Showing posts with label DisanVanhoa. Show all posts
Showing posts with label DisanVanhoa. Show all posts

Thursday, September 1, 2011

01/09 Di tích nằm chờ ngân sách - Kỳ 5: Văn Miếu, Võ Miếu xuống cấp


Trong khi di sản Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội được bảo tồn khá tốt và UNESCO đưa vào danh mục di sản tư liệu thuộc chương trình Ký ức thế giới năm 2010, thì ở Huế hai di sản Văn Miếu và Võ Miếu (còn gọi là Văn Thánh - Võ Thánh), dù ra đời muộn hơn nhưng đến nay đã xuống cấp và hoang phế.
Công trình Văn Miếu hư hỏng
Ngược dòng sông Hương, theo con đường từ chùa Linh Mụ lên thêm một đoạn chừng vài cây số là đến di tích Văn Miếu và Võ Miếu (thuộc xã Hương Hồ, H.Hương Trà, Thừa Thiên - Huế).
 
Bên cạnh Văn Miếu, Võ Miếu đã hoang phế hoàn toàn chỉ còn lại vài công trình mục nát và 5 tấm bia đá trơ giữa nắng mưa - Ảnh: B.N.L
Văn Miếu là một biểu tượng độc đáo của nền giáo dục VN trong giai đoạn vương quyền phong kiến thống trị. Việc lập Văn Miếu và dựng bia tiến sĩ nhằm nhắc lại cụ thể sự tôn trọng việc học, đề cao nhân tài của đất nước và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Ngày 7.6.2010, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định (số 818/QĐ-TTg) phê duyệt đề án Điều chỉnh quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế giai đoạn 2010 - 2020. Theo đó, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế cũng đã có kế hoạch (số 35/KH-UBND ngày 13.5.2011) triển khai thực hiện đề án, với mục tiêu: cơ bản, đến năm 2020 phục hồi hoàn nguyên toàn khu vực Đại Nội theo kiến trúc Hoàng thành trước kia; Cải thiện, tôn tạo cảnh quan thiên nhiên khu vực kinh thành, các lăng tẩm và các công trình thuộc quần thể di tích cố đô Huế; Xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng những điểm di tích; Di dời các hộ dân ra khỏi khu vực khoanh vùng bảo vệ di tích; Nghiên cứu phục hồi và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể; Tổ chức bảo tồn các ngành nghề truyền thống, phục chế các loại vật liệu truyền thống và bồi dưỡng đào tạo lực lượng nghệ nhân đang có nguy cơ thất truyền nhằm phục vụ tốt cho công cuộc bảo tồn giá trị di sản văn hóa Huế.
Theo tài liệu của Trung tâm bảo tồn di tích cố đô (BTDTCĐ) Huế, trong thời kỳ các chúa Nguyễn mở mang khai phá phương Nam, Văn Miếu cũng được thiết lập ở Phú Xuân và được xem như Văn Miếu riêng của Đàng Trong, nhưng không rõ thời điểm xây dựng, chỉ biết địa điểm tại làng Triều Sơn. Đến năm Canh Dần (1770), dưới triều của Định Vương Nguyễn Phúc Khoát, Văn Miếu được dời đến xã Long Hồ. Đến khi nhà Nguyễn gây dựng cơ đồ, Văn Miếu chính thức mới được xây dựng vào năm 1808 dưới triều vua Gia Long, ở địa điểm hiện nay.
 Khi còn nguyên vẹn, nơi đây có gần 20 công trình lớn như: Văn Miếu (điện thờ), Đông vu, Tây vu, Thần trù, Thần khố, Hữu Văn đường, Duỵ Lễ đường, nhà Thổ Công, Đại Thành môn, Văn Miếu môn, Quan Đức môn, Linh Tinh môn, La thành, bến vua ngự...
Tại Văn Miếu, hiện có hai dãy gồm 32 tấm bia, khắc tên 293 vị tiến sĩ triều Nguyễn, bắt đầu từ khoa thi đầu tiên năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đến khoa thi cuối cùng vào năm Khải Định thứ 4 (1919).
Trong khuôn viên của di tích, hiện nhiều công trình đã bị xóa sổ, trong đó có điện chính là Đại Thành điện, nơi thờ Khổng Tử đã đổ nát hoàn toàn chỉ còn lại nền móng. Hệ thống các cổng chính như Văn Miếu môn, Quan Đức môn và Đại Thành môn cũng đều hư hỏng…
Gần đây, Trung tâm BTDTCĐ Huế đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn di tích này, những tấm bia đã được dựng lại ngay ngắn và làm nhà bia che chắn. Văn Miếu không còn nét hoang tàn đổ nát như trước. Song, những điều làm được vẫn còn quá ít cho một di tích mang nét văn hóa hết sức độc đáo, tôn vinh nền giáo dục và học thuật của đất nước.
Võ Miếu hoang phế
Ngay sát bên Văn Miếu là Võ Miếu cũng đang trong tình trạng hoang phế, nhiều công trình đã bị xóa sổ hoàn toàn. Vào năm 1835 dưới thời Minh Mạng, theo kiến nghị của Bộ Lễ, triều đình chuẩn y cho xây dựng Võ Miếu nhằm thể hiện sự chú trọng đến giáo dục quân sự và đề cao nghiệp võ.
Võ Miếu được khởi công xây dựng từ tháng 9 năm Ất Mùi (1835) phía bên trái Văn Miếu, trước mặt là sông Hương. Với chu vi khoảng 400m, cấu trúc Võ Miếu cũng không cầu kỳ, gồm một miếu chính theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, phía trước có xây 2 nhà phụ gọi là Tả vu và Hữu vu đối diện nhau. Chung quanh có xây thành bao bọc, phía ngoài thành có nhà Tể sinh - là nơi giết súc vật khi tổ chức cúng tế. Năm 1839 (Minh Mạng thứ 20), triều đình cho dựng ba tấm bia Võ Công ở trước sân Võ Miếu. Những tấm bia này ghi tên những danh tướng đã đóng góp nhiều chiến công trong hai triều vua Gia Long và Minh Mạng như: Trương Minh Giảng, Phạm Hữu Tâm, Tạ Quang Cự, Nguyễn Xuân, Phạm Văn Điển... Về sau, còn có hai tấm bia ghi tên những tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ dưới thời Tự Đức: 1. khoa Ất Sửu (1865), 2. khoa Mậu Thìn (1868), 3. khoa Kỷ Tỵ (1869). Võ Miếu là nơi thờ các danh tướng VN như: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội... Về hình thức, việc lập Võ Miếu nhằm tạo ra một sự đăng đối so với Văn Miếu. Võ Miếu được triều Nguyễn lập ra cũng để tôn vinh những công thần đã đóng góp nhiều công lao cho triều đại, mục đích động viên những người theo đòi võ nghiệp mong lập được chiến tích để lưu danh muôn thuở.
Hiện trạng của di tích Võ Miếu chỉ còn lại miếu chính là ngôi nhà rường mục nát, có 5 án thờ bên trong, một ngôi nhà khác kế bên hoang phế. Vị trí đặt 5 tấm bia hiện đã không còn nhà bia chỉ trơ lại 5 tấm bia đá phơi nắng mưa.
Đã tranh thủ được dự án Linh Tinh môn
Tháng 6 vừa qua, nhân dịp khánh thành công trình trùng tu nhà Bia thị học Quốc Tử Giám (tại Huế), Đại sứ Ba Lan Roman Iwaszjiewics đã ký kết thỏa thuận đóng góp tài trợ tiếp theo cho dự án bảo tồn, tu bổ và tôn tạo công trình Linh Tinh môn - Văn Miếu Huế. Tổng kinh phí để thực hiện dự án bảo tồn tôn tạo di tích này là 1,784 tỉ đồng, trong đó vốn tài trợ từ Đại sứ quán Ba Lan là 25.497 USD (hơn 500 triệu đồng), được thực hiện từ đầu tháng 7 - 12 năm nay.
Theo Trung tâm BTDTCĐ Huế, dự án này sẽ là một bước chuyển tiếp để trùng tu, bảo tồn tổng thể khu vực di tích Văn Miếu - Võ Miếu của Huế trong tương lai.
Bùi Ngọc Long

