Showing posts with label WTO. Show all posts
Showing posts with label WTO. Show all posts

Friday, March 30, 2012

Chuyên gia Mỹ đề cao 8 điểm của VN tham gia WTO


30/03/2012
Ông Sherman Katz, cố vấn cao cấp của Trung tâm
Nghiên cứu Tổng thống và Quốc hội.
(Ảnh: Đỗ Thúy/Vietnam+)
Chiều 29/3, tại Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở thủ đô Washington (Mỹ), ông Sherman Katz, cố vấn cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Tổng thống và Quốc hội, đã có bài thuyết trình trước các học giả và chuyên gia thương mại về việc Việt Nam vận dụng sự gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng như hội nhập thương mại quốc tế để phát triển mọi mặt của đất nước, coi đây là hình mẫu thành công cho nhiều quốc gia khác.

Với chủ đề “Các vận dụng tốt nhất việc gia nhập WTO của Việt Nam,” ông Sherman Katz nêu tám điểm tích cực mà Việt Nam đã chủ động thực hiện khi gia nhập WTO.

Friday, March 9, 2012

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới


(09/03/2012-04:05:00 PM)
(MPI Portal) - Nhằm góp phần đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (2007 – 2012) từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, sáng ngày 09/3, tại Hà Nội, Tạp chí Cộng sản phối hợp với Bộ Công Thương, Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế tổ chức hội thảo quốc gia “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO”.
PGS.TS Vũ Văn Phúc, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản (phải) và Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú tại Hội thảo. Ảnh: Phương Linh (MPI Portal)

Monday, December 26, 2011

Việt Nam và Trung Quốc qua cảm nhận của Đại sứ Mỹ


Tác giả: HUỲNH PHAN

Tuesday, December 13, 2011

13/12 Có hay không "vụ nổ BigBang" tại TTCK Việt Nam sau ngày 12/1/2012?

Thứ 3, 13/12/2011, 09:50 


Theo cam kết gia nhập WTO, từ 12/1/2012, Việt Nam sẽ cho phép CTCK và công ty quản lý quỹ 100% vốn nước ngoài được thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
Giới tài chính tỏ ra cực kỳ đồng thuận về việc không thể có một "vụ nổ BigBang" tại TTCK Việt Nam sau ngày 12/1/2012 (thời điểm TTCK Việt Nam hội nhập toàn diện WTO) như đã từng xảy ra cách đây 5 năm.

Wednesday, December 7, 2011

07/12 'VN đang tiến gần tới một nền kinh tế thị trường đầy đủ'


Thứ tư, 7/12/2011, 16:48 GMT+7

Một trong những thành công của Việt Nam sau 4 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là được nhiều thành viên hơn công nhận là nước có nền kinh tế thị trường đầy đủ.
FDI tăng vọt sau 3 năm Việt Nam gia nhập WTO

Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO (B-WTO) cho Việt Nam vừa tổ chức tổng kết công tác năm thứ nhất - Giai đoạn II. Một trong những cấu phần quan trọng của dự án do Chính phủ Anh và Australia tài trợ này là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường của Việt Nam.
Việt Nam đã được Nam Phi và Belarus công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ. Ảnh: L.C
Việt Nam đã được Nam Phi và Belarus công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ. Ảnh: L.C

Thursday, October 27, 2011

Ý kiến: Cải cách toàn diện để phát triển đất nước (2)



27 Tháng 10 2011 02:05

C. Việt Nam hiện nay: Thực trạng và nguyên nhân

Phân tích hiện trạng Việt Nam, chúng tôi thấy có quá nhiều vấn đề đang làm cho nền tảng xã hội bị lung lay, đất nước suy yếu. Hầu hết những vấn đề đó bắt nguồn từ thể chế và cơ chế.
1. Về kinh tế


Hiện nay trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam tuy hàng công nghiệp chiếm khoảng 60% nhưng chủ yếu vẫn là những ngành dùng nhiều lao động giản đơn. Thêm vào đó, sản xuất các mặt hàng này phải phụ thuộc vào nguyên liệu và sản phẩm trung gian nhập khẩu. Các loại máy móc, những sản phẩm có hàm lượng kỹ năng lao động cao chỉ chiếm khoảng 10% tổng xuất khẩu. Xuất khẩu của Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào nông sản, nguyên liệu. Từ năm 2002 nhập siêu của Việt Nam tăng nhanh và gần đây khuynh hướng này càng mạnh hơn. Nhập siêu quá lớn đang gây ra bất ổn vĩ mô.

Thursday, October 6, 2011

06/10 Lo thu ngân sách... “quá trớn”!

NGUYÊN THẢO
06/10/2011 14:50 (GMT+7)
pictureỦy ban Kinh tế đã đề nghị Chính phủ hạ tỷ lệ huy động vào ngân sách từ 25% GDP xuống không quá 24% GDP/năm, theo dự kiến tại kế hoạch 5 năm.
Theo phân tích của nhiều chuyên gia kinh tế và cả các cơ quan chuyên môn của Quốc hội, ngay từ bây giờ, việc tái cơ cấu thu chi ngân sách cần phải được làm quyết liệt, và bắt đầu từ giảm thu để giảm chi.

