Showing posts with label tho van. Show all posts
Showing posts with label tho van. Show all posts

Saturday, March 24, 2012

Nói Lái Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Việt Nam

From: Trang Bui <mytrangbui@yahoo; 

Trích đăng từ

Nói Lái Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Việt Nam


Theo định nghĩa chung chung của một số nhà Ngôn ngữ học thì Nói lái là nói bằng cách giao hoán âm đầu vần và thanh điệu hoặc trật tự của hai âm tiết để tạo thành nghĩa khác hẳn và cho rằng đây là một trong những đặc trưng của tiếng Việt, nhằm mục đích đố chữ, bông đùa, chơi chữ hay châm biếm. Thí dụ như "lộng kiếng" nói lái thành "liệng cống" hay "đầu tiên" thành "tiền đâu", "đơn giản" thành "đang giỡn"…

Có người còn cho rằng Nói lái là một đặc điểm độc đáo của tiếng Việt mà các ngôn ngữ khác không có, khi nói lái người ta phải chọn một nhóm hai hoặc ba tiếng rồi hoán vị các phụ âm hoặc các thanh của những tiếng đó cho nhau. Chẳng hạn như "Vũ như Cẩn" thành "vẫn như cũ" hay "Nguyễn y Vân" thành "vẫn y nguyên" hoặc "bảng đỏ sao vàng" thành "bỏ Đảng sang giàu"…

Sunday, February 19, 2012

Hình ảnh Huế xưa



Thu Phong sưu tầm
  
Phần nhạc đệm ~ Hò Mái Nhì ~ Vân Khánh ca
Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
ai ngồi ai câu, ai sầu, ai thảm,
ai thương ai cảm, ai nhớ ai trông,
 thuyền ai thấp thoáng trên sông,
đã đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non…
Huế nhìn từ cao

Monday, September 26, 2011

26/09 Không bảo thủ: “Quen mắt thì răng trắng lại đẹp hơn đen”



Bài viết được đăng lúc 10:48:21 AM, 26.09.2011
Phan Kế Bính - Ảnh: vietthuc.org
THI THOẠI

       Nhân 90 năm ngày mất Phan Kế Bính (1921– 2011)

Phan Kế Bính hiệu là Bưu Văn, bút danh Liên Hồ Tử, người làng Thụy Khuê (làng Bưởi), huyện Hoàng Long, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội, thọ 46 tuổi (1875 - 1921).

Năm 1906, 31 tuổi, ông thi Hương, đỗ cử nhân Hán học nhưng không ra làm quan mà sớm bước chân vào làng báo từ năm 1907, cộng tác với Đăng cổ tùng báo,Lục tỉnh tân văn... phụ trách các phần Hán văn, dịch thuật, biên khảo. Ông là nhân vật trọng yếu trong ban biên tập “Đông Dương tạp chí”, chuyên giới thiệu tư tưởng, văn hóa, văn học Việt Nam và Trung Quốc. Từ đó, ông liên tục hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, báo chí. Kể từ khi thi đỗ cử nhân Hán học đến khi qua đời, tuy chỉ có 15 năm nhưng ông đã để lại cho hậu thế một di sản văn hóa lớn. Từ năm 1907, ông đã hoàn thành bản dịch bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của Trung Quốc “Tam quốc diễn nghĩa”, tiếp đó là các bản dịch “Đại Nam điển lệ toát yếu” (1915 - 1916),  Đại Nam nhất thống chí” (1916), “Việt Nam khai quốc chí truyện” (1917), “Đại Nam liệt truyện tiền biên, chính biên” (1918 - 1919). Ông là tác giả của sách truyện ký “Nam Hải dị nhân” (1909), “Hưng Đạo Đại Vương truyện” (1912), sách nghiên cứu “Văn học Việt Hán văn khảo” (1918). Đặc biệt, cuốn sách nghiên cứu “Việt Nam phong tục” (1915) đã đưa ông vào hàng các nhà văn hóa học sớm nhất Việt Nam.

Chỉ một chuyện ông viết sách Việt Nam phong tục đề cập đến văn minh nước nhà nhưng lại cổ súy cho đàn bà để răng trắng vào năm 1915 thì đã thấy ông thật là một con người đổi mới: “Đàn ông răng trắng thì chẳng sao, chớ đàn bà nhà tử tế bây giờ mà răng trắng thì coi khí ngộ một đôi chút. Nhưng lâu dần cũng phải quen mắt, có lẽ quen mắt rồi thì trắng lại đẹp hơn đen nhiều.”
Cách ông dẫn dắt vấn đề như thế là phong thái chủ đạo trong cuốn Việt Nam phong tục, đó là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, không đơn thuần miêu tả, dễ dàng nhận ra ở đó một thái độ khoa học, thẳng thắn mà khoan hòa. Trước khi bảo vệ hay đả phá một vấn đề nào đó thì ông luôn trình bày thật cặn kẽ cho người đọc hiểu thật kỹ, sau đó mới đưa ra ý kiến riêng, tình lí chỉnh chu, không bao giờ bàn đến một vấn đề gì mà tỏ ra chưa hiểu đến nơi đến chốn. Điều đó thật khác xa với những kẻ chạy đua thời cuộc, công kích để tỏ ra ta đây là tiến bộ nhưng thực chất lại vô trách nhiệm. Việt Nam đầu thế kỷ XX, người ta sống với rất nhiều tệ đoan, lớn nhất là các tục lệ “xôi thịt”, “một miếng giữa làng” mà tranh giành chút sĩ diện hảo. Lại thêm chuộng hình thức đạo đức giả, ma chay thì con cái đua nhau khóc lóc, thuê cả người ngoài về kêu gào lăn lộn để làng nước nghe thấy nhằm tỏ ra mình là con nhà hiếu thảo. Ông đả phá thẳng thừng những tệ đoan đó, như trong cách ông bàn đến đồng bóng: “Than ôi, đạo phù thủy cũng là đạo đồng cốt; còn thịnh hành ngày nào thì dân trí còn ngu dốt ngày ấy.”  Mấy năm gần đây các nhà xuất bản đều in lại đến hàng vạn bản cuốn Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, phần nào đáp ứng nhu cầu “phú quí sinh lễ nghĩa” của công chúng, bên cạnh đó cuốn sách cũng giúp cho công chúng suy cổ mà chiêm nghiệm, xem cái gì hay thì giữ, dở thì không theo.

