan và cá nhân trong  bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Ngược lại, có ý kiến cho rằng, QH là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất không có nghĩa QH có toàn quyền. Do đó, việc giám sát tối cao ở cấp nào, với nội dung gì do QH quyết định phù hợp với nguyên tắc Hiến định và các đạo Luật về tổ chức bộ máy nhà nước hiện hành. Việc quy định rõ ràng minh bạch đối tượng giám sát tối cao của QH trong Luật hoạt động giám sát có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng. Bởi nếu theo quan điểm thứ nhất sẽ dẫn đến việc xác định nội dung và phạm vi giám sát tối cao là rất rộng bao gồm các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền từ Trung ương cho đến cơ sở. Với tổ chức bộ máy của QH như hiện nay liệu giám sát có hiệu quả hay không? Ngược lại, quan điểm thứ hai lại cho rằng, phạm vi và nội dung của giám sát tối cao chỉ chủ yếu tập trung vào cơ quan và cá nhân có thẩm quyền do QH thành lập, bầu và phê chuẩn. Đối tượng này theo Hiến pháp và Luật hiện hành chưa phân công cho cơ quan nào giám sát cả. QH tập trung giám sát các đối tượng này thì có hiệu lực và hiệu quả hơn, vừa phù hợp với tổ chức đại biểu không hoàn toàn chuyên trách, lại vừa không trùng lắp với chức năng nhiệm vụ giám sát của HĐND các cấp.
Chất vấn là quyền của ĐBQH đối với Chủ tịch Nước, Chủ tịch QH, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (điều 98 Hiến pháp năm 1992 và điều 42 Luật Tổ chức QH). Quyền này được thực hiện trong thời gian QH họp hoặc trong thời gian giữa hai kỳ họp. Để chất vấn và trả lời chất vấn nâng cao được chất lượng và hiệu quả. Luật Hoạt động giám sát của QH cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và cụ thể hóa việc thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH và nghĩa vụ trả lời và thực hiện những lời hứa của người trả lời chất vấn. Ví dụ cần cụ thể hóa quyền xem xét việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn tại kỳ họp QH. Thông qua việc xem xét này mà QH đánh giá năng lực, trình độ và trách nhiệm của người trả lời chất vấn, thúc đẩy người trả lời chất vấn thực hiện tốt hơn những vấn đề ĐBQH đặt ra. Đồng thời, đây còn là tiền đề là căn cứ để các ĐBQH thể hiện các quyền khác như bỏ phiếu tín nhiệm, bầu cử, bãi nhiệm, miễn nhiệm.
Để nâng cao chất lượng của hoạt động giám sát của QH, theo kinh nghiệm của các nước còn cần phải có các phương tiện trợ giúp như kiểm toán nhà nước, cung cấp thông tin, phân tích chính sách, các phương tiện thông tin đại chúng… Ở nước ta khi mà cơ cấu tổ chức và năng lực của các cơ quan của QH và ĐBQH chưa đủ mạnh thì việc tăng cường các phương tiện trợ giúp cho hoạt động giám sát càng có vai trò đặc biệt quan trọng. Những vấn đề  này cũng cần được luật hóa.
Với không khí dân chủ nghị trường càng được mở rộng, năng lực và bản lĩnh giám sát của ĐBQH ngày càng cao. Chúng ta tin tưởng  hoạt động giám sát tối cao của QH Khóa XIII tiếp tục nâng cao hiệu lực và hiệu quả.
Gs. Ts Trần Ngọc Đường
Viện Nghiên cứu Lập pháp