Sunday, August 21, 2011

21/08 Sáng tạo vượt khó là tinh thần chủ đạo của doanh nghiệp

07:24 | 21/08/2011
Trong bối cảnh khó khăn hiện nay, chủ động, sáng tạo vượt khó là tinh thần chủ đạo được doanh nghiệp nước ta vận dụng. Với phương châm tự cứu mình, nhiều doanh nghiệp hoặc tiếp tục kiên trì với chiến lược kinh doanh đã đề ra, hoặc chuyển đổi lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, không để đồng vốn chết, tiếp tục làm ra của cải vật chất cho xã hội, duy trì việc làm cho người lao động, đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Nguồn: dddn.vn
Hiện nay, khó khăn về vốn và thị trường đang ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn có những tin vui về sự phát triển của doanh nghiệp Việt trên thương trường. Trong đó, Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) tiếp tục được các tổ chức đánh giá là doanh nghiệp có uy tín do phát triển vững chắc trong thời gian qua. Trong cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, Vinamilk là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phù hợp, tiếp cận mọi đối tượng tiêu dùng trong nước. Doanh nghiệp cũng tham gia nhiều chương trình mang tính nhân văn, vì cộng đồng, như xây dựng Quỹ sữa vươn cao Việt Nam với mục tiêu nâng cao thể chất và trí lực cho thế hệ trẻ. Theo Giám đốc điều hành Nguyễn Quốc Khánh, Vinamilk đặt mục tiêu trở thành một trong 50 công ty hàng đầu thế giới trong ngành chế biến sữa; cung cấp tới người tiêu dùng những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao.
Khi nước ta mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, có nhiều dự đoán doanh nghiệp bán lẻ trong nước sẽ bị các đại gia phân phối nước ngoài chiếm lĩnh thị trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đối mặt với khó khăn, các doanh nghiệp phân phối trong nước đã vươn lên mạnh mẽ, cạnh tranh sòng phẳng, bình đẳng với doanh nghiệp nước ngoài trong thế yếu hơn về vốn, công nghệ và quản lý. Việc mở rộng hệ thống bán lẻ trên toàn quốc của Saigoncoop, Fivimart, Hapromart... đã chứng minh thực tế này. Giám đốc điều hành Tổng công ty Thương mại Hà Nội Mai Khuê Anh khẳng định, doanh nghiệp bán lẻ trong nước đã cạnh tranh tốt được với doanh nghiệp nước ngoài. Và để không bị thua trên sân nhà, doanh nghiệp bán lẻ trong nước tiếp tục nỗ lực để cạnh tranh được với những tập đoàn phân phối lớn trên thế giới có kế hoạch thâm nhập thị trường nước ta.  
Những ví dụ trên đây đều là doanh nghiệp mạnh, có thương hiệu, có thực lực và vượt khó tương đối thuận lợi. Còn đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh khó khăn, thậm chí phải giải thể, ngừng hoạt động. Nhưng thực tế cũng cho thấy, một số doanh nghiệp vẫn ăn nên làm ra bằng sự năng động, sáng tạo của mình. Ví dụ là trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khó khăn, đồ mỹ nghệ là thứ hàng hóa được ưu tiên cắt giảm trong mua sắm của các gia đình, kéo theo sự thu hẹp thị trường. Trước khó khăn này, doanh nghiệp đã chủ động lựa chọn phân khúc người có thu nhập khá để khai thác, giúp tăng lượng hàng hóa được tiêu thụ. Doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới thiết kế mẫu mã, tìm chất liệu độc đáo, giúp tăng doanh thu. Giám đốc Công ty cổ phần Mỹ nghệ Viễn Đông Nguyễn Sơn Hà cho biết, việc thuê thiết kế nước ngoài đã giúp tạo sự độc đáo cho sản phẩm, từ đó, tạo chỗ đứng vững chắc tại thị trường nước ngoài.
Thống kê của các Sở Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đã xin phá sản ở lĩnh vực này, nhưng lại đăng ký kinh doanh ở lĩnh vực khác để thích ứng với điều kiện mới. Như vậy, doanh nghiệp quy mô lớn hay nhỏ đều vận dụng hiệu quả bài học lớn từ Cách mạng tháng Tám mùa thu lịch sử 1945 là biết tận dụng thời cơ. Doanh nghiệp vẫn tìm được những cơ hội trong khó khăn, đặc biệt là biến cái khó thành điều kiện tốt để cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Theo nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính trị thế giới Võ Đại Lược, không nên nhìn nhận việc phá sản, giải thể doanh nghiệp một cách tiêu cực. Việc doanh nghiệp xin phá sản ở lĩnh vực này, lại đăng ký kinh doanh ở lĩnh vực khác thể hiện quá trình thay đổi cơ cấu hoạt động của mình, chọn mô hình hoạt động toàn diện hơn. Và với vai trò là lực lượng kinh tế nòng cốt, tái cấu trúc doanh nghiệp sẽ dẫn dụ, thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế.
Ngọc Diệu

21/08 Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp

07:23 | 21/08/2011
Với những thay đổi căn bản trong phương thức quản lý, Luật Doanh nghiệp được ví như một đòn bẩy cho các doanh nghiệp chủ động sáng tạo phát triển sản xuất, kinh doanh. Nhưng để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp vẫn cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật.
Sau 5 năm áp dụng trong thực tiễn, Luật Doanh nghiệp đã cho thấy những ưu điểm và hạn chế. Vì vậy, việc rà soát Luật và các văn bản hướng dẫn là việc làm có ý nghĩa lớn trong quá trình hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp. Tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc đang tồn tại và làm khó cho cả Nhà nước, doanh nghiệp sẽ tạo một cơ chế quản lý hợp lý, từ đó, tạo môi trường kinh doanh tốt cho lực lượng kinh tế này. Trong đó, vướng mắc lớn nhất với doanh nghiệp là do quy định không cụ thể về thủ tục pháp lý trước khi thành lập công ty. Hệ quả của tình trạng này là nhiều hợp đồng đã được ký kết trước khi thành lập sẽ được hợp thức hóa khi được cấp giấy phép kinh doanh. Điều này khiến doanh nghiệp lúng túng không biết con gà có trước hay quả trứng có trước. Doanh nghiệp có trước hay hoạt động kinh doanh có trước không được phân định rõ vừa gây lúng túng cho người sáng lập, vừa có thể bị lợi dụng để hình thành doanh nghiệp ma. 
Về việc xác định ngành nghề đăng ký kinh doanh, theo Luật sư Vũ Anh, các văn bản quy phạm pháp luật còn nhầm lẫn giữa ngành nghề kinh tế và kinh doanh thực tế. Đăng ký ngành nghề kinh doanh phụ thuộc vào ý tưởng của người điều hành, lãnh đạo và những người có trí tuệ, ý tưởng. Ý tưởng này phải đi trước người khác thế thì làm sao có được trong những ngành nghề mà hiện đang được quy định. Vì vậy, nhiều cá nhân, tổ chức loay hoay khi đăng ký thành lập doanh nghiệp do không tìm được ngành nghề kinh doanh phù hợp với ý tưởng. Hơn nữa, quy định của pháp luật không làm hạn chế khả năng sáng tạo của doanh nghiệp, song cơ quan chức năng khó quản lý sát sao hoạt động kinh doanh. Bởi bộ khung ngành nghề cứng sẽ buộc cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp phải sửa đổi hợp đồng để phù hợp với pháp luật. Luật sư Vũ Anh đề nghị, để tránh tình trạng nắn chân cho vừa giầy, nên quy định đăng ký kinh doanh theo ý tưởng; cơ quan đăng ký kinh doanh có nhiệm vụ rà soát xem lĩnh vực đó có thuộc pháp luật không cấm, hay có ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục không. Đồng tình với quan điểm này, Luật sư Cao Bá Quát cho rằng, việc dùng mã ngành kinh tế theo Quyết định 10/2007 của Thủ tướng Chính phủ để khai vào hồ sơ đăng ký kinh doanh hiện nay là không hợp lý. Hãy để tự người dân đăng ký theo ý tưởng đầu tư của mình, tự lựa chọn ngành nghề kinh doanh.
Đối với vấn đề con dấu, một số ý kiến cho rằng, đây chỉ là một dấu hiệu nhận dạng doanh nghiệp, không là căn cứ pháp lý do dễ bị làm giả. Hình thức này không có khả năng xác nhận lại bằng vân tay, chữ ký, con ngươi, AND. Vì vậy, không nên bắt buộc doanh nghiệp phải có con dấu. Doanh nghiệp muốn có con dấu có thể tự quy định hoặc điểm dấu của mình và đăng ký bảo vệ. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, con dấu được cơ quan có thẩm quyền cấp, nên có đầy đủ tính hợp pháp. Trong khi đó, việc photo chữ ký rồi sau đó đóng dấu đang được thực hiện tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Do vậy, để phù hợp với thực tế nước ta không thể tách bạch chữ ký và con dấu. Khi nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân, doanh nghiệp còn hạn chế, thì cần duy trì con dấu để bảo đảm hiệu lực, chặt chẽ của việc xác lập, thực hiện các giao dịch của doanh nghiệp.
Vấn đề bình đẳng giữa các loại hình kinh doanh cũng được đặt ra trong quá trình rà soát Luật Doanh nghiệp. Hiện nay, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đầu tư thay Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của doanh nghiệp trong nước. Một số ý kiến đề nghị, cần quy định thống nhất và rõ ràng đối với thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nhất là khi doanh nghiệp này đã tạo công ăn, việc làm, nộp thuế, đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời gian qua. Nhưng theo đại diện Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ, các quy định hạn chế đầu tư trong pháp luật đối với nhà đầu tư nước ngoài là cần thiết để bảo vệ đầu tư trong nước, bảo đảm chủ quyền lãnh thổ và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các nguyên tắc bình đẳng cơ bản trong khuôn khổ WTO cũng đều có những quy định ngoại lệ về việc phân biệt về quyền tiếp cận nguồn lực, phạm vi đầu tư và các biện pháp trợ cấp giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, trên thế giới chưa có quốc gia nào cào bằng ranh giới quyền và nghĩa vụ giữa hai loại chủ thể đầu tư này.
Luật Doanh nghiệp và các văn bản quy phạm pháp luật khác là định hướng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, cần tiến hành sửa đổi, bổ sung các văn bản này để tháo gỡ khó khăn cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp, cũng như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung văn bản luật cần tính đến tác động toàn diện, cũng như sự thống nhất của hệ thống pháp luật. Thực tế, một số khó khăn với doanh nghiệp hiện nay cũng do các văn bản quy phạm pháp luật có quy định trái ngược nhau.
Mạnh Quang