Wednesday, August 31, 2011

31/08 Di tích nằm chờ ngân sách - Kỳ 4: Hổ Quyền hoang phế


Mặc dù di tích Hổ Quyền chưa được trùng tu và mở cửa cho khách tham quan nhưng vì tính chất độc đáo và đặc biệt hấp dẫn của nó nên nhiều du khách cũng đã tìm đến - Ảnh: B.N.L
Hổ Quyền là di tích độc đáo trong hệ thống quần thể di sản cố đô Huế, bởi đây là đấu trường voi hổ duy nhất còn sót lại. Ngoài ý nghĩa là thao trường luyện tập của voi, hổ phục vụ chiến đấu, đây còn là nơi giải trí của vua quan triều Nguyễn.
Đấu trường độc đáo
Di tích Hổ Quyền tọa lạc ở thôn Trường Đá, làng Nguyệt Biều, P.Thủy Biều, TP Huế (Thừa Thiên - Huế), về phía tây Kinh thành, được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 11 (1830). Kiến trúc Hổ Quyền là một đấu trường lộ thiên hình vành khăn. Vòng thành trong cao 5,90m; vòng thành ngoài cao 4,75m. Thành ngoài nghiêng một góc khoảng 10-15 độ tạo thế vững chãi kiểu chân đê. Chu vi tường ngoài Hổ Quyền là 145m, đường kính lòng chảo là 44m.
Theo ông Phạm Đức Thành Dũng - cán bộ nghiên cứu của Trung tâm bảo tồn di tích cố đô (TTBTDTCĐ) Huế, Hổ Quyền ngoài ý nghĩa là chuồng nuôi hổ, nó còn có chức năng là đấu trường của những cuộc tử chiến giữa voi và hổ.
Khán đài vua ngồi ở mặt bắc của đấu trường, được xây cao hơn so với các vị trí chung quanh và cơi nới ra sau tạo một không gian tương đối rộng. Bên trái khán đài là hệ thống bậc cấp đi lên gồm 24 cấp dành cho vua và các hoàng thân quốc thích, đại thần. Hai bên có hai hệ thống tường xây bằng gạch hoa đúc rỗng. Bên phải khán đài có một hệ thống bậc cấp khác xây tương tự dành cho quan chức và binh lính. Phía đối diện, là vị trí 5 chuồng cọp nằm ngay trong lòng đấu trường. Hai vòng tường trong và ngoài của đấu trường tạo ra vách chuồng. Giữa hai tường thành sẵn có, xây thêm các bức vách bằng gạch để tạo 5 cái chuồng riêng biệt. Hệ thống cửa ở các chuồng hổ là các cửa gỗ được đóng mở bằng cách kéo dây từ trên xuống.
Hiện tại, toàn bộ khu di tích đang xuống cấp và hoang phế. Tường thành của đấu trường nứt gãy nhiều đoạn, những bậc cấp đi lên khán đài bị bung sụt được rào chắn lại với cảnh báo nguy hiểm. Nhìn chung, toàn bộ kết cấu của đấu trường này tuy đã xuống cấp nhưng vẫn giữ được dáng vẻ khá nguyên vẹn.
Những trận đấu voi - hổ hy hữu
Theo tư liệu ghi chép lại cho biết, những trận đấu giữa voi và hổ được tổ chức sớm nhất là vào thời các chúa Nguyễn (1558 -1775). Học giả người Pháp là Pierre Poivre mô tả ông từng chứng kiến một trận đấu voi hổ vô tiền khoáng hậu dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1750). Cuộc đấu diễn ra ở cồn Dã Viên. Chúa Nguyễn Phúc Khoát cùng với triều thần đi trên 12 chiếc thuyền để xem voi hổ đấu. Theo Pierre Poivre, đây có lẽ là trận đấu khủng khiếp và đẫm máu nhất trong lịch sử. Các khán giả đã chứng kiến từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc, khi mà 40 con voi đã tàn sát đến con hổ cuối cùng trong số 18 con được thả ra làm vật tế thần trong ngày hội.
Dưới thời vua Gia Long, trong một trận đấu được tổ chức ở bãi đất trống phía trước kinh thành, giới hạn bằng một hàng rào lính tráng cầm khí giới đứng vòng quanh bảo vệ, một con hổ đã bứt được dây trói nhảy chồm lên tát người quản tượng rơi xuống đất và ông đã bị chính con voi do mình huấn luyện giẫm chết. Sự lồng lộn của con dã thú đã gây thương tích cho nhiều người và trở thành nỗi kinh hoàng cho tất cả khán giả.
Thời Minh Mạng cũng từng xảy ra một sự cố tương tự. Nhân ngày lễ Tứ tuần Đại khánh (mừng thọ vua 40 tuổi vào năm 1829), vua ngự thuyền rồng xem một trận thư hùng giữa voi và hổ tổ chức ở bên bờ bắc sông Hương. Trong khi giao đấu, chúa sơn lâm bứt được dây trói, lao ra và bơi về phía thuyền rồng. Giữa lúc quan binh nhốn nháo hoảng loạn, vua Minh Mạng kịp dùng con sào đẩy lùi được con vật cùng đường. Nhờ vậy, quan quân mới kịp chèo thuyền đến giết chết hổ giữa dòng sông cứu vua kịp thời.
Dưới triều Nguyễn, những trận tử chiến giữa voi và hổ thông thường mỗi năm tổ chức một lần. Trận đấu cuối cùng được tổ chức vào năm 1904 dưới triều vua Thành Thái. Đây cũng là một trận đấu hấp dẫn, đầy kịch tính được nhiều người đương thời chứng kiến và mô tả kỹ.
Có thể thấy việc tổ chức các cuộc huyết đấu giữa voi và hổ trước hết xuất phát từ nhu cầu rèn luyện tượng binh, một binh chủng rất lợi hại của quân đội xứ Đàng Trong, sau mới được nâng dần lên thành trò giải trí tiêu khiển.
Dự án đang được đề nghị đầu tư
Hiện TTBTDTCĐ Huế đã lập thêm hồ sơ khoa học cho 19 di tích thuộc hệ thống di tích Cố đô Huế, chuẩn bị cho các dự án trùng tu từ năm 2010 trở đi. Trong đó, di tích Hổ Quyền và điện Voi Ré đã tiến hành thám sát khảo cổ học và đang đề nghị đầu tư.
Trước đó, năm 2009, TTBTDTCĐ Huế cũng đã phối hợp với Viện Khoa học công nghệ kỹ thuật cao Hàn Quốc (KAIST) khởi động dự án phục dựng di tích Hổ Quyền bằng công nghệ kỹ thuật số. Dự án bao gồm việc lập dữ liệu, chụp ảnh, quay phim và thu thập tư liệu nhằm phục dựng không gian kiến trúc và cảnh quan Hổ Quyền cùng khu vực xung quanh bằng kỹ thuật 3D, làm cứ liệu phục vụ công tác nghiên cứu sau này. Một đoạn phim nổi 3 chiều (thời lượng khoảng 10 phút) về cảnh đấu voi, hổ như từng có trước đây và về di tích Hổ Quyền đã được phục dựng, để làm tư liệu và trình chiếu phục vụ du khách.
Do tính chất đặc biệt của di tích, nên việc trùng tu để phát huy giá trị di sản theo chúng tôi là cần được ưu tiên. Bởi vì nếu di tích này được trùng tu, mở cửa cho khách tham quan cùng với việc tổ chức giới thiệu phim tư liệu 3D phục dựng cảnh những trận đấu voi hổ trong lịch sử thì chắc chắn Hổ Quyền sẽ là điểm tham quan hấp dẫn và lý thú trong hệ thống di tích cố đô Huế.
Bùi Ngọc Long

31/08 Di tích nằm chờ ngân sách - Kỳ 3: Chạnh buồn bên lăng mộ vua


Khu di tích An Lăng là nơi an táng và thờ tự của 3 vị vua triều đại nhà Nguyễn. Hiện tại khu di tích này đang xuống cấp nghiêm trọng, nhiều công trình có nguy cơ bị xóa sổ nếu không sớm có giải pháp trùng tu.
Đổ nát và bị xâm hại
Bất cứ ai đặt chân đến khu di tích An Lăng (tọa lạc ở phường An Cựu, TP Huế) hiện nay đều cảm thấy đau lòng vì sự xuống cấp đổ nát của di tích. An Lăng là di tích lịch sử cấp quốc gia (được Nhà nước công nhận năm 1995) thuộc quần thể di tích cố đô Huế, nơi chôn cất, thờ phụng ba vị vua của vương triều Nguyễn: Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân.
Ngay cổng chính bước vào điện Long An, nhiều phiến đá trước cổng đã bị bung ra, tường bị thủng, lở nhiều đoạn. Ở khu vực bên trong chính điện, nhiều mảng tường rạn nứt, cỏ dại mọc um tùm trên những bờ tường mốc rêu. Nhiều chỗ còn được dùng làm vườn ươm, những đống gạch vụn, phế liệu được đổ ngay bên bờ tường.

Khu lăng mộ các vua Duy Tân, Thành Thái trong di tích An Lăng xuống cấp đến đau lòng - Ảnh: Minh Phương
Phía sau điện Long An được bao bọc bởi tường thành, trước đây là chốn hậu cung của các bà vợ vua, nay là nơi an nghỉ của nhiều ông hoàng bà chúa như vợ, mẹ, anh em của vua Duy Tân cùng một số hoàng thân. Thế nhưng, giờ đây cũng bị người dân lấn chiếm, xây dựng nhà ở, phòng trọ sinh viên. Nhiều đoạn tường thành bị người dân tự ý đập phá để xây dựng công trình.
Khu lăng mộ 3 vua
Hiện giờ, An Lăng là khu mộ chung của ba thế hệ vua: Dục Đức (cha), Thành Thái (con), Duy Tân (cháu). Toàn bộ khu lăng mộ hình chữ nhật có diện tích 3.445m2, bên trong không có Bi đình và tượng đá. Hiện nay, trong khu di tích An Lăng còn có 42 tẩm mộ của các ông hoàng bà chúa cùng với 121 ngôi mộ đất của dòng họ Nguyễn Phước (họ vua).
Phía bên trái là khu lăng mộ rộng gần 1 ha rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát, hiện đang được khóa cửa và bỏ hoang. Nhiều bộ phận trang trí của cổng Tam quan (cổng chính vào lăng) bị rơi rụng. Một số di tích nhỏ gần như đã bị xóa sổ, chỉ còn lô nhô vài dấu vết cũ chứng tỏ rằng nó đã từng tồn tại. Nhà Huỳnh ốc (nhà đặt hương án thờ cúng) xiêu vẹo, bên trong phải dùng gỗ để chống đỡ bốn phía, chỉ dùng dây sắt néo và có nguy cơ sập bất cứ lúc nào. Nằm ngay cạnh khu lăng, một số công trình như: Trụ biểu bị bỏ hoang cây cối che lấp, một số lăng mộ bị “lãng quên”, đổ nát, cỏ cây mọc um tùm. Ngay phía trước lăng có ba bốn căn nhà dân lợp mái tôn tạm bợ, dù đã có kế hoạch chuyển đi nhưng đến nay vẫn đang bỏ ngỏ, người dân vẫn chịu cảnh sống "bám" bên di tích.
Cần sớm cứu nguy
Theo tác giả Lê Văn Phúc trong Huế xưa và nay, An Lăng là tên chữ của Lăng vua Dục Đức (1852 - 1883), vị vua thứ 5 của triều đại nhà Nguyễn. Vua Dục Đức tên là Nguyễn Phúc Ưng Chân, là con nuôi của vua Tự Đức. Ông lên ngôi chỉ 3 ngày thì bị phế truất vì tội dám lược bỏ một đoạn văn trong di chiếu truyền ngôi của tiên đế, bị tống vào ngục và đã chết đói trong nhà ngục. Khi toán lính gánh thi hài đi chôn, giữa đường bị đứt dây, mọi người đã chọn chỗ đất thi hài rơi làm nơi “thiên táng” yên nghỉ vĩnh viễn của nhà vua. Năm 1889, con trai của Dục Đức là Bửu Lân được đưa lên làm vua, đặt niên hiệu là Thành Thái. Đầu năm 1890, vua Thành Thái cho xây dựng lăng mộ của vua cha ngay tại nấm mồ “thiên táng” đó và đặt tên là An Lăng. Năm Thành Thái thứ 11 (1899), nhà vua cho xây dựng điện Long An ở phía phải lăng mộ làm nơi thờ cúng vua cha, và xây các công trình phụ như Tả, Hữu Phối đường (trước), Tả, Hữu Tùng viện (sau) dành cho bảy bà vợ thứ của vua cha ăn ở, lo việc thờ phụng. Năm 1906, bà Từ Minh (vợ chính vua Dục Đức, mẹ vua Thành Thái) qua đời, triều đình cho quy hoạch lại khu lăng mộ vua Dục Đức, làm thành khu lăng kép, xây mộ bà gần mộ ông, theo kiểu song táng.
Năm 1907, vua Thành Thái bị truất ngôi vì có tư tưởng chống Pháp, con trai Thành Thái được đưa lên ngôi, lấy niên hiệu là Duy Tân. Vua Duy Tân tuy còn nhỏ nhưng vẫn theo gót cha quyết tâm chống Pháp cứu nước. Năm 1916, vua Duy Tân lại bị bắt vì tội tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp do Thái Phiên và Trần Cao Vân tổ chức và bị đày biệt xứ như vua cha. Năm 1953, vua Thành Thái được trở về nước và sống ở Sài Gòn, đến năm 1954 thì mất, thi hài được hoàng tộc đưa về chôn trong khuôn viên lăng Dục Đức... Năm 1987, hài cốt vua Duy Tân được cải táng từ châu Phi đưa về chôn cạnh mộ vua Thành Thái. Theo tác giả Lê Văn Phúc, lăng Dục Đức được xây dựng trong hoàn cảnh đất nước và vương triều Nguyễn có nhiều biến động, nên quy cách kiến trúc chung của các lăng cũng có một số nét nghệ thuật cá biệt và ý nghĩa riêng, nhất là trên lĩnh vực trang trí càng làm phong phú thêm sắc thái và chất lượng của quần thể kiến trúc lăng tẩm các vua nhà Nguyễn ở cố đô Huế.
Khác với lăng các ông vua khác, An Lăng nằm ngay gần trung tâm thành phố, không thu vé vào cổng nhưng lại rất vắng du khách tham quan bởi nó đang bị lãng quên và xuống cấp trầm trọng.
Theo chúng tôi, với hiện trạng xuống cấp nghiêm trọng như hiện nay, tỉnh Thừa Thiên - Huế cần chỉ đạo các đơn vị liên quan ưu tiên sớm triển khai dự án trùng tu khu di tích An Lăng để cứu nguy một di sản quý đang tiếp tục xuống cấp và đổ nát từng ngày...
Bùi Ngọc Long - Phan Quyên

Tuesday, August 30, 2011

30/08 Di tích nằm chờ ngân sách - Kỳ 2: Trùng tu dở dang lăng vua Thiệu Trị


Dự án đầu tư bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Thiệu Trị thuộc quần thể di tích cố đô Huế được phê duyệt từ đầu năm 2006 với thời gian thực hiện đến năm 2010, thế nhưng đến nay chỉ có một công trình ở lăng Thiệu Trị được trùng tu là điện Biểu Đức và vẫn chưa hoàn thành.
Tiến độ “rùa”!
Lăng Thiệu Trị có tên chữ là Xương Lăng, nằm ở địa phận làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng (thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế).