Một việc khác, trong cuốn Việt Nam phong tục, tác giả cũng có những kiến giải súc tích về việc buôn bán. Ông chỉ ra rằng việc buôn bán của ta không được thịnh vượng bằng các nước khác là bởi: một là không coi trọng nghề buôn bán, phần nhiều chỉ nô nức về đường công danh. Hai là vì bản tính nhút nhát không dám đi xa, cái gì cũng chờ người ta mang đến tận nơi rồi mua tranh bán cướp với nhau. Ba là không có lòng thành thật, của thì một nhưng nói thách lên mười, “nhờ cái sơ ý của người ta mà kiếm ăn”, tính đoàn kết phường hội không có, mở hội này hội khác công việc chưa thành đã đem lòng ngờ vực nhau, nghi người ăn bớt, sinh ra chán, hội mau tan. Bốn là không có lòng kiên nhẫn, buôn bán động hơi thấy lỗ vốn một chút hoặc hơi vấp váp điều gì thì ngã lòng ngay. Năm là vì ưa phù hoa, lấy sĩ diện với ngoài, “buôn bán hơi được khá khá phát tài, đã vội đổi ngay bộ dáng cũ, cửa nhà trang hoàng rực rỡ, quần nọ áo kia, xe xe ngựa ngựa, coi ra dáng đại phú gia rồi. Chí khí nông nổi như vậy thì tích lũy làm sao cho nên một vốn lớn…”
Và ông đau đáu: “Ít lâu nay đã có người hiểu cách buôn bán là trọng, lập nên công này, việc khác cũng đã ra tuồng và cũng đã được hưởng những lợi quyền sung sướng ở trong việc buôn bán. Song nghìn người mới có được một vài người, chớ phần nhiều vì vẫn u u mê mê như trước mà dẫu có muốn mở mang cũng không có lòng thành tín và lòng kiên nhẫn để cho nên một cuộc hay.

Than ôi! Việc lí tài chung của một nước, trọng nhất là sự buôn bán. Đường buôn bán có thịnh thì nước mới thịnh, đường buôn bán mà suy thì nước cũng suy. Thử xem như các nước cường thịnh bây giờ nước nào không có tàu đi buôn đi nhiều nơi. Nước nào là nước không có hiệu buôn lập nhiều chốn, có đâu lại lạ như nước ta, không được một chuyến tàu nào xuất dương, một cửa hàng nào ở ngoại quốc, vậy mà cứ muốn vinh dự như các nước, thì vinh làm sao được?”
Những điều Phan Kế Bính nói cách đây gần thế kỷ, nhưng vẫn cứ là bài học mới mẻ dành cho các nhà doanh nghiệp hiện nay.

Nên nhớ cũng vào thời buổi đó, Tú Xương còn quặn thắt với sự thay đổi “ném bút lông đi, lấy bút chì”, “…Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”... Thế mới thấy tư tưởng của Phan Kế Bính là tân thời, là đổi mới rất sớm.

*

Là học giả uyên thâm, dĩ nhiên Phan Kế Bính quan tâm đến văn chương. Nhân kỷ niệm 90 năm ngày mất của ông, xin dẫn lại một bài viết ngắn, giọng văn thật trong sáng, ngõ hầu giúp bạn đọc yêu văn chương hiểu thêm về một con người có tư tưởng đổi mới cách đây đã gần một thế kỷ: 
Văn chương là gì?
Ta trông lên bầu trời trăng sao vằng vặc, sông Ngân hà lấp lánh, lúc cầu vồng mọc, khi áng mây bay, bóng ráng chiều hôm, cơn mưa buổi sớm, làm cho vui mắt ta, cái ấy gọi là văn chương của bầu trời.

Ta nhìn xem dưới đất, ngọn núi kia cao chót vót, khúc sông nọ chảy quanh co, chỗ rừng núi, nơi đầm lầy, cây cổ thụ um tùm, đám cỏ hoa sặc sỡ, nào thành nào quách, nào tháp nào chùa, nào đám đồn điền cây cối tốt tươi, nào chỗ thị thành lâu đài san sát, làm cho sướng mắt ta gọi là văn chương của trái đất.

Ta xem trong sách, nghe lời nghị luận của những bậc thánh hiền, xem các bài trước tác của các nhà văn sĩ, câu văn, giọng nói, khúc hát, điệu ca, êm như tiếng đàn tiếng địch, vang như tiếng sáo tiếng chuông, làm cho vui tai ta, sướng dạ ta, gọi là văn chương của loài người.