Sunday, June 19, 2011

18/06 Sự đồng thuận trong hoạt động của HĐND

07:45 | 18/06/2011
Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có thẩm quyền quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương... Hiệu quả hoạt động của HĐND được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp HĐND. Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, HĐND ra nghị quyết. Là cơ quan quyền lực, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng, HĐND hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số. Với nguyên tắc hoạt động như vậy nên kỳ họp là hoạt động trung tâm và sự đồng thuận là yếu tố trọng tâm, quyết định chất lượng hoạt động của HĐND.
Hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số nên mỗi một kỳ họp HĐND là diễn đàn để các đại biểu trao đổi, thảo luận; các nghị quyết được thông qua là kết quả thảo luận và là sản phẩm của kỳ họp. Do đó, để sản phẩm có chất lượng đòi hỏi kỳ họp của HĐND phải khai thác, phát huy được trí tuệ tập thể. Đó là sự kết tinh của cả một quá trình thu nhận và xử lý thông tin từ thực tiễn, từ các báo cáo tại kỳ họp, từ việc tham vấn ý kiến của nhân dân trên cơ sở các căn cứ pháp lý và nền tảng lý luận chuyên ngành. Tất cả các yếu tố đó có được từ mỗi cá nhân đại biểu phải được sử dụng để trao đổi, thảo luận, cọ xát và sàng lọc các yếu tố hợp lý để đi đến sự đồng thuận. Sự đồng thuận đưa lại hiệu quả của các quyết sách là sự đồng thuận sau khi đã thảo luận để thông qua các nghị quyết chứ không phải đồng thuận ngay lúc khởi đầu. Nếu quan niệm rằng phải luôn hướng đến sự đồng thuận trong mọi thời điểm có khi sẽ làm triệt tiêu cơ hội thảo luận, do đó khó huy động được trí tuệ tập thể. Sự đồng thuận thể hiện qua sự nhất trí của các đại biểu khi biểu quyết thông qua các quyết sách tại kỳ họp, tuy nhiên tỷ lệ biểu quyết chưa hẳn là thước đo chính xác sự đồng thuận, chưa hẳn đã phản ánh đúng nhận thức và quan điểm của các đại biểu. Thực tế cho thấy, có không ít đại biểu khi thảo luận đã nêu ra được những điểm không hợp lý, những hạn chế của các dự thảo nghị quyết bằng những nhận định có căn cứ khoa học, nhưng sau đó vẫn biểu quyết thông qua cho dù ý kiến nêu ra không được tiếp thu. Vẫn tồn tại một thực tế, nhiều đại biểu thực hiện việc biểu quyết theo số đông, cụ thể là thấy nhiều người giơ tay thì giơ tay theo. Hình thức biểu quyết giơ taytruyền thống của HĐND ảnh hưởng đến tính độc lập của đại biểu trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương. Sự đồng thuận không đúng thực chất sẽ ảnh hưởng đến chất lượng các nghị quyết của HĐND. Việc biểu quyết nhất trí thông qua một dự thảo nghị quyết là biểu hiện của sự đồng thuận, tỷ lệ biểu quyết cao thể hiện sự đồng thuận cao và độ tin cậy về tính khả thi của các nghị quyết càng cao. Ngược lại, việc một dự thảo nghị quyết không được thông qua (biểu quyết không quá bán) cũng là một dạng biểu hiện của sự đồng thuận, đó là sự thống nhất nhận thấy việc ban hành nghị quyết không có căn cứ hoặc không cần thiết, hoặc là dự thảo nghị quyết còn nhiều khiếm khuyết mà không thể khắc phục ngay tại kỳ họp.
Điều cần trao đổi nữa là có đặt ra vấn đề về sự đồng thuận giữa HĐND và UBND hay không? Nhiều người cho rằng, trong mối quan hệ giữa HĐND và UBND cũng đòi hỏi cần có sự đồng thuận. Theo tôi quan niệm như vậy là chưa ổn. Sự đồng thuận chỉ đặt ra giữa những người, những cơ quan có thẩm quyền ngang nhau, bình đẳng trong việc quyết định, thực hiện một vấn đề nào đó, tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật thì UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, trong mọi trường hợp UBND phải chấp hành các ý kiến, quyết định của HĐND, vì vậy nếu đặt ra vấn đề về yếu tố đồng thuận giữa HĐND và UBND sẽ dẫn đến sự dễ dãi bỏ qua những điểm hạn chế trong các dự thảo nghị quyết cũng như trong việc triển khai thực hiện các nghị quyết của HĐND. Vấn đề quan trọng là ở chỗ các ý kiến của đại biểu HĐND phải có căn cứ, thuyết phục; các nghị quyết của HĐND phải có chất lượng, phù hợp với thực tế và có tính khả thi, tạo thuận lợi cho UBND triển khai thực hiện.