Sau gần 5 năm dự án được phê duyệt, chỉ có công trình duy nhất tại lăng Thiệu Trị được trùng tu là điện Biểu Đức nhưng vẫn chưa hoàn thành - Ảnh: B.N.L
Năm 2006, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ VH-TT-DL) đã có quyết định phê duyệt dự án đầu tư bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Thiệu Trị thuộc quần thể di tích Cố đô Huế, với tổng kinh phí dự kiến 106 tỉ đồng.
Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, nguồn vốn cho công tác trùng tu di tích thuộc quần thể di tích Huế mỗi năm chỉ giải ngân được từ 50 - 60 tỉ đồng. Các đơn vị thi công khi nhận được dự án thường phải tiến hành vay vốn ngân hàng hoặc huy động vốn tự có để thi công, chính vì vậy mà tiến độ dự án nào cũng chậm.
Theo dự án, công tác trùng tu diễn ra tại 3 khu vực của lăng Thiệu Trị, gồm: khu vực lăng, sẽ tu bổ phục hồi các hạng mục công trình hồ Nhuận Trạch, hồ Ngưng Thủy, Bình Phong tiền án, hồ điện, sân chầu, Nghi môn, Hồng Trạch môn, Hữu phối điện, Tả phối điện, điện Biểu Đức, Hữu Tùng viện... Khu vực tẩm sẽ tu bổ phục hồi bình phong tiền án, hồ điện, sân khấu, Nghi Môn, Hồng Trạch môn, Hữu phối điện, Tả phối điện, điện Biểu Đức, Hữu Tùng viện... Khu vực lăng Bà sẽ tu bổ nhiều công trình kiến trúc... đồng thời, dự án cũng sẽ đầu tư xây dựng các công trình tu bổ, tôn tạo, bảo quản và bảo vệ, quản lý di tích như hệ thống phòng cháy chữa cháy, điện chiếu sáng, cung cấp nước... Theo quyết định phê duyệt, nguồn vốn đầu tư cho dự án được cấp từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn vốn khác..., thời gian thực hiện dự án từ nay đến năm 2010.
Thế nhưng, sau gần 5 năm dự án được duyệt, đến nay chỉ có công trình duy nhất đang được trùng tu sắp hoàn thành là điện Biểu Đức, điện chính thờ vua và hoàng hậu Từ Dũ. Trong khi hầu hết các công trình còn lại như: Bình Phong tiền án, hồ điện, sân khấu, Nghi Môn, Hồng Trạch môn, Hữu phối điện, Tả phối điện, điện Biểu Đức, Hữu Tùng viện... đều xuống cấp nghiêm trọng. Các tòa nhà như Tả hữu phối điện, Tả hữu tùng viện, Bi đình... đều trong tình trạng đổ nát, phải dùng cột chống đỡ tạm bợ, phần mái hư hỏng phải lợp tôn để chống dột, nhiều hiện vật như án thờ, giá thờ... được xếp ngổn ngang mối mọt, hệ thống hành lang tường thành bao quanh các công trình nứt gãy, sụp đổ và hư hỏng nhiều đoạn... Hiện trạng tại các công trình lăng Thiệu Trị cho thấy tiến độ trùng tu ở đây diễn ra vô cùng chậm chạp.

Sân gạch bung tróc và Hồng Trạch Môn xuống cấp, hư hỏng - Ảnh: B.N.L 
Lăng mộ độc đáo của vị vua thương dân
Theo TS Trần Đức Anh Sơn, so với lăng tẩm các vua triều Nguyễn, lăng Thiệu Trị có những nét riêng độc đáo, đó là lăng duy nhất quay mặt về hướng tây bắc, một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn. Vua Thiệu Trị tên là Nguyễn Phúc Miên Tông, con trai trưởng của vua Minh Mạng. Lên ngôi giữa tuổi 34, nhà vua trị vì được 7 năm (1841-1847) thì băng hà, hưởng thọ 41 tuổi. Sinh thời, nhà vua chưa lo nghĩ đến cái chết của mình, phần nữa, không muốn binh dân hao tổn quá nhiều sức lực và của cải nên ông chưa xây cất sơn lăng. Cho đến lúc chuẩn bị ra đi, nhà vua đã trăn trối với người con trai sắp kế vị rằng: “Chỗ đất làm sơn lăng nên chọn chỗ bãi cao, chân núi cận tiện, để dân binh dễ công việc. Con đường ngầm đưa quan tài đến huyệt, bắt đầu từ Hiếu Lăng, nên bắt chước mà làm. Còn điện vũ liệu lượng mà xây cho kiệm ước, không nên làm nhiều đền đài, hao phí đến tài lực của binh dân”.
Quá trình xây cất Xương Lăng diễn ra nhanh chóng nên chỉ sau ba tháng thi công, các công trình chủ yếu đã hoàn thành. Ngày 14.6.1848, vua Tự Đức thân hành lên Xương Lăng kiểm tra lần cuối. 10 ngày sau, thi hài vua Thiệu Trị được đưa vào an táng trong lăng sau 8 tháng quàn tại điện Long An ở cung Bảo Định. Vua Tự Đức viết bài văn bia dài trên 2.500 chữ, cho khắc lên tấm bia “Thánh đức thần công”, dựng vào ngày 19.11.1848 để ca ngợi công đức của vua cha.
Lăng gồm hai khu vực: lăng và tẩm. Quần thể lăng mộ độc đáo này hiện nay vẫn đang trong tình trạng đổ nát đến đau lòng.
Bùi Ngọc Long

Sunday, August 28, 2011

28/08 Di tích nằm chờ ngân sách - Kỳ 1: Vì sao chưa phục nguyên điện Cần Chánh?



Nằm ngay trong Tử Cấm thành triều Nguyễn tại Huế, điện Cần Chánh được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804), là ngôi điện có kết cấu gỗ lớn và đẹp nhất trong hệ thống công trình kiến trúc triều Nguyễn, tồn tại suốt 13 đời vua, nhưng năm 1947 bị phá hủy hoàn toàn và đến nay vẫn chưa được trùng tu phục hồi.
Công trình tiêu biểu của vương triều Nguyễn
Du khách đến với Đại nội - Huế, sau khi tham quan kiến trúc độc đáo của điện Thái Hòa, thẳng vào giữa Tả vu và Hữu vu sẽ gặp một sân gạch rộng với những vạc đồng và ngay phía sau là vị trí của điện Cần Chánh, chỉ còn lại nền móng. Những năm qua, nơi đây được dùng để tổ chức dạ nhạc tiệc trong các chương trình Đêm Hoàng cung. Điện Cần Chánh khi còn tồn tại được xem là một công trình kiến trúc tiêu biểu của vương triều nhà Nguyễn tại Hoàng cung Huế.

Mô hình phục nguyên kết cấu hệ khung gỗ của điện Cần Chánh, kết quả hợp tác giữa Đại học Waseda (Nhật Bản) và Trung tâm BTDTCĐ Huế - Ảnh: T.L
Theo Dư địa chí Thừa Thiên -Huế, Cần Chánh là ngôi điện để nhà vua tổ chức các buổi lễ thiết triều vào ngày 5, 10, 20 và 25 âm lịch hằng tháng. Ngoài ra, điện còn là nơi vua tiếp các sứ bộ quan trọng, tổ chức các buổi yến tiệc trong dịp khánh hỷ. Điện đặt trên nền cao gần 1m, bó vỉa bằng gạch vồ và đá thanh, diện tích gần 1.000m2, chính điện 5 gian, 2 chái kép, tiền điện 7 gian, 2 chái đơn. Toàn bộ khung gồm 80 chiếc cột bằng gỗ lim, phần lớn kết cấu gỗ đều được chạm trổ tinh xảo, công phu, thể hiện trình độ kỹ, mỹ thuật cao của kiến trúc truyền thống VN thế kỷ 19. Trong điện, ở gian giữa của nhà chính đặt ngự tọa, hai bên treo hai bức tranh gương thể hiện cảnh đẹp của kinh đô và bản đồ các tỉnh trong nước. Điện còn là nơi trưng bày nhiều báu vật của triều Nguyễn. Dưới thời nhà Nguyễn, điện từng được tu sửa vào các năm 1827, 1850, 1899 và đến đời vua Khải Định cho sơn thếp mới vào đầu thế kỷ 20. Năm 1947, do chiến tranh, ngôi điện này đã bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại nền móng.
Vì sao chưa phục nguyên?
Từ năm 1994, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô (BTDTCĐ) Huế đã ký kết với Đại học Waseda (Nhật Bản) một chương trình hợp tác với 4 mục tiêu chính: nghiên cứu toàn diện về di sản Huế trên nhiều khía cạnh; xây dựng cơ sở khoa học cho các dự án bảo tồn; trùng tu di tích Huế theo hướng bền vững; nâng cao năng lực quản lý và bảo tồn của đội ngũ cán bộ Trung tâm BTDTCĐ Huế, trong đó mục tiêu quan trọng nhất của dự án là nghiên cứu phục nguyên điện Cần Chánh.