Văn là gì? Văn là vẻ đẹp. Chương là gì? Chương là vẻ sáng. Lời nói của người ta tựa như có vẻ đẹp, vẻ sáng cho nên gọi là văn chương.”
T.T
(271/09-11)

26/09 Bước đầu tìm hiểu văn học Thừa Thiên - Huế



Bài viết được đăng lúc 11:02:20 AM, 26.09.2011
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm - Ảnh: TL
NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Tìm hiểu diện mạo văn học một vùng đất là tìm hiểu những vấn đề gì?

Theo tôi, chính là tìm hiểu đội ngũ tác giả và tác phẩm của chính vùng đất ấy trong tương quan với đời sống văn học cả nước. Sở dĩ phải đặt vấn đề như vậy vì khó có thể cô lập một tác giả là của riêng của vùng đất này mà không thể là của một vùng đất khác hay của cả nước. Ví dụ: Tố Hữu, có một thời kỳ, ông là tác giả của Huế (Từ ấy) nhưng sau đó, là tác giả cả nước. Ngược lại, nhiều người làm thơ về Huế nhưng không phải tác giả của Thừa Thiên - Huế. Đúng ra, chỉ nên coi một người là tác giả của một vùng đất, khi họ có một thời gian gắn bó, “ăn chịu”, tập nhiễm “văn chương nết đất” của xứ sở ấy, rồi từ đó, góp phần làm nên máu thịt của một vùng văn học.

Nhưng diện mạo văn học không chỉ là tác giả - tác phẩm, cho dù đó là nhân tố chủ yếu nhất, mà còn cần tính đến công chúng văn học, thị trường văn học, mối quan hệ văn học và giới cầm quyền, việc giảng dạy, phổ biến văn học, hệ thống thông tin, xuất bản văn học, thư viện và ấn loát sách báo, các thư xã và hội đoàn văn học, các cơ quan nghiên cứu văn học và văn hóa, các Mạnh Thường Quân văn học…, nói chung là không gian văn hóa trên mảnh đất ấy.

Chỉ trong một không gian văn hóa cụ thể như vậy mới có thể nói đến một đời sống văn học thực sự. Đó là chưa nói đến mối quan hệ gần gũi của văn học với chính trị, nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo… vốn bao quanh và không ngừng tác động lên đời sống văn học.
*

Nếu coi Thừa Thiên - Huế trở về với sông núi Đại Việt là bắt đầu từ năm 1306, thì theo tiêu chí văn học trên, Thừa Thiên - Huế thực sự có một đời sống văn học có thể kể từ năm 1600, nghĩa là vào thời điểm Nguyễn Hoàng trở lại Thừa Thiên - Huế lần thứ hai với quyết tâm tách khỏi Bắc Hà, lập vùng cát cứ mới cho họ Nguyễn. Nhà sử học Trần Trọng Kim nhận định “Từ đấy trở đi, Nam Bắc phân biệt” (Việt Nam sử lược). Chính đời sống văn hóa tinh thần của giải đất Thuận Quảng sau năm 1600 đã định hình và khu biệt nhất định với văn học Thăng Long là cơ sở hình thành đời sống văn học ở Thừa Thiên - Huế cả về đội ngũ, chủ đề, bút pháp và tầm ảnh hưởng của nó. Trước năm 1600 không phải tại xứ Thuận Hóa không có thơ văn, nhưng những tên tuổi như Trương Hán Siêu, Nguyễn Phi Khanh, Đặng Tất, Đặng Dung, Bùi Dục Tài, Dương Văn An… trong các thời Trần, Hồ, Lê, Mạc chưa đủ làm nên một đời sống văn học, nhiều lắm chỉ gợi lên một số trang viết về một vùng biên viễn xa xôi, không ổn định.

Sau chuyến trở về lịch sử của Nguyễn Hoàng, và tiếp đó với quá trình sinh cơ lập nghiệp của 9 đời chúa Nguyễn, xứ Đàng Trong từ chỗ chỉ là vùng Thuận Quảng, sau hơn một thế kỷ, đã vươn dài đến toàn cõi Nam Bộ, mở rộng địa bàn sinh tụ của cả dân tộc.

Văn học Thừa Thiên - Huế ra đời cùng với quá trình hình thành thế đứng chính trị của chúa Nguyễn: lấy “Bắc cự Nam tiến” để sống còn, quyết liệt mưu sinh nhằm “vạn đại dung thân” và kiên trì tích lũy để xây dựng một vùng đất mới cả về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, sẵn sàng chấp nhận các sắc tộc, tôn giáo và lối sống khác biệt, rộng mở về nội trị (đón nhận Đào Duy Từ) chú trọng ngoại giao (chấp nhận người Hoa nhập cư, mở rộng thương cảng Hội An và Biên Hòa Gia Định), về khách quan là cổ vũ cho khát vọng sáng nghiệp của các thế hệ người Việt Nam và các nghệ sĩ của họ. Người ta không ngạc nhiên khi hàng loạt tài năng xứ Bắc đã lần lượt đến Huế mong góp phần cho sự phát triển mới của đất nước: từ Đào Duy Từ, Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhiệm, cho đến Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Văn Siêu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Khuyến, Phan Huy Chú, sau đó là Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền và tiếp đó là giới văn hóa, văn nhân hiện đại…, hình thành nên trung tâm văn học Thuận Hóa - một trong ba trung tâm văn hóa và văn học của cả nước.