Saturday, August 20, 2011

20/08 Cải thiện cán cân thương mại từ FTA

08:22 | 20/08/2011
Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú, mục tiêu của đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) giai đoạn 2011 - 2020 vẫn là thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu. Các nhiệm vụ cụ thể sẽ hướng vào việc cải thiện cán cân thương mại, ứng phó với bất lợi trong quá trình tự do hóa thương mại.
Lợi thế từ FTA
Ngay khi là thành viên ASEAN năm 1995, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện giảm thuế theo Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung nhằm thiết lập Khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT/AFTA). Mặc dù vậy, theo Phó vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại Đa biên, Bộ Công thương Ts Lê Quang Lân, quá trình tham gia FTA thực sự thay đổi về chất khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nước ta đã tham gia một cách sòng phẳng hơn với động cơ chính của mọi cuộc đàm phán là lợi ích trong quan hệ thương mại và đầu tư. Với FTA, Việt Nam cũng đã chứng tỏ mình như một đối tác tin cậy. Hiện tại, đối tác FTA của ASEAN và Việt Nam đều là các quốc gia Đông Á. Đây là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất với kim ngạch khoảng 35 tỷ USD.
Cho đến nay, việc thiết lập FTA với các nền kinh tế lớn và năng động bậc nhất trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản đã mang đến nhiều cơ hội lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trên góc độ trực diện nhất, cơ hội xuất khẩu đối với các mặt hàng cụ thể trong các FTA mà Việt Nam đã tham gia là rất đáng kể. Ví dụ với Nhật Bản, 79% xuất khẩu nông sản được hưởng ưu đãi thuế 0%. Mức thuế trung bình nhờ cam kết FTA đã giảm từ 8,1% xuống 4%. Các mặt hàng có lợi nhất là rau quả tươi, cà phê, chè, thịt lợn và các sản phẩm gỗ. Hàng thủy sản có thuế suất trung bình giảm từ 5,4% xuống 1,3%. Riêng đối với các sản phẩm công nghiệp, 100% thuế suất hàng công nghiệp đã chỉ còn 0% ngay trong năm 2010. Trong đó, mặt hàng có lợi nhất là dệt may, giày dép, hóa chất, điện và điện tử.
Hiện Việt Nam đang đàm phán FTA song phương với Chi Lê; tham gia đàm phán với tư cách thành viên chính thức của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương; nằm trong chương trình đàm phán FTA ASEAN+3 (với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), ASEAN+6 (thêm ấn Độ, Australia và New Zealand) và FTA song phương với Liên bang Nga, Liên minh châu Âu.
Về dài hạn, bức tranh về lợi ích xuất khẩu thường được nhìn nhận thông qua các nhân tố tác động đến mục tiêu hình thành năng lực cạnh tranh của đất nước. Cơ sở nhận diện lợi ích xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam chính là khả năng điều chỉnh cơ cấu hàng xuất khẩu khi tham gia các FTA.
Tìm phương thức cam kết phù hợp
Trong giai đoạn 2011 - 2020, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú cho rằng, mục tiêu của đàm phán FTA vẫn là thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu. Các nhiệm vụ cụ thể sẽ hướng vào việc cải thiện cán cân thương mại, ứng phó với bất lợi trong quá trình tự do hóa thương mại.
Lợi ích của FTA không chỉ phụ thuộc vào vai trò định hướng của Nhà nước, mà quan trọng hơn chính là sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp phải chủ động tìm hiểu những cam kết thuế quan, quy tắc xuất xứ hàng hóa cũng như các quy định về vệ sinh, kiểm dịch; tận dụng triệt để những lợi thế từ các FTA đã ký kết nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Tuy nhiên, chất lượng, tính cạnh tranh của hàng hóa mới thực sự là quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Hàng hóa của Việt Nam phải tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu thì mới mong mở rộng quy mô sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Vì vậy, doanh nghiệp cần tập trung nâng chất lượng, giá trị và trách nhiệm đối với uy tín sản phẩm của mình.
Về phía Nhà nước, cần đặt ra mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của khu vực và toàn cầu và nghiên cứu các phương thức cam kết phù hợp nhất với từng đối tác khi đàm phán FTA. Thông thường là theo phương thức chọn - cho, tức là tương tự như đàm phán trong khuôn khổ WTO. Tuy nhiên, có đối tác lại muốn đàm phán theo phương thức chọn – bỏ, dựa trên các hiệp định hoặc mô hình cam kết mà họ đã ký kết với các đối tác khác. Việt Nam cần xử lý vấn đề này như thế nào cho phù hợp, linh hoạt mà vẫn bảo đảm quyền lợi của mình. Quan trọng hơn cả, phải xác định những thị trường nào thực sự tiềm năng để tiến hành đàm phán. Như vậy, cần có sự tham gia góp ý của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng cần phải xác định được thế mạnh của nước ta trong thời gian tới để thu hút các đối tác, vì thời của nhân công giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên dồi dào đã trôi qua.
Quang Nguyễn