Điện Cần Chánh đã bị hư hại hoàn toàn chỉ còn trơ lại nền móng - Ảnh: Minh Phương
Đến nay, hai bên đã xây dựng thành công một hệ thống cơ sở dữ liệu gồm: mô hình điện Cần Chánh tỷ lệ 1/50 và đang thực hiện lắp ghép mô hình điện Cần Chánh tỷ lệ 1/10 để tiếp tục nghiên cứu. Trước đó, công tác thám sát khảo cổ học sân nền điện Cần Chánh, trang trí công trình, bố trí nội - ngoại thất... đã hoàn thành.
TS Phan Thanh Hải, Phó giám đốc Trung tâm BTDTCĐ Huế, trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí đã cho biết: “Khó khăn lớn nhất mà chúng tôi gặp phải là phần trang trí các ô hộc thơ theo lối nhất thi nhất họa, một số chi tiết cụ thể... Đây là phần không có đủ tư liệu gốc nên rất khó thiết kế được chính xác. Việc hợp tác với Nhật Bản có nhiều thuận lợi, nhưng cũng lắm gian nan do phương pháp trùng tu của Nhật, dù được đánh giá cao, nhưng mất rất nhiều thời gian nghiên cứu. Khó khăn nữa là vấn đề thủ tục, mỗi dự án phải mất đến 2-3 năm mới hoàn thành. Thường khi có quyết định phê duyệt là chúng tôi phải điều chỉnh dự án vì trượt giá. Nhiều năm nay, chúng tôi chỉ làm toàn công trình nhỏ do mỗi năm, quần thể di tích Huế chỉ được đầu tư từ 50 - 60 tỉ đồng để trùng tu. Điều này dẫn đến việc làm một dự án lớn như Cần Chánh thì cũng gặp khó khăn về nhân lực...”.
Theo Trung tâm BTDTCĐ Huế, kế hoạch phục nguyên điện Cần Chánh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Theo đó, Trung tâm BTDTCĐ Huế, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã tiến hành các thủ tục để trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chính phủ Nhật Bản xem xét hỗ trợ để thực hiện dự án trùng tu, phục hồi hoàn nguyên điện Cần Chánh, từ nguồn ODA không hoàn lại. Dự án chia làm hai gói (gói đầu tư cơ sở hạ tầng và gói đào tạo chuyển giao kỹ thuật), với tổng kinh phí đề nghị khoảng 32 triệu USD. Được biết, hiện Bộ Kế hoạch - Đầu tư cũng đã đưa dự án vào danh mục đề nghị đầu tư từ nguồn vốn ODA của Nhật Bản. Tuy nhiên, theo quy trình để xét duyệt hồ sơ dự án ODA của Nhật Bản, thông thường mỗi hồ sơ phải mất ít nhất 3 năm, nên đến nay phía Bộ Ngoại giao Nhật Bản vẫn chưa trả lời.
Được biết, để dự phòng phương án nguồn vốn ODA của Nhật Bản có trở ngại, hiện Trung tâm BTDTCĐ Huế cũng đã lập dự án dự phòng (vẫn chọn Đại học Waseda làm tư vấn). Và nếu phía Nhật Bản không đồng ý hỗ trợ nguồn vốn ODA cho dự án, thì sẽ đưa vào kế hoạch trùng tu từ nguồn vốn ngân sách trong nước.
Đó là lý do khiến dự án phục nguyên điện Cần Chánh đến nay vẫn chưa được thực hiện.
Bùi Ngọc Long

Friday, August 12, 2011

12/08 Nhân "Thành nhà Hồ" được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới- bàn về ông Vua cải cách tiền tệ



Thành Nhà Hồ được Việt Nam công nhận là di tích quốc gia từ năm 1962. Việc xây dựng hồ sơ để đệ trình UNESCO được khởi động từ năm 2006 và ngày 27/6/2011 vừa qua đã chính thức được công nhận là Di sản văn hoá thế giới tại kỳ họp lần thứ 35 của Uỷ ban di sản thế giới UNESCO (WHC) diễn ra tại Paris, Cộng hoà Pháp.



Thành nhà Hồ là công trình kiến trúc theo lối dinh lũy phòng thủ khi sảy ra chiến tranh. Công trình được Hồ Quý Ly-  một ông quan có nhiều thanh thế trong triều Trần cho xây dựng vào năm 1397 ở An Tôn (thuộc hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc,  tỉnh Thanh Hóa). Thành có hình chữ nhật, chu vi khoảng 3 km vuông, tường bao quanh xây bằng những khối đá hình hộp  được mài nhẵn, phẳng, dài từ 2 đến 4m, cao 1m, dày 0,7m. Cổng ghép đá hình vòm, cao 8m. Trong thành có khu dinh thự để vua ngự và xuống chiếu, nay chỉ còn lại những con rồng đá chạy dọc bậc thềm... 

                                           

           Từ một ông Quan  nắm được nhiều quyền hành tối cao ở triều Trần, tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly truất ngôi vua Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua, lập ra vương triều mới: Triều Hồ. Nhà Hồ tồn tại được 7 năm (1400-1407) và dời đô từ Thăng Long về An Tôn, gọi đây là Tây Đô để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội).  Trong khoảng 35 năm, Ông đã từng bước tiến hành nhiều cuộc cải cách rộng lớn về mọi mặt, từ chính trị, văn hóa đến  kinh tế- xã hội. Trong phạm vi  bài viết này,  xin dẫn dụ về một số nét về cải cách tiền tệ.
         Lần đầu tiên trong lịch sử tiền tệ thời phong kiến  Việt Nam có chuyện tiêu dùng tiền giấy.
         Lịch sử tiền tệ của chế độ phong kiến Việt Nam là lịch sử tiếp thu có chọn lọc tinh hoa chế tác đồng tiền kim loại hình tròn- lỗ vuông của nước láng giềng Trung Quốc vốn đã có ảnh hưởng khá sâu đậm qua hàng ngàn năm Bắc thuộc. Khác chăng là các ông Vua Việt lấy biểu trưng niên hiệu, hoặc thời hiệu của mình để đặt tên cho đồng tiền qua mỗi lần phát hành thay vì dùng tên tiền Trung Quốc cùng thời để chứng tỏ tính độc lập của vương triều thông qua tiền tệ.
Thế nhưng vào  năm 1396  “…mùa hạ, tháng 4 năm Bính Tý, niên hiệu Quang Thái, năm thứ 9 bắt đầu phát hành tiền giấy “Thông Bảo Hội Sao”. In xong, hạ lệnh cho người đem tiền đến đổi, cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy tiền giấy 1 quan 2 tiền…”. (trích Đại Việt sử ký toàn thư).
            Cũng phải nhắc lại là, năm 1024 ở Trung Quốc đã thấy nói triều đình Bắc Tống phát hành tiền giấy,  gọi là “Quan Giao Tử”. Dần dần, “Giao tử” cải thành “Tiền dẫn”, “Hội tử”, “Giao sao” …(xin xem:Lịch sử tiền giấy. http://vi.wikipedia.org). Tuy nhiên, các loại “tiền giấy” này thực chất chỉ như “ngân phiếu”, nó không thay thế hoàn toàn tiền kim loại trong lưu thông tiêu dùng. Do là những “bảo chứng” tiền tệ có mệnh giá lớn nên nó cũng chỉ lưu hành hạn hẹp ở tầng lớp giàu có. Cho đến năm1455 (thuộc triều nhà Minh) loại “tiền giấy” này không còn thấy lưu hành.
         Việc phát hành tiền giấy thời Hồ có thể xem là dấu hiệu của một “biến cố” bởi sự kiện xảy ra chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam. Điểm khác biệt căn bản so với nước láng giềng Trung Quốc là Hồ Quý Ly đãquyết định thay đổi dùng tiền kim loại sang tiền giấy. Về hình thức có thể cho rằng “Thông bảo hội sao” là cách phỏng  theo “Quan Giao Tử” hoặc “Giao sao” của Trung Quốc … , nhưng về quan niệm tiền tệ thì Hồ Quý Ly đã xem ‘Thông bảo hội sao”  là đồng tiền chính thức.
         Do tiên liệu trước sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc khép dân chúng tiêu dùng tiền giấy, Hồ Quý Ly cũng đã ban hành các điều luật cực đoan đi kèm, như: Cấm hẳn tiêu tiền kim loại, định tội không tiêu tiền giấy… Cho đến năm 1401, Hồ Hán Thương (con trai thứ của Hồ Quý Ly, nối ngôi vua) còn phải khuyến khích: “… mỗi mẫu thu 3 thăng thóc nay thu 5 thăng nhưng nộp bằng tiền giấy thì được giảm đi. Thuế đinh cũng tương tự, thu bằng thóc thì thu nặng hơn trước, nhưng thu bằng tiền giấy thì lại giảm đi…” (sách đã dẫn). Năm 1402, định lại các thuế  về tô ruộng, theo đó: ngoài việc dùng các quy định của pháp luật còn đưa ra nhiều biện pháp khác cố làm cho  tiền giấy được lưu hành rộng rãi trong dân. Nhưng trong thực tế, đến năm 1403, tức sau bảy năm ban hành, tiền giấy vẫn không được ưa dùng, đến nỗi dân buộc phải trao đổi theo hình thức hàng đổi hàng để tránh phạm luật…
            Nguyên nhân và những hệ lụy của việc phát hành tiền giấy.
         Chuyện kể rằng, thời Hồ có Nguyên Trừng (con trai trưởng của Hồ Quý Ly)- là người sáng chế ra “thần cơ sang pháo” (súng thần công). Khi nhà Minh Trung Quốc tấn công Việt Nam theo lời thỉnh cầu của hậu duệ họ Trần, bắt được người chế súng cùng nhiều khẩu thần công đem về Trung Quốc, ông không bị giết mà còn được phong là “Tả tướng quốc”.  Mỗi lần làm lễ tế súng thần công, quân Minh đều phải tế sống Hồ Nguyên Trừng.
         Do thời phong kiến,  nguồn nguyên liệu đồng  luôn khan hiếm, vì vậy, nếu để duy trì  đúc tiền kim loại trong hoàn cảnh sáng chế súng thần công cũng đang rất cần một nguồn nguyên liệu đồng to lớn, thì đây quả là một thách thức không nhỏ.  Cùng với nguy cơ bị giặc Minh Trung Quốc đe dọa xâm lược, buộc Hồ Quý Ly phải lựa chọn hoặc đúc tiền, hoặc đúc súng. Và ông đã lựa chọn đúc súng.
Nếu đây là một trong những nguyên nhân cơ bản thì việc chuyển sang dùng tiền giấy là một quyết định đúng. Chỉ có điều, việc hoạch định chính sách cải cách đó  luôn chứa đựng các yếu tố cực đoan, thiếu các cơ sở có tính chất nền tảng để thực thi,  khi mà việc phát hành tiền giấy rất khác với tâm lý tiêu dùng thông thường, lại không giống  quốc gia nào xét trên bình diện chung của tiền tệ trong khu vực.
          Những sự thay đổi đó vô hình chung đã đi ngược lại quyền lợi thiết yếu của người dân, với thói quen tiêu dùng và giao thương hàng hóa lâu đời bằng đồng tiền có lỗ xỏ dây, với việc cất trữ, tích lũy tiền với số lượng lớn của tầng lớp quan lại, địa chủ, thương lái...một bộ phận không nhỏ tầng lớp trên trong xã hội. Sự quá đỗi đó đã vượt ngưỡng khuôn phép của hoàn cảnh kinh tế- xã hội đương thời có thể chấp nhận được.
 Việc ban hành tiền giấy của nhà Hồ xem như thất bại. Cùng với sự sụp đổ của nhà Hồ, tiền giấy cũng chấm dứt lưu hành (1407). Đánh dẹp xong quân Minh, năm 1429, năm thứ hai sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã cho đúc tiền kim loại trở lại, nhân dân  trở về tiêu dùng đồng tiền tròn- lỗ vuông.
          Ngày nay giới sử học nói chung đánh giá cao mặt tích cực của Hồ Quý Ly, cho rằng Ông là một nhà cải cách táo bạo và hiếm có trong lịch sử Việt Nam nhằm hai mục đích: tăng cường chế độ tập quyền, giải quyết mâu thuẫn kinh tế- xã hội, giải phóng sức sản xuất... những điểm sáng, tích cực trong hoàn cảnh hạn chế của chế độ phong kiến Việt Nam đương thời.