Có thể nói trong buổi đầu của nó, văn học Thừa Thiên - Huế vừa bảo tồn những truyền thống văn học Lý Trần Lê trên nền tảng ý thức hệ Nho giáo và chủ nghĩa yêu nước cố hữu, vừa năng động tiến tới những giá trị mới trong thời cận đại giữa khung cảnh giao lưu Đông Nam Á và phương Tây đang mở ra (1).

Chính sự tiếp biến mạnh mẽ, không ngừng ở Đàng Trong đã làm cho Thừa Thiên - Huế nhanh chóng trở thành một thủ phủ vững mạnh, giàu sức sống cả về kinh tế và văn hóa của toàn xứ. Tại đây, sau 175 năm gần như cắt đứt với Bắc Hà đã định hình một không gian văn học mới mà Lê Quí Đôn - một đại diện của “áo mão triều đình”, khi đến đây làm hiệp trấn, đã tiếp quản một thư khố khá đồ sộ của chúa Nguyễn bỏ lại để lấy tư liệu biên soạn bộ “Phủ biên tạp lục” (Những ghi chép về việc vỗ yên vùng biên trấn) ít nhiều mang tính kiểm kê tài sản đất Nam Hà vừa thu được, đã phải ngạc nhiên thốt lên“hạt giống văn chương của cả một phương vẫn dằng dặc không dứt, thật là đáng khen lắm”. Và để chứng minh cho nhận định đó, Lê Quí Đôn cũng đã chép lại ít nhiều thơ văn của 5 tác giả: Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Quang Tiền, Nguyễn Đăng Thịnh, Mạc Thiên Tứ, Ngô Thế Lân. Tuy nhiên ông cũng đã bỏ qua không ít tác giả quan trọng của Đàng Trong mà trong đó phải kể đến ba người rất sáng giá là Đào Duy Từ - tác giả của những bài vãn nôm và có thể là tác giả tiên khu của các pho tuồng Đàng Trong nổi tiếng; Nguyễn Khoa Chiêm, tác giả “Nam Triều công nghiệp diễn chí”, một trong hai bộ tiểu thuyết chương hồi đầu tiên của nước ta và Phạm Lam Anh với tập thơ“Chiến cổ đường thi tập” mà theo bình luận đương thời thì tài năng không kém gì Hồ Xuân Hương cả. Rõ ràng Lê Quí Đôn vẫn không thoát khỏi thiên kiến vùng miền trong đánh giá văn học Đàng Trong. Bản thân chữ “Phủ biên” (vỗ yên vùng biên viễn) cũng đã ít nhiều cho thấy sắc thái chính trị của công trình nghiên cứu khá quan trọng này.
*

Tìm hiểu văn học Thừa Thiên - Huế không thể không tính đến quá trình vận động và biến đổi của Thừa Thiên - Huế trong lịch sử. Hơn 400 năm qua, địa bàn Thừa Thiên - Huế đã có 3 lần được sắp xếp lại đã tác động rõ rệt đến tầm vóc và vai trò của đời sống văn học của nó.

1Thừa Thiên - Huế là thủ phủ của xứ Đàng Trong (Từ 1600 đến 1801) bao gồm thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn (Nguyễn Huệ). Đặc điểm của thời kỳ này là:

Nổ ra chiến tranh Trịnh - Nguyễn trong 45 năm, dẫn đến chia cắt hai miền; tiếp đó là cuộc nổi dậy của Tây Sơn xóa bỏ cát cứ Trịnh Nguyễn, nhưng không bao lâu nhà Tây Sơn cũng sụp đổ, trả lại vương quyền cho các vua Nguyễn. Không thể tưởng tượng nỗi lầm than, khổ cực của nhân dân đến như thế nào. Tuy nhiên trên vùng đất mới cũng có những thời kỳ ổn định khá dài, tiềm lực nông nghiệp của đồng bằng Nam Bộ bổ sung cho kinh tế hàng hóa và thương mại phát triển, giao lưu hàng hóa giữa Đàng Trong và các nước khu vực tăng nhanh, theo đó giao lưu văn hóa, sinh hoạt tôn giáo khá nhộn nhịp. Lê Quí Đôn nhận xét: “Thuận Hóa được bình yên đã lâu, công tư đều dồi dào, mặc dùng tươi đẹp… Binh sĩ đều ngồi chiếu mây, dựa quả tựa hoa, ôm lò hương cổ, hãm chè hảo hạng, uống chén sứ bịt bạc và nhổ ống nhổ thau, đĩa bát ăn uống thì không cái gì là không phải hàng Bắc, một bữa cơm ba bát lớn. Đàn bà, con gái đều mặc áo the, là và hàng hoa, thêu hoa ở cổ tròn. Coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực”(2). Nhận xét đó giúp ta thấy sinh hoạt lối sống ở Thuận Hóa đã mang tính thị dân rõ rệt. Điều đáng chú ý là cơ hội nâng cao mức sống đã đến với binh sĩ và phụ nữ bình dân. Xu hướng tiêu dùng không dừng lại ở bền chắc, no đủ mà đã có phần “ăn ngon, mặc đẹp” thậm chí xa xỉ, chắc chắn ít nhiều liên hệ với tiêu dùng và lối sống nước ngoài. Xu hướng “Cư Nho mộ Thích” lan tràn trong quan lại và người có học. Chúa Nguyễn Phúc Chu cho mời hòa thượng Trung Quốc qua Thuận Hóa giảng đạo. Diễn xướng dân gian phát triển. Đền thờ mẫu mở ra nhiều nơi. Tuy giới quân nhân giữ vai trò cao nhưng nho sinh cũng được kính trọng. Thơ văn được in, khắc trên di tích và đồ dùng hàng ngày. Người Đàng Trong tâm tình phác thực, chuộng lối nghe - nhìn, văn chương thích gợi điều đạo lý hơn trau chuốt từ ngữ, nhưng cũng giàu những xúc cảm chân thành, mạnh mẽ. Văn học Thừa Thiên - Huế đã mang sắc thái đó.