20/08 Cải thiện cán cân thương mại từ FTA

08:22 | 20/08/2011
Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú, mục tiêu của đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) giai đoạn 2011 - 2020 vẫn là thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu. Các nhiệm vụ cụ thể sẽ hướng vào việc cải thiện cán cân thương mại, ứng phó với bất lợi trong quá trình tự do hóa thương mại.
Lợi thế từ FTA
Ngay khi là thành viên ASEAN năm 1995, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện giảm thuế theo Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung nhằm thiết lập Khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT/AFTA). Mặc dù vậy, theo Phó vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại Đa biên, Bộ Công thương Ts Lê Quang Lân, quá trình tham gia FTA thực sự thay đổi về chất khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nước ta đã tham gia một cách sòng phẳng hơn với động cơ chính của mọi cuộc đàm phán là lợi ích trong quan hệ thương mại và đầu tư. Với FTA, Việt Nam cũng đã chứng tỏ mình như một đối tác tin cậy. Hiện tại, đối tác FTA của ASEAN và Việt Nam đều là các quốc gia Đông Á. Đây là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất với kim ngạch khoảng 35 tỷ USD.
Cho đến nay, việc thiết lập FTA với các nền kinh tế lớn và năng động bậc nhất trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản đã mang đến nhiều cơ hội lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trên góc độ trực diện nhất, cơ hội xuất khẩu đối với các mặt hàng cụ thể trong các FTA mà Việt Nam đã tham gia là rất đáng kể. Ví dụ với Nhật Bản, 79% xuất khẩu nông sản được hưởng ưu đãi thuế 0%. Mức thuế trung bình nhờ cam kết FTA đã giảm từ 8,1% xuống 4%. Các mặt hàng có lợi nhất là rau quả tươi, cà phê, chè, thịt lợn và các sản phẩm gỗ. Hàng thủy sản có thuế suất trung bình giảm từ 5,4% xuống 1,3%. Riêng đối với các sản phẩm công nghiệp, 100% thuế suất hàng công nghiệp đã chỉ còn 0% ngay trong năm 2010. Trong đó, mặt hàng có lợi nhất là dệt may, giày dép, hóa chất, điện và điện tử.
Hiện Việt Nam đang đàm phán FTA song phương với Chi Lê; tham gia đàm phán với tư cách thành viên chính thức của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương; nằm trong chương trình đàm phán FTA ASEAN+3 (với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), ASEAN+6 (thêm ấn Độ, Australia và New Zealand) và FTA song phương với Liên bang Nga, Liên minh châu Âu.
Về dài hạn, bức tranh về lợi ích xuất khẩu thường được nhìn nhận thông qua các nhân tố tác động đến mục tiêu hình thành năng lực cạnh tranh của đất nước. Cơ sở nhận diện lợi ích xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam chính là khả năng điều chỉnh cơ cấu hàng xuất khẩu khi tham gia các FTA.
Tìm phương thức cam kết phù hợp
Trong giai đoạn 2011 - 2020, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú cho rằng, mục tiêu của đàm phán FTA vẫn là thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu. Các nhiệm vụ cụ thể sẽ hướng vào việc cải thiện cán cân thương mại, ứng phó với bất lợi trong quá trình tự do hóa thương mại.
Lợi ích của FTA không chỉ phụ thuộc vào vai trò định hướng của Nhà nước, mà quan trọng hơn chính là sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp phải chủ động tìm hiểu những cam kết thuế quan, quy tắc xuất xứ hàng hóa cũng như các quy định về vệ sinh, kiểm dịch; tận dụng triệt để những lợi thế từ các FTA đã ký kết nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Tuy nhiên, chất lượng, tính cạnh tranh của hàng hóa mới thực sự là quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Hàng hóa của Việt Nam phải tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu thì mới mong mở rộng quy mô sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Vì vậy, doanh nghiệp cần tập trung nâng chất lượng, giá trị và trách nhiệm đối với uy tín sản phẩm của mình.
Về phía Nhà nước, cần đặt ra mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của khu vực và toàn cầu và nghiên cứu các phương thức cam kết phù hợp nhất với từng đối tác khi đàm phán FTA. Thông thường là theo phương thức chọn - cho, tức là tương tự như đàm phán trong khuôn khổ WTO. Tuy nhiên, có đối tác lại muốn đàm phán theo phương thức chọn – bỏ, dựa trên các hiệp định hoặc mô hình cam kết mà họ đã ký kết với các đối tác khác. Việt Nam cần xử lý vấn đề này như thế nào cho phù hợp, linh hoạt mà vẫn bảo đảm quyền lợi của mình. Quan trọng hơn cả, phải xác định những thị trường nào thực sự tiềm năng để tiến hành đàm phán. Như vậy, cần có sự tham gia góp ý của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng cần phải xác định được thế mạnh của nước ta trong thời gian tới để thu hút các đối tác, vì thời của nhân công giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên dồi dào đã trôi qua.
Quang Nguyễn

Tuesday, May 10, 2011

09/05 Điều chỉnh thuế suất 11 mặt hàng: Tác động nhỏ?

Thứ Hai, 09/05/2011 | 10:36

Phản hồi: 0 | A


Bộ Tài chính vừa có công văn gửi các Bộ, ngành, Hiệp hội về dự kiến điều chỉnh thuế suất của 11 mặt hàng nằm trong danh mục hàng không khuyến khích nhập khẩu, không tính đến việc tăng thuế đối với các mặt hàng phục vụ kinh tế, dân sinh.

Theo Bộ Tài chính 11 mặt hàng dự kiết tăng thế sẽ gồm: quả óc chó đã bóc vỏ từ 20% lên 30%; nước xốt cà chua nấm và nước xốt cà chua khác từ 30% lên 35%; bồn tắm bằng sắt hoặc thép từ 32% lên 36%; máy in phun từ 0% lên 5%; băng từ dùng cho phim điện ảnh từ 10% lên 15%. Đối với mặt hàng thuốc lá thuần nhất hoặc hoàn nguyên, thuốc lá bột để hít, thuốc lá không dùng để hút khác, kể cả thuốc lá để nhai hoặc ngậm, Anghoon thuế suất hiện hành là 30% được đề nghị nâng mức thuế suất lên 50%...