           MT

Wednesday, June 1, 2011

01/07/2009 Về mạng lưới chợ Hà Nội xưa và nay


THỨ TƯ, 01 THÁNG 7 2009 14:18 NGUYỄN VINH PHÚC


Hà Nội xưa gọi là Kẻ Chợ, có nghĩa là vào thời đó Hà Nội – chính tên là Thăng Long – là nới hội tụ các ngành nghề, là nơi họp chợ, đáp ứng nhu cầu của Kinh đô là thị trường to nhất nước ta ngày ấy. Mà chợ Thăng Long thì bao gồm một mạng lưới thương nghiệp lớn nhỏ rải rác khắp đô thanh. Mật độ chợ dày đặc nhất là chốn mà nay ta gọi “khu phố cổ”. Chợ ở Hà Nội cổ đã xuất hiện từ rất sớm. Năm 1035, Vua nhà Lý “mở chợ Tây nhai với hành lang dài” (ở vào quãng chợ Ngọc Hà). Cũng thời gian nay, “Vua Thái Tông cho mở chợ về Cửa Đông (quãng phố Hàng Buồm ngày nay), hàng quán chen chúc sát đến bên đền Bạch Mã, rất huyên náo”.

Chợ Đồng Xuân 
Trong thế kỷ XVII – XVIII, mạng lưới chợ ở Thăng Long đã phát triển mạnh mẽ. Vì là nơi đô hội, tụ tập đông người, có nhiều phố xá nên mật độ các chợ ở đây dầy đặc hơn ở các nơi khác, nhất là tại khu 36 phố phường buôn bán tập trung. Riêng các chợ lớn ở Thăng Long có nộp thuws da trâu, Phan Huy Chú đã kể ra 8 chợ. Đó là các “chợ Cửa Đông, chợ Cửa Nam, chợ Huyện, chợ Đình Ngang, chợ Bà Đá, chợ Văn Cử, chợ Bác Cử và chợ Ong Nước”. Đến thế kỷ XIX, Đại Nam thống nhất chí ghi thêm các chợ Mới (quãng phố Hàng Chiếu), chợ Đông Thành (quãng phố Hàng Vải – hàng Gà), chợ Yên Thọ (Ô Cầu Dền), chợ Yên Thái (Bưởi).
Địa điểm họp chợ - cũng như ở các địa phương khác, các chợ ở Thăng Long – Hà Nội thường được lập nên ở những nơi công cộng, thuận tiện cho việc giao thông đi lại, trao đổi buôn bán, nhìn chung chợ thường được họp ở các cửa ô, cửa thành và bờ sông, bờ kênh.
Cửa ô là nơi dân chúng thuộc các làng xã phụ cận mang hàng hóa vào Kinh thành trao đổi với khối dân chúng nội thị.
Cửa thành là nơi ra vào, trao đổi thường xuyên giữa khối quan liêu – quân sĩ trong hoàng thành và khối bình dân ngoài phố xá. Hàng ngày, các gia nhân, nha lại của vua quan đã ra ngoài thành mua sắm một khối lượng lớn các thức ăn, vật phẩm cần thiêt. Vì thế chính ở cạnh các của thành, đã sớm xuất hiện các khu chợ đông đúc, sầm uất. Chợ Cửa thành xưa nhất của Thăng Long có khả năng là chợ Cửa Tây, thành lập từ đời Lý. Chợ Cửa Đông cũng là một chợ cổ và sầm uất, vì cửa Đông Môn (thời Lý Trần là của Đông Hoa) trực tiếp ăn thông ra khu vực buôn bán của Kinh thành (ở vào quãng Hàng Đường – Hàng Buồm bấy giờ). Thời nhà Nguyễn, Hàng Vải, Hàng Gà có chợ bán thực phẩm có tên là Hàng Gà. Chợ Cửa Nam là một chợ lớn của Thăng Long – Hà Nội, vì Cửa Nam (thời Lê là Cửa Đại Hưng) là nơi ra vào chính của vua chúa, quan lại và “tất cả những ai có việc phải đi đến Hoàng Thành”.

Chợ Cửa Nam 
Hai bên bờ sông Tô Lịch cũng là nơi họp chợ đông đúc, buôn bán tấp nập. Các chợ mọc lên hai bên bờ sông Tô, một số là chợ đặc sản, như các chợ Gạo (đầu cửa sông Tô), chợ Hàng Cá. Chợ cầu Đông (quãng ngã tư Hàng Đường – Chợ Gạo ngày nay) là một chợ bên bờ sông Tô, nổi tiếng của kinh thành, đã đi vào nhiều câu ca dao. Chợ Bạch Mã (tên gọi khác của chợ Cửa Đông) liên sát đó (quãng phố Hàng Buồm ngày nay), họp sát bờ sông Tô, trên bến dưới thuyền, hoạt động buôn bán rất tấp nập, đặc biệt là các phú thương Hoa Kiều.
Phạm Đình Hổ nhớ lại quang cảnh chợ phiên Bạch Mã cuối thể kỷ XVIII: “… Là một chợ buôn bán tấp nập huyên náo. Những quân trộm cắp hay thừa cơ cướp giật, có khi thò tay vào túi người ta móc lấy hết cả. Có khi chúng cố ý làm chợ ồn ào, đổ xô nhau mà chạy để rồi cắp bọc quần áo người ta hoặc khuân đồ vật hàng hóa”. 
Ngoài những nơi kể trên (cửa ô, cửa thành, bờ sông) còn phải kể đến một số lượng lớn các chợ lưu động, không tên của Thăng Long – Hà Nội, ở đó những người buôn bán rong, vặt vãnh, đã dọc theo các đường phố, những ngã ba, ngã tư, những khoảng đất trống, tóm lại là ở tất cả mọi nơi có người qua lại, ngồi bán hàng không cần hàng quán. Đây là cảnh một chợ loại đó và những năm 80 của thế kỷ XIX: “Việc thành lập một cái chợ không tốn kém gì cả, mà chỉ cần đến thời tiết tốt. Người nông dân ngồi ngay xuống đất, trên đường phố, hàng hóa để trong một vuông vải hay trong một cái làn, thậm trí trên đất bụi, nếu như họ không sợ làm hư hỏng loại hàng đó”.
Thời gian họp chợ: ở Thăng Long, việc chợ họp theo chu kỳ có lẽ đã có từ lâu lắm. Trần Cương Trung (sứ Trung Quốc sang Việt Nam đời Trần) đã có nhận xét là: “chợ cứ 2 ngày họp một lần”.
Tuy nhiên, khi xét cụ thể về thời gian họp chợ ở Thăng Long – Hà Nội thì các ý kiến không thống nhất. Dampier cho rằng: “Ở Kẻ Chợ, chợ họp trong tất cả mọi ngày”. Trong khi đó A.Rhodes, Baron, và Marini lại chép là “chợ ở Kẻ Chợ mỗi tháng có 2 phiên” (ngày rằm và mùng một). Còn Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút thì cho rằng ở Kinh kỳ “phiên chợ là các ngày 1, 6, 11, 14, 15, 21, 26, 30” (một tháng 8 phiên).

Phố Hàng Bạc 
Các mặt hàng buôn bán: chợ ở Thăng Long – Hà Nội là một loại chợ lớn trong toàn quốc, cho nên số lượng các mặt hàng buôn bán cũng rất lớn và phong phú. Hầu như tất cả mặt hàng trong và ngoài nước đều bầy bán ở đây.
Hàng nông sản: Do vị trí thuận lợi, đầu mối của các trục giao thông thủy bộ, do mật độ dân cư đông đảo và sự có mặt thường trực của một bộ máy hành chính – quân sự to lớn với những nhu cầu tiêu thụ hàng ngày của nó, một khối lợn nông sản khổng lồ từ các địa phương lân cận đã đổ về các chợ ở Thăng Long – Hà Nội để rồi được bán buôn bán lẻ trực tiếp cho người tiêu thụ. Đó là gạo, nông hải sản, thực phẩm, rau quả…
Hàng thủ công nghiệp: So với các mặt hàng nông sản thì hàng thủ công nghiệp không chỉ bầy bán tại các chợ mà còn bán nhiều tại các phố dành riêng cho từng mặt hàng, như các phố Hàng Đào bán tơ lụa, Hàng Ngang bán xiêm áo, Hàng Bạc bán đồ trang sức, kim hoàn, Hàng Đồng bán đồ đồng, phó Hài Tượng bán giầy dép, phố Bát Sứ bán đồ sứ… Tuy nhiên, đối với quảng đại quần chúng bình dân và nhất là đối với những người nông dân các vùng phụ cận kéo về Kẻ Chợ - Hà Nội trong các ngày phiên chợ thị họ vẫn thích mua trực tiếp các loại hàng đó ở ngay tại chợ, nó tiện lợi và cũng có thể giá rẻ hơn. Trước hết đó là các dụng cụ hàng ngày của người nông dân như cầy cuốc, nối niêu bát đĩa, các loại hàng vải vóc thông dụng mà quần chúng gọi là hàng tấm, các loại thuốc men cần dùng. Một số chợ buôn bán tập trung các mặt hàng đặc sản như chợ Hàng Tơ ở Hàng Đào buôn bán tơ lụa, chợ Bưởi chuyên bán các loại giấy sản xuất ở Yên Thái, Hồ Khẩu.
Phương thức mua bán: ở Việt Nam trung đại, từ lâu chợ vẫn là một nơi trao đổi tiếp xúc toàn diện giữa các cộng đồng người của các vùng lân cận, về các mặt kinh tê, văn hóa, lối sống và thông tin đại chúng. Ở Thăng Long – Hà Nội, chợ không những là một nơi trao đổi và tiếp xúc giữa các tầng lớp người trong phạm vi nội bộ đô thị và chủ yếu là một trung tâm trao đổi tiếp xúc giữa Kẻ Chợ và các vùng phụ cận. Nó là một sự đối ngoại thường trực, toàn diện giữa thành thị và nông thôn.
Nông dân các vùng phụ cận mang sản vật nông nghiệp hoặc thủ công nghiệp của mình vào bán tại các chợ, rồi dùng tiền đó mua sắm một ít các vật dụng cần thiết cho công việc sản xuất vào đời sống hàng ngày. Ở chợ Thăng Long – Hà Nội còn có một loại người buôn bán chuyên nghiệp, bán hàng trong các lều quán dựng sẵn, nhưng phần lớn cũng chỉ là những người buôn bán nhỏ hoặc trung bình.
Đa số những người đi chợ mua bán tại các chợ ở Thăng Long – Hà Nội là giới phụ nữa. Các lái buồn và giáo sĩ phương Tây khi đến Việt Nam đều nhận xét là phụ nữ Việt nam nói chung và phụ nữ Kẻ Chợ nói riêng đã có một “năng khiếu đặc biệt” về buôn bán. Marini đến Kẻ Chợ có nhận xét là: “những người phụ nữ ở đây mải mê với thương mại và họ không ngừng bận rộn về việc bán, mua”. Du khách Trung Quốc Phan Đỉnh Khuê đến Kẻ Chợ năm 1688 thì cho là “việc buôn bán ở Kẻ Chợ bao giờ cũng do giới phụ nữ đảm nhiệm”. Cuối thể kỷ XIX, Dumoutier quan sát tỉ mỉ hơn những phiên chợ ở Hà Nội, thấy là “cứ trong 100 người đi chợ, người ta đếm được 84 người đàn bà con gái”.
  • Ảnh bên : Phương án cải tạo chợ Hàng Da 
Đến thời Pháp thuộc, các chợ vẫn được duy trì, xây dựng cầu chợ hẳn hoi, để gom các chợ nhỏ vào thành một chợ lớn. Như chợ Đồng Xuân làm năm 1896 là gồm các chợ Bạch Mã, chợ Cầu Đông. Chợ Hàng Da và là gom các chợ Hàng Gà, chợ Đông Thành Thị. Chợ Mơ là gom các chợ Yên Thọ (Ô Cầu Dền) chợ Trung Hiện, Chợ Cửa Nam là gom các chợ Cửa Nam, Đình Ngang, Ong Nước… cũng thời này có thêm loại chợ Đuổi. Số là các chợ lớn cứ sẩm tối, là Khán chợ đuổi hết người ra khỏi khuôn việc chợ để khóa cổng. Những người bị đuổi này liền tụ tập ở gần đó. Vả lại dân ngheo cũng nhiều người lúc ấy mới đi làm về, cũng tìm tới chợ Đuổi để mua hàng. Ban đầu họ họp ở đầu Chợ Đuổi (tức phố Tuệ Tĩnh nay) sau do thành phố mở mang, lính cấm dồn  chợ về chỗ ngoại ô Vân Hồ. Ngày nay các chợ cũ vẫn hoạt động, song dân chúng muốn mua bán thuận tiện nên sinh ra các thứ chợ cóc bên vỉa hè, họp chớp nhoáng và buổi tan tầm (có nơi chợ cóc mà họp cả ngày). Chung tôi cho rằng sự tồn tại chợ cóc là một hình ảnh không văn minh, mang tính tiểu nông manh mún. Song giải quyết không dễ, vì những người bán hàng ở đây đại bộ phận là dân nghèo ngoại ô, triệt để phá chợ cóc thì ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của họ (thực tế là thành phố đã nhiều phen dẹp chợ cóc song chỉ độ 1, 2 ngày đâu lại hoàn đấy). Lại thêm thời gian của người mua, đa số là công nhân viên, đi làm về, sà vào vỉa hè mua mớ rau, con cá cũng rất tiện, đỡ phải gửi xe lích kích, tốn tiền. Cách ngôn Pháp có câu: La civilisation se voit sur la route (văn minh thể hiện trên đường phố) thì rõ Hà Nội chưa văn minh. Đó là một vấn nạn.
Tôi còn một ý nghĩ nữa về việc cải tạo nâng cao tầng các chợ như Cửa Nam, Hàng Da. Quãng chợ toàn là đương hẹp, phố phường đông đúc quá rồi. Nay các chợ đó thành văn phòng, siêu thị, xe cộ ra vào rầm rập suốt ngày thì ở ngã tư Nguyễn Khuyến – Lê Duẩn – Hai Bà Trưng – Cửa Nam sự đi lại sẽ ra sao? Cả ngã tư Nguyễn Quang Bích – Đường Thành – Hàng Da cũng ăm ắp ô tô ra vào siêu thị văn phòng và cả vào chợ Hàng Da mới thì giao thông sẽ ra sao? Tôi chưa hình dung nổi.
Nguyễn Vinh Phúc 
(Bài tham luận tại Hội thảo "Hà Nội : thành phố thân thiện và sống tốt cho cộng đồng" (Hanoi : a Livable City for all) diễn ra trong hai ngày 1-2/7/2009) 