2Thừa Thiên - Huế là kinh đô cả nước, là điểm hội tụ quốc gia kéo dài trong gần 145 năm của Triều Nguyễn, mặc dầu trong 60 năm cuối cùng, dưới ách thống trị của Pháp, vương triều Nguyễn chỉ còn mang tính biểu trưng, giúp rập cho nền cai trị của chủ nghĩa thực dân.

Ở thời điểm trị vì của những ông vua đầu tiên, vương triều Nguyễn thực sự có công trong sự nghiệp thống nhất và ổn định quốc gia sau một chặng dài chia cắt và mở nước đầy rối ren, biến động. Việt Nam trở thành quốc gia lớn ở Đông Nam Á, có hai vùng châu thổ giàu có, chính thức xác lập chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, thống nhất hành chính và luật pháp. Nhà sử học Trần Văn Giàu cho rằng: “Sự thống nhất về chính trị thúc đẩy sự phát triển về văn hóa rất nhiều”(3). Ngoài bộ máy thế quyền, mỗi làng xã trong cả nước đều có những vị thành hoàng bổn thổ được triều đình phong cấp ngôi vị làm người dẫn dắt tinh thần cho cộng đồng làng xóm. Một năm sau ngày lên ngôi, Gia Long cho mở Quốc Tử Giám tại Huế. Minh Mạng tổ chức thi Hội và lập Duyệt Thị Đường - nhà hát đầu tiên của triều đình để giữ gìn các chuẩn mực nghệ thuật trình diễn. Cuối đời, ông còn cho mở trường Tứ Dịch quán để dạy tiếng Xiêm, tiếng Pháp. Những bộ sử, bộ dư địa chí quan trọng được khởi thảo để hệ thống hóa lịch sử và địa lý dân tộc, xóa bỏ những khoảng trắng mơ hồ. Huế trở thành điểm hội tụ nhân tài ở cả hai miền. Tiếng nói chữ viết của dân tộc có một bước vận động mạnh mẽ, tiến nhanh từ chữ Hán, đến chữ Nôm rồi đến chữ Quốc ngữ qua thể thức hành chính, khoa cử và văn chương học thuật. Trong khi các bài thơ cổ điển được khắc họa dưới mái các cung điện thì ngoài dân gian, nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật của công chúng tăng nhanh kéo theo sự phát triển của hội hè, gánh hát, tuồng tích, chuyện vè dân gian và những phương thức truyền bá sách vở hiện đại qua các trào lưu văn thân, Cần Vương, Duy Tân kể cả việc du nhập sách vở từ Hồng Công, Thượng Hải. Đáng chú ý là sự có mặt của người Pháp ở Đông Dương đã gây nên những biến đổi sâu xa trong lòng xã hội Việt Nam theo trào lưu canh tân, Âu hóa, gieo mầm nhân văn, dân chủ, độc lập, tự do, hóa giải một bước sức chi phối của văn hóa Trung Hoa để tiếp cận văn minh và tiến bộ của thế giới hiện đại. Trong bối cảnh đó cuộc tìm kiếm lý tưởng của những người cộng sản, đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc đã được nhân dân chấp nhận, nhanh chóng tập hợp toàn dân đứng lên đuổi Pháp giành lại nền độc lập, xóa bỏ chủ nghĩa phong kiến lâu đời ở nước ta.

Đây là thời kỳ văn học Thừa Thiên - Huế mang tính đại diện rõ rệt cho văn học và văn hóa cả nước, vừa đông đảo về đội ngũ, vừa phong phú về thể tài, đa dạng về chủ đề, phong cách, sôi nổi những tìm kiếm mới, xuất hiện nhiều tài năng, nhiều cống hiến.

3Từ năm 1945 trở lại đây, Huế trở thành tỉnh lỵ một tỉnh, nhưng vẫn giữ vị trí một trung tâm văn hóa, hình ảnh một cố đô lịch sử.

65 năm qua, với vị trí thành phố văn hóa - lịch sử, nơi có đội ngũ nhân sĩ và trí thức nhiều thế hệ, có hệ thống các trường đại học, trung học và trường nghệ thuật, một hệ thống di sản vật thể và phi vật thể được thế giới và quốc gia công nhận, những ngành nghề truyền thống khéo tay, mặc dù không còn vai trò trung tâm đất nước, Huế vẫn giữ được vị trí tiêu biểu cho xu hướng chính trị tinh thần và cốt cách văn hóa dân tộc đối với cả nước. Theo dõi phong trào đô thị Huế trước năm 1975 dễ nhận ra tiếng nói quan trọng của giới trí thức và sinh viên Huế đối với dư luận trong nước và quốc tế.