Danh mục ... còn nhiều

Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế Ngô Hữu Lợi cho biết: Danh mục các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu gồm 297 nhóm hàng ( trong đó có 3.724 dòng thuế) tập trung chủ yếu vào các nhóm mặt hàng tiêu dùng như: thực phẩm, quần áo, giày dép, hàng may mặc, các sản phẩm sắt, thép, máy móc thiết bị chủ yếu phục vụ tiêu dùng cá nhân như quạt, máy giặt gia đình, máy fax, máy in, máy khâu gia đình, máy tính cá nhân...; các thiết bị điện dân dụng như điện thoại, loa đài, máy ghi âm, băng đĩa, camera...; các phương tiện đi lại như ô tô. Tuy nhiên, những mặt hàng này không điều chỉnh trong đợt này, vì qua rà soát và đối chiếu với cam kết WTO năm 2011 của các nhóm hàng trong Danh mục đã có mức thuế suất hiện hành bằng mức cam kết trần WTO 2011. Chính vì vậy, Bộ Tài chính sẽ không điều chỉnh thuế đối với các mặt hàng này. Hiện chỉ có 149 dòng thuế thấp hơn từ 1- 3% so với mức cam kết trần WTO và 169 dòng thuế có mức thuế suất thấp hơn mức cam kết trần WTO 2011 từ 4% trở lên. Ông Lợi cho biết, sẽ không điều chỉnh tăng với danh mục mặt hàng có mức thuế thấp hơn 3% so với trần WTO. Đối với các dòng thuế có mức thuế suất hiện hành thấp hơn mức cam kết WTO 2011 từ 4 % trở lên (169 dòng thuế) sẽ điều chỉnh thuế. Tuy nhiên để đảm bảo ổn định thị trường cũng như tránh vướng mắc trong thực thi Bộ Tài chính sẽ không điều chỉnh tăng đối với 158 dòng thuế bao gồm các mặt hàng là nguyên liệu sản xuất; các mặt hàng trong nước chưa sản xuất được, các mặt hàng có tính chất lưỡng dụng (vừa dùng làm hàng tiêu dùng, vừa dùng làm nguyên liệu sản xuất). Như vậy, chỉ có 11 dòng thuế có thể xem xét điều chỉnh thuế suất (tăng khoảng 10%). Ông Lợi cũng khẳng định, lần điều chỉnh tăng thuế này sẽ tác động ít nhiều đến thị trường, tuy nhiên đó chỉ là những tác động nhỏ. Bởi Bộ Tài chính đã xem xét khá kỹ thuế suất các mặt hàng trước khi đề xuất điểu chỉnh..

Giữ nguyên thuế suất với sản phẩm nông nghiệp

Theo quan điểm của Bộ Tài chính, sẽ ưu tiên không tính đến việc tăng thuế đối với các mặt hàng phục vụ kinh tế, dân sinh, trong đó chủ yếu là nông sản, thuỷ sản.

Theo đó Bộ Tài chính chấp thuận kiến nghị của Hiệp hội thuỷ sản VN, giữ nguyên mức thuế hiện hành là 0% đối với hầu hết các loại thuỷ sản (bao gồm các loại tôm, cua, hàu, vẹm, điệp, mực, bạch tuộc...) do trong nước không có hoặc sản lượng nuôi trồng thấp, không đủ đáp ứng nguyên liệu để phục vụ ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu. Đối với mặt hàng trứng chim và trứng gia cầm nguyên vỏ, tươi hoặc đã bảo quản hoặc đã làm chín (Cam kết WTO là 40%, thuế suất hiện hành là 30%). Tuy nhiên, Bộ Tài chính dự kiến giữ nguyên thuế suất như hiện hành vì đây là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, nếu tăng giá mặt hàng này sẽ gây áp lực cho thị trường trong giai đoạn giá cả leo thang này, đặc biệt với mức thuế áp với mặt hàng này hiện đã ở mức khá cao.

Đối với các mặt hàng gạo làm chín sơ (cam kết WTO là 50%, thuế suất hiện hành 40%), Bộ Tài chính dự kiến giữ nguyên thuế suất của mặt hàng này là 40%. Lý giải tại sao thuế suất của mặt hàng này không điều chỉnh, Bộ Tài chính khẳng định, theo căn cứ VN là nước xuất khẩu gạo (khoảng 6 triệu tấn/năm) nên gạo không phải là mặt hàng có ảnh hưởng đến nhập siêu. Các mặt hàng khác như: mỡ, dầu động vật hoặc thực vật đã tinh chế (cam kết WTO là 30%, 35%, 38%, thuế suất hiện hành 10%, 20% và 25%), dù các mặt này thuế suất hiện hành chưa cao nhưng quan điểm của Bộ Tài chính cho rằng, các mặt hàng này vừa là hàng tiêu dùng vừa được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất, đó là những mặt hàng thiết yếu nên dự kiến không điều chỉnh tăng thuế trong thời điểm hiện tại. Bộ Tài chính cũng khẳng định, sẽ ưu tiên không tính đến việc tăng thuế đối với các mặt hàng phục vụ kinh tế, dân sinh, những mặt hàng thiết yếu để giữ ổn định xã hội.

Quang Anh

DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP

Tuesday, February 15, 2011

04/02 Năm 2011: Dệt may chuyển đổi về chất

(04/02/2011-04:15:00 PM)

Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu phải đi liền với nâng cao giá trị gia tăng của từng sản phẩm. Có như vậy, trong tương lai, dệt may mới trở thành mặt hàng có sức cạnh tranh cao, bền vững trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Tăng trưởng gắn với chất lượng

Năm 2011, ngành dệt may Việt Nam phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 12,5 - 13 tỷ USD. Hiệp hội Dệt may Việt Nam khuyến nghị các doanh nghiệp (DN) duy trì khách hàng hiện có, tiếp tục tìm kiếm thị trường, khách hàng và dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Sau nhiều năm tăng trưởng xuất khẩu bình quân 30%/năm, hàng may mặc Việt Nam chính thức lọt vào top 10 nước xuất khẩu hàng đầu thế giới. Hiện nay, nhiều DN dệt may đã ký được đơn hàng cho đến hết quý II/2011, thậm chí là đến hết năm 2011. Đơn giá gia công cũng tăng 10 - 20% so với năm 2010.

Ông Thân Đức Việt, Giám đốc điều hành Tổng Công ty May 10, cho biết, đối tác và khách hàng nhiều là cơ hội để các DN dệt may Việt Nam lựa chọn những đơn hàng với các mặt hàng có giá trị gia tăng cao để ký kết. Việc ký được các đơn đặt hàng này là tín hiệu khá mừng cho các DN.
Tuy nhiên, lâu nay, ngành dệt may vẫn bị coi là “đi trên đôi chân của người khác” vì có tới 95% nhu cầu xơ bông, 70% nhu cầu sợi tổng hợp, 60% nhu cầu vải dệt thoi… cho toàn ngành phải nhập khẩu từ nước ngoài. Chưa kể, thị trường nội địa đang bị yếu thế so với xuất khẩu và tiềm ẩn nguy cơ rủi ro khi xuất khẩu gặp khó khăn. Do đó, để hội nhập toàn diện vào WTO, theo ông Lê Quốc Ân – Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), ngành dệt may trong nước phải có sự “chuyển đổi về chất”.