15/03/2009 Quy hoạch hồ Gươm - việc đại sự không thể xem thường


CHỦ NHẬT, 15 THÁNG 3 2009 16:27 PGS.TS TÔN ĐẠI / LAO ĐỘNG

1 - Chúng tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu Quy hoạch tổng thể hồ Gươm một cách bài bản và rộng rãi vào thời điểm này là đúng lúc. Sớm hơn, khi VN chưa gia nhập WTO, khi Hà Nội chưa mở rộng thì chưa đủ thế và tầm nhìn. Muộn nữa, e rằng lúc đó ta đã phá xong khu vực này một cách không thể cứu chữa.

2 - Trong các phương án tham dự cuộc thi "Ý tưởng quy hoạch hồ Gươm" có khá nhiều đề xuất mạnh bạo, đáng chú ý. Như phá dỡ số nhà cũ (chủ yếu xây sau năm 1955) nay không còn phù hợp và đã bị dư luận coi là chưa thoả đáng. Như mở ra một số mảng xanh rất cần thiết để tôn vinh cảnh quan. Như khôi phục và tôn tạo các cơ sở tâm linh của hồ Gươm v.v...

Các bạn người nước ngoài đã có cử chỉ đẹp khi nhiệt tình cùng chúng ta đóng góp những suy nghĩ có nghiệp vụ cao về hồ Gươm.
3 - Bên cạnh đó, theo chúng tôi, vẫn còn mấy điều chưa được làm tốt trong cuộc thi này.

Một là đề bài chưa rõ. Người thi phải tự mình hình dung ra các chức năng để lý giải. Vì vậy hoặc đề suất quá nhiều chức năng, hoặc quá cường điệu chức năng này mà coi nhẹ các chức năng quan trọng khác.

Muốn có ý tưởng tốt thì trước tiên phải khẳng định được các chức năng. Chỉ riêng chức năng trung tâm hành chính của thành phố có còn ở khu vực này hay không đã dẫn đến các ý tưởng và giải pháp khác nhau rất xa rồi.

Hai là một số bên tham gia có thể đã có sự nhầm lẫn về một cuộc thi ý tưởng.  Tuy vẽ nhiều, nhưng ý tưởng dàn trải, thiếu chiếu sâu, có khi còn làm phai nhạt và phương hại đến những chức năng cốt lõi nhất của hồ Gươm và khu vực xung quanh. Kèm theo là sự sa đà vào những giải pháp chi tiết và trình diễn phối cảnh rầm rộ, làm phân tán chủ đề ý tưởng.

Có đề suất phá hầu hết các di tích nay đã thành di sản để thay bằng loạt nhà hộp diêm như thể với một khu đất mới vô hồn vô cảm nào đó.

Có một ví dụ để so sánh: Khoảng 50 năm trước, trong cuộc thi thiết kế thủ đô Brasilia (Nam Mỹ) có đông các nước tham gia, nhiều phương án được vẽ trên những panô lớn rất hoành tráng, nhưng giải nhất lại thuộc về mấy bản vẽ tay trên vài tờ giấy học trò, trong đó có những ý tưởng kiệt xuất.

Ý tưởng hay thường kiệm lời. 

Ba là nếu dùng số tiền đầu tư vừa qua để tổ chức thi theo cách khác thì có lẽ sẽ đúng trình tự hơn, và hiệu quả chắc chắn sẽ cao hơn. Đó là cách trưng cầu ý kiến rộng rãi trong nhân dân. Bởi hồ Gươm không chỉ là tài sản riêng của Hà Nội, mà là báu vật của toàn dân.

Nên chăng nới rộng phạm vi đề suất ý tưởng ra xa hơn một chút nữa, sang phía đông hoặc xuống phía nam hồ Gươm. Biết đâu, việc nối liền với khu vực ngoài đê lại cho được những ý tưởng đẹp bất ngờ?

Chúng tôi cho rằng cần sớm phát động một cuộc thu thập ý tưởng mới để cho mọi người tâm huyết từ bắc đến nam và ở nước ngoài đều được tham gia. Với họ, thù lao chắc chắn chưa phải là mối quan tâm đầu tiên. Sau đó phải triển lãm dài ngày ở những vị trí thuận tiện.

Chỉ sau khi đã khẳng định được các chức năng và sau khi đã chọn lựa được các ý tưởng hay từ đề xuất của toàn dân mới nên giao lại cho các nhà chuyên môn kiến trúc-quy hoach triển khai tiếp.
Các phương án đoạt giải (nguồn: Ashui.com):   
Phương án của Liên danh "1+1>2" Group và Academia Italia (Việt Nam / Ý) - Giải Nhì (không có giải Nhất):  
Phương án của Công ty Nikken Sekkei Civil Engineering Ltd (Nhật Bản) - đồng Giải Nhì:

Phương án của MQLPAU and Partners (Việt Nam/Đức) - Giải Ba:

4 - Trong tổng thể Hà Nội, hồ Gươm là vùng đất thiêng, có vai trò và ý nghĩa độc nhất vô nhị. "Long" có "Thăng" cũng là từ đây. Dù đã từng xảy ra một vài hành vi khuất tất trong công việc xây dựng trước đây đi chăng nữa, thì từ nay trở đi, chắc khó có ai dám làm những điều xằng bậy ở khu vực hồ Gươm này để bị thánh nhân trừng phạt.

Việc quy hoạch hồ Gươm là khó, nhưng một khi đã tập hợp được trí tuệ và ý nguyện của toàn dân thì dần dần, từng bước một, từng năm một, tin rằng chúng ta sẽ làm được những điều tốt đẹp cho các thế hệ tiếp sau.

Việc lớn không thể làm qua quýt hoặc vội vã, nhưng càng không thể nhẩn nha, được đến đâu hay đến đó; Bởi công cuộc kiến thiết Hà Nội đang sôi động từng ngày, không cho phép chờ lâu.

Có thể khẳng định rằng: bây giờ, hoặc không bao giờ, chúng ta cần đến một sự suy nghĩ đúng về Hồ Gươm, và có một lộ trình sáng để theo đó mà làm dần, có thể là từ nay đến giữa thế kỷ.

Kết quả tới đây có tốt đẹp hay không phụ thuộc vào những con người đủ phẩm chất và có cách làm chuẩn xác.

(nguồn ảnh: Ashui.com) 
Thay mặt nhóm KTS cao tuổi Hà Nội,
PGS.TS Tôn Đại,
Chủ tịch Hội KTS cao tuổi Hà Nội

09/12/2008 Những câu chuyện "quái đản" trong bảo tồn di tích hiện nay! - Phần 2


THỨ BA, 09 THÁNG 12 2008 08:06 ĐỖ LÃNG QUÂN / VIETIMES

Trong cụm từ xuyên suốt hệ thống di sản ở Việt Nam đã nhắc ở đoạn trên, “Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài”, xứ Đoài là quê hương của hầu hết các ngôi đình cổ và quý giá. Thế nhưng, đình Mông Phụ bị xây mới sau rất nhiều so với Đình Tây Đằng (Ba Vì, Hà Nội) và các ngôi đình “đệ nhất thiên hạ” khác bị tàn phá vì trùng tu, số tiền cũng vẫn ở mức to lớn: ngót chục tỷ đồng. Vấn đề đặt ra là: tại sao tất cả cùng phản đối, mà người ta vẫn cứ ào ào xây dựng? Tai họ điếc, mắt họ lòa, nhận thức của họ tối thui?

Phần 1 ]


Các pho cổng cổ, trùm xòa cây dại, phủ bóng thời gian đầy quyến rũ ở thành cổ Sơn Tây,
tòa thành cổ còn nguyên vẹn nhất Việt Nam hiện nay (ảnh chụp tháng 11 năm 2008).


Không phải thế. Vấn đề là người ta ngụy trang, người ta đã ngụy biện để cố tình làm cái việc mà ai cũng biết là chẳng giống ai và “bất nhân” với những giá trị muôn một của cha anh. Giặc giã, chiến tranh, thời tiết khắc nghiệt làm mai một di tích, đã là đau lòng lắm. Dẫu vẫn biết chuyện đó bất khả kháng (chưa kể, đôi lúc sự khắc nghiệt của thời tiết nhiệt đới ẩm còn làm các di tích có vẻ đẹp rêu phong “tợn” hơn ở miền nắng gió khác). Nhưng, trần trụi lắm, cái việc biết làm mới di tích là tàn tệ, là bất nhẫn với cha anh và mai hậu mà người ta vẫn lồi lồi làm bằng được còn đau lòng gấp… vạn lần. Không ai dám phá di tích, vì đã có luật pháp chở che cho các giá trị quý hóa đó. Nhưng người ta lại vẫn “phá” di tích một cách hợp pháp, bằng cái gọi là dự án trùng tu đầy bất cập.