Những người viết văn, nghiên cứu và giảng dạy văn học ở Thừa Thiên - Huế trong những năm tháng đó được tập hợp từ nhiều nguồn: những tác giả thế hệ chống Pháp, thế hệ chống Mỹ, những nhà văn gắn bó với đời sống đô thị và phong trào đấu tranh đô thị, những nhà văn cầm bút sau ngày đất nước thống nhất. Dấu ấn rõ nét nhất ở các nhà văn Thừa Thiên - Huế từ 1945 trở lại đây là sự gần gũi của họ về ngôn ngữ tiếng Việt trong biểu đạt và tính xã hội trong chủ đề sáng tạo cho dù họ có thể rất khác nhau về chính kiến và quan niệm sống.

Một đội ngũ như thế là thực sự đa dạng, tạo được dáng vẻ riêng, không phải nơi nào cũng có được. Tuy nhiên trong sự đa dạng đó, do hoàn cảnh lịch sử, một số tác giả sống và viết trong lòng đô thị (chẳng hạn Bửu Kế, Túy Hồng, Đỗ Tốn, Nguyễn Thị Hoàng, Phan Nhất Nam, Trụ Vũ,…) chưa bao giờ được thống kê và đánh giá đầy đủ.
*

Một số đặc điểm làm nên vẻ riêng vốn có của văn học Thừa Thiên - Huế:

- Ra đời trong khung cảnh đất nước chia cắt rồi trở thành một trung tâm của văn học trung đại, văn học thừa Thiên - Huế gắn bó với dòng chảy lớn của nền văn học quốc gia cả về ý thức hệ và những định hướng lớn: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân văn, khát vọng thể hiện nhân cách và dân chủ, không ngừng đổi mới ngôn ngữ sáng tạo. Nó có vinh dự và may mắn tập hợp một đội ngũ tác giả rộng rãi mà nhiều người là đỉnh cao của văn chương Việt Nam trong từng thời kỳ: Nguyễn Du, Nguyễn Cư Trinh, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Đào Tấn, Miên Thẩm, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Tố Hữu, Hải Triều, Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Thanh Tịnh, Lưu Trọng Lư, Trần Thanh Mại,… tạo nên phong khí và sức ảnh hưởng nhiều mặt đến văn học trung đại và cận - hiện đại của nước nhà. Nó góp phần hình thành chất “Huế” tuy khó xác định nhưng không phải không rõ nét trong không gian văn hóa Huế. Tuy nhiên do nhiều biến động lịch sử và ách cai trị nặng nề của chủ nghĩa thực dân, một thị trường báo chí và văn chương hạn hẹp, nhiều tác giả ở Huế cũng chỉ có mặt với “giải đất hẹp” một thời gian, rồi cũng đi xa để kiếm sống và phát huy nghề nghiệp. Tình hình đó tiếp tục diễn biến cho đến ngày nay.

- Đáng chú ý là sự xuất hiện khá tập trung các tác giả thuộc giai tầng quý tộc - quan lại của triều đình Huế hình thành nên một dòng văn học cung đìnhcó vị trí và sức ảnh hưởng nhất định đến đời sống văn học cả nước vào nửa cuối thế kỷ 19 cần được nghiên cứu và xác định. Đó là các ông Miênông Hồng, ông Ưng, lớp con - cháu - chắt của vua Minh Mạng, vốn được học hành chu đáo nhưng phần lớn không được đi thi (theo qui định) và ra làm quan, nhưng sống khá giả nhờ bổng lộc triều đình và quyền thừa kế. Trừ một số thoái hóa trong lối sống nhàn rỗi, phần đông giữ được phong độ của tầng lớp quý tộc triều đình, giữ gìn gia phong, học phong theo ý thức hệ nho gia chính thống, lại được khuyến khích của các ông vua hiếu học như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, họ đã tập hợp lại trong khuôn khổ gia tộc (Tôn Nhơn phủ), nhà trường (Quốc Tử Giám), thi xã (Mặc Vân thi xã) để cùng với các quan lại hay chữ trong triều thường xuyên xướng họa, phẩm bình, in ấn, lưu hành các thi tập, văn tập. Sinh hoạt văn học rộn ràng đến nỗi lôi cuốn cả các công chúa, hoàng nữ, nữ sử, cho đến giới tu hành cũng tham dự vào đời sống văn chương. Lật lại “Nguyễn Phúc tộc thế phả” cũng có thể đếm được vài chục người là các hoàng thân quốc thích có các văn tập, thi tập. Đáng kể nhất là anh em ruột nhà Tùng Thiện vương Miên Thẩm, Nguyệt Đình, Mai Am, Huệ Phố, rồi Tuy Lý vương Miên Trinh, Tương An quận vương Miên Bửu, Lạc Biên quận công Miên Khoan, Thọ Xuân vương Miên Định… cùng với các danh sĩ trong triều đình như Phan Đình Phùng, Nguyễn Hàm Ninh, Phan Thanh Giản, Cao Bá Quát, Trương Đăng Quế… làm nên danh tiếng một trào lưu văn học:

Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán - Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường 

Đón sứ giả Trung Quốc Lao Sùng Quang vào Huế dự lễ phong vương cho mình, Tự Đức không quên cho thu thập các trước tác quan trọng của Nguyễn Cư Trinh, Miên Thẩm, Miên Trinh làm bộ “Phong nhã thống biên” để giới thiệu cái hay cái đẹp của văn chương Việt vào thời điểm đó. Điều đáng chú ý là giới văn nhân cung đình Việt Nam dẫu xuất thân là quý tộc, nhưng vốn am hiểu sâu xa truyền thống thi ca Phương Đông và trách nhiệm kẻ sĩ, đã không dừng lại ở lối viết chúc tụng, thù tạc, hưởng lạc một bề mà trong nhiều trang viết cũng đã nghiêng xuống “thương sinh”, cám cảnh với nạn nước và thân phận cay đắng của kẻ sĩ bất phùng thời. Đó cũng là nét khả thủ của văn học cung đình Huế.