Và để thực hiện được mục tiêu kể trên, ông Vũ Đức Giang, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho rằng: “Ngành dệt may phải phấn đấu hoàn thành 8 chương trình trọng điểm, về đầu tư sản xuất nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu tư hạ tầng và nguồn nhân lực…”.
Quá trình cụ thể hoá những chương trình này cần thiết phải có sự hỗ trợ, tạo điều kiện từ phía Chính phủ như chính sách kêu gọi đầu tư nước ngoài; chính sách hỗ trợ di dời các xí nghiệp về vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; miễn thu thuế GTGT đối với vải cung cấp cho may mặc xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng Trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu dệt may, Trung tâm đào tạo chất lượng cao và hợp tác quốc tế để cập nhật cho cán bộ về kiến thức hội nhập và tranh chấp quốc tế… Đây cũng là những kiến nghị của VITAS nhằm giúp ngành dệt may Việt Nam hội nhập và đứng vững trên “biển lớn”.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp

Nhằm tạo đột phá về năng suất, công nghệ trong sản xuất, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Việt Nam đã đầu tư hơn 1.100 tỷ đồng mua máy móc thiết bị hiện đại. Ngành cũng sẽ tập trung liên kết những DN xuất nhập khẩu, tổ chức lại việc cung ứng nguyên phụ liệu trong nước; triển khai đề án xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại đủ tiêu chuẩn thay cho các thiết bị nghiên cứu thử nghiệm chất lượng hàng dệt may đã cũ.

Hiện nay giá trị thặng dư của nhiều DN dệt may cũng tăng rất nhanh do nâng tỉ lệ sử dụng nguyên phụ liệu trong nước.

Một số DN ở một số tỉnh, thành phố cần đẩy nhanh tiến độ các dự án di dời sản xuất ra khỏi khu vực nội thành để tăng năng lực sản xuất; tăng cường đầu tư chiều sâu, hợp tác với các đối tác nước ngoài để đầu tư sản xuất vải dệt thoi, vải dệt kim cao cấp, giúp ngành chủ động về nguyên liệu, có thể tăng trưởng và phát triển bền vững.

Để giải quyết bài toán nguyên phụ liệu cho ngành dệt may tăng trưởng bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình Phát triển cây bông vải Việt Nam đến năm 2015”.
Tập đoàn Dệt may Việt Nam cũng đã dự kiến dành hơn 1.400 tỷ đồng cho các chương trình trọng điểm này. Hiện Tập đoàn đã triển khai 2 trong số 8 dự án trồng bông nguyên liệu, nhằm hình thành vùng nguyên liệu 2.000 ha.

Ngoài ra, Tập đoàn Dệt may Việt Nam còn phối hợp với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam xây dựng nhà máy sản xuất sợi tổng hợp tại Khu công nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng) công suất 600 tấn/ngày, dự kiến năm 2012 đi vào sản xuất, đáp ứng 100% nhu cầu xơ, sợi tổng hợp cho ngành dệt; xây dựng 4 Khu công nghiệp dệt, nhuộm tại Ninh Bình, Nam Định, Long An và Trà Vinh nhằm khuyến khích doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành dệt may.

Bên cạnh đó, việc phát triển công nghiệp phụ trợ là vấn đề cấp bách, là một hướng đi đúng nhằm chủ động được nguồn nguyên, phụ liệu cho sản xuất, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam trên thị trường thế giới.



Vũ Trọng
Cổng thông tin điện tử Chính phủ

Saturday, August 21, 2010

về Thi hành Chính sách Tư Hửu Hoá

Các bạn exryu,

Hôm nay, lâu quá viết ít hàng chơi.

Không phải để mừng cái ngày 14 Juillet để đòi được tự do, bình đẳng, bác ái làm gì. Mà làm gì có chuyện bình đẳng được, không ai hơi đâu mà bác ái, lãng phí tự do làm gì. Cứ xem cái giếng dầu bị bể của BP thì biết, may mà bị ngay bên sân trước của Mỷ, lại gặp phải Obama, nên mới bị phê phán và sửa chửa (mà hình như cái nút đậy cái ống dầu này không phải của BP làm thì phải ... mình cũng hú vía tưởng chắc để nó tuôn ra đến khi cạn giếng chứ. Còn mà gặp phải ông Dick Cheney, thì chắc chỉ có NPO gì đó làm ùm thôi, chớ Dick chỉ được dịp hốt bạc)

...

Tháng 7 này cũng là một tháng khá quan trọng đối với người VN, cả người trong nước lẫn người ngoài nước. Thế mà không thấy mấy ai nhắc đến, cả người đi lề phải cũng như người đi lề trái. Vì thế nên tôi cũng viết ít hàng giới thiệu cùng các bạn để có dịp phê phán. Gần đây thì có ít nhiều thông tin phê phán về trường hợp của Vietshin, chủ yếu cũng lấy thông tin từ nguồn VN và từ đó triển khai thêm theo suy diển. (sao mà tư tưởng nghèo thế?)

Thông tin quan trọng mà tôi muốn đề cập có lẽ là liên quan đển việc VN hội nhập vào nền kinh tế thế giới tự do. Vâng, WTO, VN xin Mỷ cho tham gia vào thị trường KTTG, và Mỷ đồng ý với một số điều kiện như là VN phải mở cửa, phải minh bạch tài chính, cổng thông tin chính phủ phải rõ ràng, phải đơn giản hoá các thủ tục hành chính v.v... phải được Mỷ kiểm soát ... thì Mỷ (qua World Bank v.v...) sẻ cho tiền để làm các việc ấy. Năm 2007 VN được cho tham gia WTO, và được bơm tiền để sửa đổi Luật Lệ, Thủ tục hành chính, mở của thị trường. Và thời gian mở của thị trường là 2 năm cho thị trường bán lẽ (thị trường thương mãi), 3 năm cho thị trường ngân hàng - tài chính. Nghĩa là VN chỉ có 2 năm học tập để cập nhật các cách buôn bán mới theo phong cách thị trường cạnh tranh (không được bảo vệ). Năm ngoái (2009) là mở cửa cho thị trường bán lẽ, may phước Âu Mỷ bị khủng hoảng kinh tê nên VN không bị retailers của Âu Mỷ tấn công, xâm lăng thị trường này của VN, chỉ một số công ty như Wincom, Diamond Plaza của Hàn, Đài loan v.v... gì đó vào thôi, năm nay Carefour của Pháp và mấy retailers của Mỷ mới dự định vào VN (mà hình như tụi nó so VN Mart gi rồi nên chỉ dự định tham gia với hình thức các convient stores). Năm nay thì các Ngân Hàng nước ngoài vào VN thoải mái, mở chi nhánh thoải mái. Để có thể cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài, ông 0 Nghèo, chủ tịch NHNNVN đó nâng vốn điều lệ của Ngân Hàng Thương Mại (NHTM )lên 3000 tỉ đồng, có khoảng 40 NHTM hiện nay sẽ giãm đi còn 20 ngân hàng. Các NHTM qui mô nhỏ phàn nàn lắm (nhưng than ôi, chắc là phải sát nhập hay dẹp tiệm thôi, nhiều lý do lắm. Chung quy cũng phải ngheo lới Mỷ, Thuỵ sỉ ... như là chuẩn BASEL II v.v... để đảm bảo hoạt động của ngân hàng)