Tôi đặc biệt ám ảnh trong cái vụ báo chí cực lực lên tiếng trong dự án trùng tu Di tích Lam Kinh ở Thanh Hóa, có tờ báo phản đối đến… 10 bài. Thế mà đâu vẫn đóng đó. Tôi từng mất ăn mất ngủ viết nhiều bài cho cuộc trường chinh phản đối dự án trùng tu Thành cổ Sơn Tây, ngôi thành Vơ-ban đang còn nguyên vẹn nhất, đẹp đệ nhất Việt Nam. Họ bỏ gần 50 tỷ ra với mục đích dựng lại toàn bộ ngôi thành giống như cái hồi nó mới được xây dựng lần gần đây nhất, cách nay 200 năm! Chu vi bốn kilomet tường thành, 3 pho cổng, hào nước sâu dài hơn 4km, các vọng gác cao, cột cờ, các nhà lộng lẫy cho vua… ngự khi tuần du qua Sơn Tây (kiến trúc giống hệt Thành cổ Hà Nội) sẽ được phục dựng y như trong bức ảnh nào đó mà người ta còn giữ được (người Pháp chụp). Đặc biệt quyến hồn người ta là các pho cổng cổ, cây si cây đa cây đề cổ thụ phủ trùm lên nóc cổng, biến cái cổng thành những kỳ quan thiên nhiên, thành những cái cổng thành đẹp nhất Việt Nam. Hàng triệu tấm ảnh, hàng nghìn thước phim đã được “bấm” ở đó, nhiều thế hệ người Hà Nội đã trải lòng mình với di tích đó. Nay người ta phá, xây mới. Lý do: thành cũ khi mới khánh thành, dĩ nhiên chỉ có đá gạch, không có cây dại, cây cổ thụ là thứ… ngoại lai do với di tích. Phải phun hóa chất cho chết, phải phá thành ra xây mới để… phục dựng 100%. Lời của anh kỹ sư tên là Ba ấy được báo chí đăng tải, làn sóng vận động cứu thành cổ Sơn Tây ầm ĩ cả nước. Cuối cùng dự án phá cổng, phá thành phải dừng lại ở nhiều hạng mục. Các đống đá ong mới chít xi măng có mọc lên, nhưng ở mức độ chưa tang thương lắm. Tôi, với tư cách nhà báo, từng lý luận với những người vượt hào sâu nhảy vào “phá thành” ở Sơn Tây, rằng sao các vị không phá Văn Miếu mà xây mới cho nói giống cái hồi năm 1070 (quãng ấy) nhà Lý đã xây dựng? Sao các vị không phá Hoàng Thành Huế mà “phục dựng mới toe” nhưng hồi nhà Nguyễn mới xây? Sao các vị không đi cạo rêu, cạo sứt sẹo ở tất tật hàng vạn vạn di tích ở Việt Nam này, chỉ bởi rêu thì chưa hề mọc khi di tích mới được xây dựng, cần phải “hạ gục nhanh, tiêu diệt gọn”?


Tuy nhiên, những cái cổng trên còn lại cho mai hậu, là nó đã phải trải qua rất nhiều vật lộn,
qua rất nhiều sự "chiến đấu" vệ thành của báo chí và các bậc trí giả. Năm 2006, lại thêm
một lần cơ quan trùng tu di tích đã lên kế hoạch, đã đầu tư tiền để phá nốt các cái cổng
trên mà... xây mới. Xin hãy nhìn nỗi đau phá thành trong thời bình, bằng cách xem bức ảnh
chụp một cái cổng đẹp nhất của Thành cổ Sơn Tây sau khi bị bàn tay "nhơ âẩn" của người
trùng tu tôn tạo đụng vào. Pho cổng cổ lừng danh, giờ chỉ còn là khối bê tông mốc thếch,
chết cứng.


Tôi kỳ lạ, làm làm sao phong trào xây mới, tô tượng, đẽo rêu phong cũ càng ở các di tích cứ tiếp tục, dẫu quá nhiều bậc trí giả, quá nhiều người tâm huyết đã xả thân cảnh báo? Có người giải thích: nếu cứ để đình chùa miếu mạo phủ trong khói nhang và rêu phong cổ kính, thì làm gì có tiền tỷ đổ vào di tích để người ta thi nhau “hái khế ngọt” (Bên A là chùm khế ngọt, bên B cũng là … chùm khế ngọt, hai bên cùng trèo hái mỗi ngày!). Và người ta phải nghĩ ra dự án. Lúc đầu, một số người ở thôn ổ ấu trĩ cho rằng, tự dưng người ta đem cả chục tỷ đồng cho quê mình, tội gì không nhận. Sau, nhiều người tỉnh ngộ, chính các cụ râu dài tóc bạc lại lớn tiếng đòi… không được đổ tiền vào di tích quê tôi, vì nó còn quá vững bền để tín ngưỡng và thưởng ngoạn. Mặc, các cụ nói thì cứ nói, người ta vẫn phá di tích bằng mọi giá. Lúc ấy, cái đuôi Hồ Ly Tinh của không ít dự án xây mới di tích mới lòi ra. 

Quái đản.

Hoạ sĩ Thành Chương là một người say mê làng Việt cổ Đường Lâm. Nghe nói, quá tiếc nuối những viên đá ong hàng trăm năm tuổi ở di tích đình làng Mông Phụ bị vứt bỏ, có lần anh đã hỏi cánh thợ xin... mua lại cho đỡ buốt lòng.

Trên Báo Thanh Niên (tuần san) số ra ngày 20.4.2007, khi được hỏi, "anh cho vài ví dụ" về việc đầu tư tiền vào di tích "còn tệ hại hơn là phá" (lời Thành Chương), hoạ sĩ nói: "Ví như Đình Mông Phụ bị phá tan tành để làm một ngôi đình mới, chùa Dâu (được tu sửa khiến cho) y như hình ảnh quán ăn Ngon. Tại sao lại có thể bảo tồn theo cách ấy?".


Khổ pho cổng quý của người dân xứ Đoài đã từng tự hào từ hàng thế kỷ qua. Nó bị phá,
rồi không một ai thèm bén mảng đến cái nơi "tàn tích" của sự ấu trĩ trong trùng tu di tích
ấy nữa. Cổng thành trở thành một cái... cầu thang bê tông bỏ hoang. Chỉ có những lao công
quét rác lợi dụng cổng thành để cất giữ... đồ nghề. Nhục nhằn thay, tê tái thay.


"Các di tích chưa được xếp hạng thì việc trùng tu hoàn toàn là tự phát, các dấu tích có giá trị lịch sử và nghệ thuật cao sẽ càng có nhiều nguy cơ bị mai một. Tình trạng mai một kiến trúc cổ của ta, không phải chỉ vì những lý do khách quan như chiến tranh, thời tiết... Ngày xưa, là không có tiền để tu sửa, bây giờ thì nhiều khi lại vì có tiền mà thiếu hiểu biết nên được/bị tu sửa theo kiểu "hiện đại hoá".
(Trích phát biểu của nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Kiên - một trong những người chủ trì dự án "Điều tra cơ bản về di tích kiến trúc cổ truyền của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ - Việt Nam").

(Mở ngoặc: có một sự thật là, có nhiều hạng mục di tích bằng gỗ, bằng tranh tre, bằng các vật liệu bị thời gian gặm mòn khác đang xuống cấp trầm trọng. Lúc ấy, việc đầu tư, tôn tạo một cách có văn hóa, có bài bản là cần thiết, là sống còn. Việc ra đời cái gọi là phong trào tôn tạo di tích, là dĩ nhiên. Song, ở quá nhiều nơi, người ta đã lợi dụng điều này để làm điều tà tâm (kiếm tiền). Tiền họ bỏ túi họ là một nhẽ, cái đáng sợ hơn, cung cách để vét tiền vào túi tham của họ là… phải giết chết di tích bằng cách xây mới, tống xi măng vôi cát, sắt thép và màu mè vào những giá trị muôn một đến từ hàng trăm hàng nghìn năm cũ. Một thủ phạm giết di tích nữa là chính bà con ở nơi thôn cùng ngõ vắng, họ nghĩ rằng làm mới di tích, tô vẽ tượng thờ là cách để thể hiện lòng lành với Thánh, Phật, Nhân Thần, Thành Hoàng…).  

08/12/2008 Những câu chuyện "quái đản" trong bảo tồn di tích hiện nay! - Phần 1


THỨ HAI, 08 THÁNG 12 2008 09:21 ĐỖ LÃNG QUÂN / VIETIMES


Trong những năm mê mải đi theo các giá trị di tích lịch sử văn hóa trên khắp mọi miền tổ quốc mình, tôi hay bắt gặp những câu thở dài kiểu đó của người già. “Thời loạn, “giặc” nó cũng chả phá đình chùa miếu mạo nhiều như… bây giờ”. Đúng, nặng lòng với các di tích cổ nhất, bao giờ cũng là những bậc lão trượng cao niên. Bởi tuổi tác đã biến họ “kỹ” hơn để trở thành một phần của lịch sử, thành một “báu vật nhân văn sống” không thể thiếu của lịch sử, họ biết hơn ai hết giá trị không thể thay thế của “cái cũ” - tỷ dụ những trầm tích văn hóa kết tinh trong các di tích lịch sử văn hóa. Người già, họ sống qua bao chiến tranh, giặc giã, lửa loạn, bão lụt, tố lốc, cả những quyết sách đầy bất cập của gần một thế kỷ qua; qua thời thuộc Pháp, thời “lập tề”, “tái chiếm”; thời thuộc Mỹ, thời bao cấp, giờ đây là thời buổi tên lửa vũ trụ Thế Kỷ Hai Mươi Mốt “hội nhập điên cuồng”; nhưng chưa bao giờ hệ thống di tích của chúng ta bị “xâm hại” một cách chính thống, quy mô như hiện nay!


Làng Việt Cổ Dường Lâm, di tích quốc gia làng cổ đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam đã bị
các dự án trùng tu tôn tạo giết chết từng ngày. Đình Làng cách đây vài năm...


Tại sao thế? Tại sao chúng ta đi tô tượng, sửa chùa, đập đình làng ra xây mới, phá cổ thành cổ tan hoang ra để… tống xi măng sắt thép vào? Cái đó, người ta gọi mỹ miều là trùng tu tôn tạo di tích lịch sử văn hóa. Có phải họ bất cập về nhận thức để rồi cứ lồi lồi làm việc sai lầm đó, bất chấp dư luận cực lực công kích suốt cả những thập niên qua? Xin thưa là không phải. Chân lý nằm ở chỗ: phải trùng tu, xây mới thì người ta mới có việc làm, việc làm liên quan đến kinh phí, có kinh phí (thường là tiền tỷ) thì mới được “xà xẻo”?

Di tích, với tôi, như tấm dư đồ mến thương giúp cháu con có thể tìm về bước chân sáng tạo đáng tự hào của cha anh suốt dọc “từ thuở mang gươm đi mở cõi”; di tích như con đường rộng - đẹp và kính cẩn nhất để chúng ta có thể hiểu nhiều hơn về Tổ quốc. Vừa là bản năng, vừa là văn minh, cái việc ngoái lại với rêu phong cũ càng, với trầm tích văn hóa lịch sử luôn là một nhu cầu thiết cốt. Nó cũng cần như chính việc hướng tới tương lai vậy. Như việc chúng ta thờ cúng tổ tiên và quỳ lạy trước công ơn dưỡng dục hoặc (và) sinh thành của tổ phụ vậy. Nhân loại thời cũ và cả nhân loại “thời Sao hỏa Mặt trăng” bây giờ, họ luôn tự nguyện, vô hình trung chia cộng đồng của mình làm hai toán, toán ngoái lại tìm hiểu quá khứ, toán xăng xái hướng tới tương lai, hai toán cùng nhắm vào một mục tiêu chung: chúng ta phải như thế, như thế mới là con người. Con người rất Thật Thà.