Thử đọc bài “Cảm sự” của Miên Thẩm (qua bản dịch Dư Lê):

I.

Tai ách liền năm đến,
Giặc cướp bao giờ an?
Sắc xuân buồn rười rượi
Tin Nam toàn khóc than.
Chỉ huy dũng khí nhỏ,
Thành lớn bỏ giặc tràn.
Xoay trời cầu vua thánh,
Việc nước rối muôn vàn.
II.

Ùn ùn dân bỏ xóm,
Ầm ầm sóng kình vang.
Nuôi quân, đất kiệt sức,
Mưu nước, trời hoang mang.
Mong sao sớm quyết định
Triều đình vốn giỏi dang
Giữa khuya trở gối dậy,
Nhìn bèo, lệ rơi khan!

Một giọng thơ thế sự bi phẫn như thế không thể coi thường được.

Hay một bài “Vị nông ngâm” (Ngâm vịnh nhà nông) của Minh Mạng (qua bản dịch Hải Trung):

Đêm đón mưa vui trận trận qua,/ Hạt tuôn từng đợt gió ngân nga
Hắt hiu giá rét mùa xanh lá/ Lõm bõm đồng sâu áo bạc tà
Mặc ấm ghi ơn người dệt vải/ Ăn no nhớ nghĩa kẻ đồng xa
Bao đời trọng nỗi gian nan ấy/ Chẳng lúc nào ngơi tiếng ngợi ca.
Đó không phải là tiếng nói của một ông vua, mà là tiếng lòng của một nhà thơ thực sự.

Điều đáng tiếc là trong bộ Tổng tập Văn học Việt Nam khá đồ sộ do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1993, những tác giả hoàng gia Nguyễn chỉ có ba người được đưa vào hợp tuyển là Miên Thẩm, Mai Am, Huệ Phố, còn hàng loạt các tác giả khác, kể cả Miên Trinh, Minh Mạng, Tự Đức cũng bị gạt ra, cho thấy dòng văn học cung đình này không được nghiên cứu và giới thiệu đúng như vai trò của nó. Đó là một thiệt thòi cho văn học Việt Nam.

- Một đặc điểm khác đáng chú ý của văn học Thừa Thiên - Huế là thể loại kịch bản sân khấu tuồng rất phong phú. Từ thời các chúa Nguyễn (thế kỷ 17,18) kịch bản tuồng đã được lưu hành. Đến thế kỷ 19 thì sân khấu tuồng định hình với một phong trào viết tuồng sôi nổi trong nho sinh và những nhà danh gia vọng tộc, nhiều văn bản tuồng trở thành tác phẩm cổ điển của văn học đất nước. Có thể nói cùng với quốc gia bước vào thời kỳ cường thịnh, bộ máy cung đình ngày càng chính quy, bề thế, sinh hoạt xã hội đạt đến mức dồi dào nhất định thì nhu cầu giải trí, trao đổi tinh thần qua nghệ thuật sân khấu chính thống đã trở thành nhu cầu tất yếu của vua quan, giới có học và dân chúng. Khi công chúng đã say mê thì sân khấu trở thành bộ mặt chính của nghệ thuật và viết kịch bản sân khấu trở thành sinh hoạt văn học thu hút nhất. Ở Đàng Trong và một phần Đàng Ngoài, sân khấu tuồng thu hút sự hưởng ứng sáng tác, biểu diễn, thưởng thức từ thành thị đến thôn quê, cả triều đình và chốn hương đảng. Đó là hiện tượng có một không hai của văn học Việt Nam vào thế kỷ 19. Ở Pháp cũng có một thời đại bùng nổ của văn học sân khấu với những đại diện nổi tiếng như Racine, Corneille, Molière… làm nên diện mạo quan trọng của văn chương Pháp. Ở ta văn học tuồng chưa được chú ý nghiên cứu, người ta chỉ coi đó là công việc riêng của giới làm sân khấu. Giáo sư Hoàng Châu Ký từng khắc khoải: “Nếu không phát hiện, nghiên cứu và đánh giá đầy đủ về văn học Tuồng trong văn học sử Việt Nam thì không những thiệt thòi cho bộ phận văn học này mà còn là thiếu sót đối với một mảng lớn của văn học miền Nam trước đây”(4).