Về việc phải mở cửa, cụ thể là lập hai thị trường chứng khoán tại VN, một tại Saigon là HOSE, một tại Hanôi là HNX. (sau khi ăn miếng beefsteak và uống vài ly vang đỏ) ... Thế để nói thêm một chút dư thừa, vô ích cho một ít bạn không biết việc mở cửa với lập thị trường chứng khoán có liên hệ như thế nào. Nói đơn giản là lập thị trường chứng khoán để giải thể nhà nước, hay là giải thể một số cơ quan, tay chân của nhà nước. Trước hết là nhà nước chỉ nên có chức năng tối thiểu thôi, thế nào là tối thiểu à? đơn giản ... nghĩa là chỉ làm những chuyện hành chính cần thiết mà thôi, như là cần thiết đăng ký miếng đất này là của ai, cơ sở này là của ai. Và do đó nhà nước VN không được sở hửu tài sản, mà phải trả lại cho thị trường ... đó là Mỷ và Âu châu muốn thế ... và nhà nước VN đã đồng ý như thế, tài sản của nhà nước sẻ trã lại cho thị trường. Và VN đã tuyên bố Luật Doanh Nghiệp Nhà Nước chỉ có hiệu lực đến cuôi tháng 6 năm 2010. Và vửa rồi, từ ngày 1 tháng 7 thì công ty nhà nước đã biến mất. Và VN đã tư hửu hoá 1500 công ty nhà nước.

Chỗ này đáng lé là cơ hội để các đoàn thể, tổ chức đi lề trái phê phán, chỉ trích, chửi bới ... thế mà tôi thấy nó im lặng như tờ ngoài cái vụ Vietshin và ông Bình (?) ... Không chỉ trích, chửi bới lúc này thì sẻ không còn dịp chửi bới nữa, khi mà thế giới tự do đã ghi nhận VN có nền kinh tế thị trường. Có lẽ phải định nghĩa và giải thích cho một số bạn thế nào là kinh tế thị trường hay là kinh tế của xã hội chủ nghĩa. Nói đơn giản là nền kinh tế XHCN khi mà các cơ quan, xi nghiệp (nền kinh tế) dựa vào chủ thế là nhà nước. Như là công ty điện lực. công ty giao thông vận tải, hệ thống hạ tầng như đường xá, đường sắt, cảng biển, cảng hàng không v.v... nếu các công ty nầy được tư hửu hoá và mang ra thị trường bán, rồi ai mua cũng được cả ngươi nước ngoài (chỉ có kinh tế thị trường mới cho phép làm được việc này).

Và từ ngày 1 tháng 7 thì VN không còn công ty nhà nước nữa, tất cả đã được tư hửu hoá. Một loạt các tập đoàn đã được thành lập như Vietshin (đóng tàu), Viettel (điện thoại), Vinafood (thực phẩm), Vicem (xi măng VN), VRG (cao su VN), Vinatex (tơ sợi, may mặc), Vinacafe (cà phê VN), Vinacomin (khoáng sản), Vinalines (hàng hải VN), Vietnam Airline v.v... Về Ngân hàng thì Vietcombank, Agribank, Techcombank v.v... tất cả đều từ công ty quốc doanh mà ra. Từ đây thì ai ai, người Viêt hay người nước ngoài đều được quyền sở hửu. Một số công ty đã được đem ra nước ngoài như thị trường chứng khoán Newyork để bán ...

Như thế thì các bạn đi bên lề trái chắc cũng chưa biết phê phán, chửi bới thêm như thế nào phải không? Xin kể thêm một số thông tin để các bạn dể khai thác hơn, như là VN hinh thành một loại công ty Trách nhiệm Hửu hạn Một thành viên (CTTNHHMTV), cái này cũng là một cơ hội để khai thác để phê phán. Không biết ai sáng chế ra chế độ, hình thức doanh nghiệp mới lạ (hay lạ đời) như thế. Có lẽ VN không đủ trình độ sáng chế ... theo tôi có lẽ là Ernst and Young VN (EYVN) vẻ mánh cho VN. Vừa rồi EYVN với Kiểm toán nhà nước VN đã ký kết khung hợp đồng giao lưu về kiểm toán. Bạn nào mà có đọc các bài về Vietshin chắc biết được một chút về tiêu cực còn sót lại của VN.

Tôi cũng muốn giải thích thêm, nhưng mà lại phải dài dòng nữa xin ngưng ở đây. Chĩ xin bật mí một tí là 1500 công ty nhà nước nầy, nếu cty nào sau 1 tháng 7 mà không tư hửu hoá được thì sẻ được tái cơ cấu, sẻ được phát mải (bán đấu giá), còn tệ hơn nữa là cho phá sản luôn. Xin diển nghĩa là các công ty phá sản là những công ty cho các ông ấy ăn, nuôi các ông ấy mập ... (đây là lần cuối đấy, không ăn thì sẽ hết dịp ăn ... bất hợp pháp đó!)

Nội cái Vinashin thôi, Kiểm toán VN phải động viên hết nhân lực để tra khảo tài sản của nó, nên 1500 công ty nầy ... có ăn bẩn cũng không bị xét hỏi (chỉ trừ thằng nào xui lắm, ngu lắm, yếu lắm mới được đem ra làm vật tế thần thôi)

Vận của các ông VN hiện nay chắc là hên lắm. Làm ăn thì ngu, ăn bẩn ... thế thì chỉ đến lúc nào đó phải phá sản thôi. Thế mà cái bà Giám Đốc Quốc Gia của Worldbank tại VN (bà Victoria?) lại bảo VN sao giải ngân chậm thế, tiền WB đã đưa cho làm mà không chịu xài (dù là WB vẫn biết VN chưa chuẩn bị xong dự án, nguồn nằng lực huy đông chưa được ... thế mà nguồn tiền của thế giới tụ do cứ đỗ vào ... lại bảo sao không chịu xài ... ) Nên tôi chỉ nghe như là bà Victor gì đó bảo các ông cứ bỏ tiền vào túi đi, túi bị ngập rồi thì sang xẻ cho dân

Sao mà thế giới kỳ vọng vào VN như thế ... thế giới này chắc điên đảo rồi ... có lẽ là sắp tận thế đến nơi.

BR
Uy

Friday, February 26, 2010

Định vị ngay trong chính người dân nước mình

Tác giả: GS-TS Trần Ngọc Thơ
Bài đã được xuất bản.: 15/02/2010 06:00 GMT+7

Khi đất nước chính thức hội nhập vào sân chơi toàn cầu vài năm trước đây, ta thường dùng hình ảnh con tàu để định vị Việt Nam trong chuyến hải trình trên đại dương.