...và rồi người ta phá tan tành thành bình địa ngổn ngang như thế này để hầu như xây mới.
Không ai chấp nhận được sự lai căng, cẩu thả trong xây mới ngôi đình chưa hề hỏng hóc,
xuống cấp (cũng là Di tích quốc gia) đó. Nhưng, rồi mọi chuyện đâu lại vào đó, nghĩa là sẽ
còn nhiều di tích khác chung số phận với những di tích đã chết như Đình Mông Phụ.


Vậy mà, chúng ta đã đối xử với di tích như thế nào? Khoan hãy nói hàng nghìn di tích bị biến thành… chuồng nhốt bò, quán bán phở, bãi gửi xe, thậm chí bị tàn phá tan hoang để xây cất các công trình “mất dạy”, chúng ta hẵng chỉ đề cập đến những di tích được “vua biết mặt chúa biết tên” (vẫn mang tiếng được bảo vệ vòng trong vòng ngoài) cũng đã đủ chua xót. Trong “bản đồ” văn hóa đậm sắc nhất của Việt Nam, có câu: “Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài”. Xứ Bắc (Hà Bắc cũ, nay là Bắc Ninh và Bắc Giang) là quê hương của những ngôi chùa tuyệt kỹ nhất Việt Nam. Vậy mà, khi có mặt ở chùa Dâu nổi tiếng, Họa sỹ Thành Chương (người đặc biệt yêu văn hóa cổ, người đầu tiên ở Việt Nam đã đầu tư rất nhiều tỷ đồng để mở một cái phủ - ta quen gọi là Phủ Thành Chương - khổng lồ trưng bày di vật văn hóa vô giá của nước ta, trở thành địa chỉ văn hóa của người Việt và nhiều nước khác. Đến mức, tôi từng chứng kiến tận mắt, khi đến Việt Nam, cả Hoàng hậu Thụy Điển cũng phải thăm phủ Thành Chương, rồi ao ước sẽ đưa cả Đức Vua trở lại phủ), ông Chương đã phải ngửa cổ lên trời than: tại sao lại có thể bảo tồn theo cách ấy? Sao lại tu sửa chùa Dâu thành một hình ảnh như quán ăn Ngon (tên một hệ thống quán ăn ở Hà Nội và Sài Gòn) thế này?

Chúng tôi thử làm một hành trình thăm viếng chùa, đình, miếu mạo xứ Bắc “mỗi bước chân mỗi huyền thoại” từ Gia Lâm (Hà Nội) ngược hàng chục ngôi chùa lên mãi tuyến Thuận Thành (Bắc Ninh), thì thấy nơi đâu cũng ào ào “xây mới” chùa tô tượng. Nhà nghiên cứu mỹ thuật danh tiếng Phan Cẩm Thượng (người đã sống ở khắp các ngôi chùa viết sách nghiên cứu và giảng dạy ở Trường Đại học Mỹ thuật nhiều năm qua) đã thực sự tỏ ra hãi hùng trước phong trào “dựng chùa”, tô tượng hiện nay. Chùa Bút Tháp, nơi ông Thượng đã sống may mắn giữ được khá nguyên bản các nét kiến trúc xưa. Số còn lại, hầu hết bị biến dạng vì… tiền. Có tiền là xây. Đình chùa miếu mạo càng lắm người “công đức” thì càng xây dựng ác chiến, thành thử, bỏ tiền vào di tích (ở những nơi này) cũng có nghĩa là “thảm sát” di tích. Tôi thật sự hoang mang khi những bà vãi cứ vung tay tự hào giới thiệu: năm tới, hội đồng bô lão chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu sơn phết lại hết số tượng này. Còn ông “Bụt Ốc” (tức là tượng Phật Tổ Như Lai, ông đội cái mũ gồm những hình tròn be bé như có đám ốc rêu bám quanh) to quá, sơn mất nhiều tiền lắm, chúng tôi đang vận động công đức để sơn đen kịt toàn bộ vào dịp đầu xuân. Rồi bà chỉ vào cái hòm to tướng viết cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt, túm lại là hòm bỏ tiền vào để sơn lại… toàn bộ chùa rồi ngập ngừng yêu cầu nhà bảo bỏ tiền vào! Cái phong trào quét hết rêu phong, gọt hết nước thời gian ngưng đọng ở di tích đi kia, thật quái đản.


Ví dụ như cái cổng làng tuyệt đẹp từng được mệnh danh là nơi được chụp ảnh quy phim,
lên tivi báo chí nhiều nhất Việt Nam này
..

Điều đáng nói là “phong trào” ấu trĩ, thậm ngu dốt này cứ tồn tại, bất chấp sự phản đối dai dẳng và máu lửa của những người thật sự yêu văn hóa cổ. Làng Việt cổ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội), là di tích quốc gia làng cổ đầu tiên và duy nhất của Việt Nam (tính đến giờ phút này), chỉ trong vài năm triển khai dự án khoảng hai trăm tỷ, người ta đã hầu như đã “dọn dẹp” hết các dấu tích bốn nghìn năm lịch sử kết tinh ở đây! Đình làng bị rỡ toàn bộ ra, biến ngôi đình Mông Phụ, di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ba trăm năm tuổi thành bình địa (bãi đất trống) rồi dựng lại. Những hạng mục vô giá từng làm mê hồn bao nhiêu nghệ sỹ, nhà nghiên cứu, du khách nhiều quốc gia được tháo ra, vứt bỏ vật liệu cũ, tống vôi cát xi măng và gỗ lạt mới vào. Hơn 10 tỷ tiền thuế của nhân dân được ném vào làm việc “giết người không dao” ấy. Trên Báo Thanh Niên, họa sỹ tâm huyết Thành Chương đã lớn tiếng phản đối dự án “phá tan tành để xây mới” (từ ngữ trong nguyên văn) đình Mông Phụ, nhiều tờ báo vào cuộc thống thiết. Nhưng dự án cuối cùng vẫn thành công tốt đẹp. Kết quả là một ngôi đình mới, nó được bôi keo con voi ở các mộng mẹo, nó bị lệch hướng so với ngôi đình cũ cả… một mét; gạch sân đình được lát theo đúng cái lối mà người xưa cực kỳ kiêng kỵ ngõ hầu tránh “điềm gở” (tức là lát kiểu khác so với 300 năm qua!). Bô lão kéo lên phản đối ầm ầm. Cây cổ thụ, bới tre, con đường đất, ngõ cổ, vòm đá cổ, cổng làng từng hằn in trong cảm nhận của cả quốc dân đồng bào kia… tất cả đã biến mất. Du khách giờ đây đến Đường Lâm để xem một đại công trình mới toe. Nhân đây mới nhớ lời nhà sử học Dương Trung Quốc từng nói với chúng tôi: phố cổ (thật ra là phố cũ, tấm áo rách!) Hà Nội rồi nó sẽ là cái gì (nếu cứ tình trạng hiện nay)? Nó sẽ là một khu phố, như bất cứ khu phố mới xây dựng nào trên xứ sở này. Chúng ta đối xử với Phố Cổ Hà Nội (hoặc Đường Lâm? – NV) như thế nào? Như một nhành hoa hay như một miếng bánh? Miếng bánh để ăn cho vài cái mồm, nhành hoa để cả nhân loại cùng đắm say - như cái gì? Họ đối xử di sản kia như một nhành hoa vẽ trên miếng bánh thơm ngon, và họ ăn cả hoa lẫn bánh!


Cũng đã bị gỡ ra toàn bộ để làm... như mới!

Tâm sự của người đi tiên phong tố cáo nạn “xây mới di tích”

Ông Kiều Văn Triệu ngoài bảy mươi tuổi, lưng còng như một con lạc đà đau khổ giữa trưa nắng sa mạc xứ Đoài, để phản đối dự án “xây mới” Đình Mông Phụ, một ngôi đình đẹp như viên ngọc báu của kiến trúc đình Việt Nam, ngôi đình chưa hề bị hư hỏng tí nào.

Theo ông Triệu: làng Việt cổ Đường Lâm giờ bị đẽo hết cây xanh để đóng đèn cao áp, rải nhựa toàn bộ. Ông còn lên thẳng Ủy ban xã, gọi hai vị lãnh đạo chủ chốt của xã "ra sân đình mà xem chúng nó làm hỏng hết cả đình làng. Chủ tịch xã miễn cưỡng có mặt, cười mát mẻ không nói gì. Một người nào đó có mặt lúc đó “nói leo”: rằng, dự án nhà nước thì nhà nước làm, tiền của nhà nước bỏ ra, mình chả mất gì, tự dưng có đình mới, mà nói ra nói vào chỉ tổ "trung ngôn nghịch nhĩ" (nói thật lắm kẻ không ưa). Cứ để cho người ta làm.

Ông Triệu là cây sử sống, là bậc túc nho trong cả vùng nên ông rất hiểu phong tục và ăn hóa cha ông truyền lại, nhất là những gì liên quan đến Đình làng. Ông khăng khăng lôi nhà báo và mọi người đến, tay ông già cầm cành que và cẩn thận đo bốn góc ngôi đình mới được rỡ ra "đóng mới". Đo diện tích đình gỗ và đo cái nền gạch cũ (khi rỡ đình họ để nguyên nền gạch) để chứng minh rằng: toàn bộ tòa đình gỗ bị "dựng" lệch so với nền cũ những 15cm. Thế là thay đổi hướng đình.

Ông Triệu và bà con lại nhất nhất phản đối cái việc người ta lát gạch đâm xiên vào giữa đình. Đến ngôi nhà người ta, cũng chả ai dám làm "sái" thế bao giờ. Đứng trong nhà nhìn ra, các mạch vữa lát gạch phải đan nhau tạo thành những hình chữ "công" (chữ Nho), chứ ai lại mạch vữa đâm tua tủa vào giữa hậu cung đình thế này. Ông Đào Quang Khải, người phụ trách thi công "đại công trình" sửa đình làng Mông Phụ đã phải công nhận là mép hai cột đình (mặt tiền) so với hai mép gạch cũ của nền đình, lệch mất khoảng 15cm như ông Triệu nói. Nhiều mộng cột há mồm như... hang cọp vì lắp ẩu. Khu lát gạch ở gian giữa khu đình, lát lên bóc ra, lại lát đẽo gọt gạch mà méo vẫn hoàn méo. Đình dựng lại ba bốn lần, mà vẫn lệch khung. Ông Khải cũng công nhận là các họa tiết, trang trí cũ và mới, vì không làm khít được nên phải đổ mất rất nhiều lọ keo "con voi" (keo công nghiệp 502) vào để dán thì mới được.

Hiện nay, sân đình Mông Phụ đã được lát lại, nhận thức về việc người ta phá đình làng mình đã được bà con hiểu ra. Ông Triệu đã “chiến thắng”, dù đình làng vẫn cứ bị đập đi những giá trị muôn một để làm mới. Buồn thay!  

Phần 2 ]