Lâu nay nhiều người vẫn quan niệm rằng, kỳ họp của HĐND thành công là khi kỳ họp diễn ra suôn sẻ, hoàn thành nội dung, chương trình nghị sự đặt ra. Chính vì quan niệm như vậy nên không ít đại biểu khi phát hiện những hạn chế, khiếm khuyết trong các dự thảo nghị quyết nhưng không mạnh dạn phát biểu, thảo luận vì sợ bị cho là xoi mói đối với UBND, sợ làm kéo dài thời gian, gây ảnh hưởng đến tiến độ của kỳ họp. Nếu xét một cách sâu xa, cặn kẽ thì quan niệm như vậy là chưa ổn. Bởi lẽ, cho dù hoàn thành chương trình kỳ họp nhưng những quyết sách thông qua tại kỳ họp chưa phù hợp, không đi vào cuộc sống thì đó là một sự lãng phí chứ không thể coi là thành công. Sự thành công của mỗi kỳ họp phải được đo bằng hiệu quả mang lại trong đời sống kinh tế - xã hội sau khi triển khai thực hiện các quyết sách đã được thông qua tại kỳ họp. Do đó, không phải cứ bằng mọi giá để cố thông qua bằng được các dự thảo nghị quyết trình tại kỳ họp khi mà vấn đề đưa ra quyết định chưa được xem xét, thảo luận ở độ chín muồi, khi mà dự thảo nghị quyết còn chứa đựng những khiếm khuyết chưa được chỉnh sửa.
Gần đây, tại các kỳ họp của Quốc hội, các đại biểu đã cương quyết không thông qua các dự án về phát triển kinh tế - xã hội, các dự thảo luật đang có nhiều ý kiến khác nhau do chuẩn bị chưa chu đáo, chưa phù hợp hoặc chưa cần thiết. Mong rằng, HĐND các cấp học được những kinh nghiệm quý từ các kỳ họp của Quốc hội để mỗi nghị quyết được thông qua là kết tinh của trí tuệ tập thể, là kết quả của sự đồng thuận trên cơ sở quan điểm, lập trường đúng đắn, khoa học.
Để có sự đồng thuận một cách đúng nghĩa góp phần nâng cao chất lượng trong việc quyết định các vấn đề trọng đại của địa phương đòi hỏi các đại biểu HĐND phải có trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm. Trong đó tinh thần trách nhiệm vừa là đòi hỏi cần thiết vừa là yếu tố tạo nền tảng cho việc tìm hiểu, học hỏi để nâng cao trình độ, năng lực của mỗi đại biểu dân cử.
Phạm Thái Quý

Thursday, June 2, 2011

01/06 Thông cáo phiên họp thứ 40 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XII

23:11 | 01/06/2011


Sáng 1/6, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp phiên thứ 40 tại Hà Nội dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng.


Tham dự phiên họp có Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; đại diện Thường trực Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức hữu quan.


1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nghe Hội đồng bầu cử báo cáo kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016.


Ngày 22/5 vừa qua, cử tri cả nước đã tích cực tham gia cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016, với tỷ lệ đi bầu rất cao, đạt 99,52%. Cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những thuận lợi và khó khăn đan xen, nhưng dưới sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện, kịp thời của Bộ Chính trị, các cấp ủy Đảng, chính quyền, MTTQ Việt Nam, sự tham gia tích cực của cử tri và nhân dân cả nước, các tổ chức phụ trách bầu cử, cuộc bầu cử đã thành công tốt đẹp, bảo đảm dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, thực sự là ngày hội lớn của toàn dân. Thông qua cuộc bầu cử, cử tri đã bầu được 500 đại biểu Quốc hội và 303.656 đại biểu HĐND các cấp. Kết quả bầu cử thể hiện truyền thống yêu nước, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và là tiền đề để tiếp tục xây dựng, củng cố, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong nhiệm kỳ mới.