Việt Nam với mối lo lệ thuộc trong thập kỉ mới (*)

Và đúng như truyền thống, quá trình định vị đã buộc ta phải đối mặt với những con tàu khổng lồ trên thế giới - nhất là trong khu vực - với những mối quan hệ đan xen, cả hợp tác và "đối tác" rất tế nhị, rất gần và rất xa.

Định vị không khéo coi chừng con tàu Việt Nam bị nhấn chìm bởi sóng của tàu lớn. Sở dĩ phải nói điều này vì gần đây, thế giới đã có những cảnh báo cách mà những con tàu lớn rất khoái phô trương cơ bắp (flexing new muscle) hăm he các tàu nhỏ trong khu vực.

Dư luận quốc tế hàm ý đó là những con tàu cơ bắp.

Đấu trí với con tàu cơ bắp

Tuy nói với các tàu nhỏ quẹo trái nhưng thường loại tàu cơ bắp có thể bất ngờ bẻ ngoặt bánh lái sang phải (signal left but turn right) làm cho các tàu nhỏ không kịp trở tay.

Định vị như thế nào trong bối cảnh tàu cơ bắp ngày càng có xu hướng phô trương, đặc điểm mới bối cảnh địa-kinh tế-chính trị hiện nay không hề đơn giản.

Nhưng chắc chắn không thể có lựa chọn nào khác ngoài việc những người có trách nhiệm lèo lái phải đổi mới cơ bản mô hình tăng trưởng kinh tế hiện hành. Cùng với đó, đó là cuộc chiến trường kỳ giành lấy chân lý, giành lấy di sản vật thể và phi vật thể trên từng tấc đất mà tổ tiên ta đã đổ máu từ các chuyến hải trình xa xưa.


Ảnh: PLTPHCM

Còn nhớ cách đây vài năm, vị chuyên gia kinh tế trưởng IMF tại Việt Nam đã khích tướng rằng bất chấp tốc độ tăng trưởng cao (khoảng 10% năm vào lúc đó), phải mất 197 năm nữa Việt Nam mới đuổi kịp Singapore.

Có lẽ phát biểu này không có dụng ý gì xấu nhưng không ít những người có trách nhiệm vội vã "xuất tướng" quá nhanh khi xem đây như là cột mốc mà người Việt phải tăng tốc để chỉ mươi, mười lăm năm sau đó bắt kịp bạn?

Ta đã định vị con tàu Việt Nam theo cách đó.

Nhưng còn hậu quả?

Hàng loạt chiến lược tăng trưởng không tưởng được các bộ và tỉnh, thành đồng loạt triển khai. Hẳn nhiên đây là những chiến lược tăng trưởng ít thấy tương lai.

Đâu là lựa chọn khôn ngoan?

Nhìn lại việc các nước điên cuồng chạy theo tăng trưởng GDP như là một trong những nguyên nhân chính góp phần vào khủng hoảng tài chính toàn cầu, tháng 9 năm 2009, Pháp đã chính thức triển khai và khuyên các quốc gia nên khởi động lại mô hình tăng trưởng nhân văn hơn - mô hình mà các nhà kinh tế đề cập trước đó hàng thập kỷ. Đó là mô hình không xem trọng GDP tăng trưởng như là thành tích của chính phủ mà thay vào đó là chỉ số tổng hạnh phúc quốc gia GNH (gross national happiness).

Tổng hạnh phúc quốc gia bao gồm sự sảng khoái và hạnh phúc của người dân, môi trường trong sạch, sự đa dạng về văn hóa và tinh thần, cai trị tốt của chính phủ. Tăng trưởng nhiều nhưng đánh đổi bằng lạm phát cao, môi trường bị tàn phá và tiềm ẩn trong đó là nguồn gốc của khủng hoảng và bất ổn kinh tế-xã hội. Tất nhiên đây không thể là lựa chọn khôn ngoan.

Một nước nghèo như Việt Nam không thể nào yên tâm trước các con tàu cơ bắp nếu như không thịnh vượng về mặt kinh tế. Nhưng cần phải biết kiềm chế để đi theo mô hình ít tính hữu hình hơn so với mô hình tăng trưởng dựa quá nhiều vào GDP. Đây có lẽ là lựa chọn khả dĩ mà người Việt Nam chúng ta cảm nhận nhiều nhất trong thời gian qua. Nền kinh tế đã bị lạm dụng quá đáng để trở thành y như là một cỗ máy tự động bấm nút vận hành phục vụ cho các con số, ý tưởng và... cả không ít ảo tưởng. Còn người dân thì cứ bấm bụng chịu đựng tình trạng giá cả ngày càng tăng, kẹt xe, lụt lội và ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng.

Cần chiến thắng chính mình

Đến lúc chúng ta phải thay đổi tư duy trong chiến lược phát triển và định vị lại vị thế của mình. Chẳng những trước cộng đồng quốc tế mà quan trọng hơn cả là định vị lại hình ảnh của Việt Nam ngay trong chính người dân của mình. Thay vì chủ yếu nhìn vào các nước để so sánh như đã từng ngộ nhận thái quá, điều nên làm là ta phải biết cách tự chiến thắng chính mình.

Giống như trong một cuộc thi marathon, trước hết vận động viên phải biết cách tự chiến thắng mình để về đến đích trước đã. Tự chiến thắng chính mình, một cách rất tự nhiên có khả năng đến một ngày nào đó ta sẽ bắt kịp các nước.

Vì vậy, điều quan trọng hàng đầu là phải thật sự đổi mới cơ bản hiệu năng quản lý của chính phủ - một trong những thước đo chính dẫn đến tổng hạnh phúc quốc gia.

Hãy bắt đầu từ những việc mà nói mãi người dân cũng phát ngán, chắc hẳn không gì khác hơn ngoài cải cách hành chính và chống tham nhũng.

Quá nhiều nghiên cứu cho thấy chỉ riêng cải cách hành chính không thôi mỗi năm tự nó cũng mang lại một hiệu quả tương đương hàng chục tỉ đôla. Đây là gói kích thích kinh tế khổng lồ mà mọi người dân đều tha thiết. Nhưng chẳng lẽ bế tắc? Hiệu năng của chính phủ chính là chỗ này đây.

Thêm nữa, bán đất, phá rừng, khai thác cạn kiệt tài nguyên, chạy theo lao động giá rẻ để đạt được tăng trưởng cao thì chính phủ nào cũng có thể dễ dàng báo cáo thành tích trước người dân. Nhưng đó lại là cách nhanh nhất dẫn đến tổng bất hạnh quốc gia (gross national unhappiness) và là cách dễ nhất để bị những con tàu cơ bắp nhấn chìm.

Theo Pháp Luật TP. HCM số Xuân