Nếu kết hợp hai bài báo của bà Đạm Phương viết năm 1923 và 1924 về tuồng hát An Nam và bài báo 1922 của ông Nguyễn Khoa Tùng chồng bà về văn chương quốc âm thì hai ông bà đều đánh giá cao đời sống văn chương tuồng hát ở kinh đô Huế kể từ thời các chúa Nguyễn, đến thời Trung hưng của Nguyễn Ánh ở miền Nam và đặc biệt là giai đoạn các vua Nguyễn, kể từ khi Minh Mạng lên ngôi (1920): “Đến như các Đức ông hoàng thời mỗi ngài đều có đặt một vài pho tuồng hết thảy. Đức ông Diên Khánh soạn pho tuồng“An Biên”; đức ông Nam Sách soạn pho “Bình Yên”; đức ông Trấn Biên soạn pho “Tạc Khống”. Triều Tự Đức ngài ngự chế ra pho “Vạn bửu trình tường”, pho “Gia ngẫu”, pho “Hạc lâm”, pho “Hàm hòa”; các quan như cụ Đào Đăng Tấn có soạn pho “Tứ quốc lai vương”, “Tứ dân”, “Tứ thú”, “Diễn võ đình” v.v… Ấy kể đại khái mà nghe, những pho tuồng có danh tiếng, chớ như lấy số mục mà kể, thời ngót có trăm bộ”(5). Không những soạn tuồng mà họ còn bỏ tiền ra xây sân khấu, nuôi đội hát trong nhà, chiều chuộng đào kép đến nỗi Hoàng Quang, tác giả “Hoài Nam ca khúc” đã lên tiếng chỉ trích “Ngọc vàng con hát, lấm bùn thằng dân”.

Theo tôi, trên một phương diện khác, giọng văn trong ngôn ngữ sân khấu tuồng cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến giọng thơ tự do của các nhà thơ mới, nhất là các nhà thơ miền Trung vốn bắt nhạy ngôn ngữ tuồng.

Vì những lý do trên cần đẩy mạnh hơn nữa việc sưu tầm và phát triển văn học sân khấu tuồng Huế - một di sản lớn của miền Trung và cả nước.
*

- Một điểm cũng cần lưu ý là sự tôn trọng và mềm dẻo trong đối xử về văn hóa và văn học của nhà cầm quyền dưới thời các chúa Nguyễn và vua Nguyễn đã ít nhiều mở đường cho sự phát triển văn học Đàng Trong và sau đó là cả nước đạt tới những sắc thái mới.

Ở Trung Quốc, đây là thời kỳ cai trị của nhà Thanh, một thời đại nồng nặc các vụ án văn tự. Chỉ chung quanh hai chữ Minh và Thanh biết bao người chết oan! Ở nước ta, tại kinh thành Thuận Hóa, rất ít những vụ án văn tự xảy ra. Nghe nói Tự Đức dọa đánh đòn Nguyễn Du vì câu “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” khi viết về Từ Hải. Nhưng cũng chỉ dọa cho vui chứ không cấm Truyện Kiều. Trên ngàn bài thơ mà nhiều bài “dễ động chạm” của Cao Bá Quát, kể cả khi ông nổi loạn chống Tự Đức, bị giết, cũng không hề bị cấm đoán tiêu hủy vì vậy đến nay còn giữ được khá nhiều thơ văn ông. Thơ văn Phan Đình Phùng, Phan Thanh Giản, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp…, những người đều “có chuyện” với triều đình nhưng cũng không bị hủy hoại.

Đào Duy Từ không sống nổi với Đàng Ngoài nhưng đến Đàng Trong thì được trọng vọng. Hoạt động sân khấu Đàng Ngoài là nghề nghiệp của tầng lớp dưới phục vụ tầng lớp trên, con hát bao đời bị coi rẻ, nhưng sân khấu tuồng ở Huế lại là công việc ưa thích, sang trọng của vua quan và giới có tiền, có học. Người Đàng Trong mua các loại tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa khá sớm, phiên dịch rộng rãi cho mọi người xem, dịch Kinh Thánh cho tín đồ đọc, vì vậy các thể loại văn chương tự sự đến với báo chí và văn học miền Nam rất sớm, trong khi đó chúa Trịnh Đàng Ngoài ra nhiều sắc chỉ cấm đoán kể cả truyện nôm khuyết danh. Ở Huế, bên cạnh văn chương bác học dành cho người biết chữ, nhân dân thưởng thức văn học chủ yếu qua hình thức kể vè, Vân Tiên, Mụ Đội, Kinh Đô Thất Thủ…, không ít bài chế giễu vua quan, phê phán cung đình thối nát, chọc ghẹo cậu Tôn, cậu Ấm… Các câu ca dao, tiếu lâm cung đình, bình phẩm chính sự cũng nhiều nhưng cũng không thấy có biểu hiện gì bắt bớ, cấm đoán gay gắt. Ngôn ngữ thiền học đến với thơ văn Thừa Thiên - Huế khá sớm, kể từ thời Nguyễn Du, Miên Thẩm… làm nên vẻ đẹp riêng của văn chương đất thần kinh.

Tóm lại, sự quí trọng văn học và thái độ cởi mở đối với văn học nghệ thuật của nhà Nguyễn là điều đáng ghi nhận và nghiên cứu.


Với bốn đặc điểm trên có thể nói văn học Thừa Thiên - Huế từ rất sớm đã mang được tầm vóc xứng đáng và cốt cách khác biệt, riêng có của nó, làm nên dấu ấn và vẻ đẹp đóng góp vào đời sống văn chương đất nước. Vì những lẽ trên, theo tôi việc nghiên cứu có hệ thống về văn học Thừa Thiên - Huế, gắn với việc lưu niệm, giữ gìn hình ảnh hiện vật các văn nghệ sĩ Huế là điều đáng trông đợi.

N.K.Đ  
(271/09-11)


---------------
(1) Đọc thêm bài “Văn học Đàng Trong” của Cao Tự Thanh, trong “Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX, những vấn đề lí luận và lịch sử”, Trần Ngọc Vương chủ biên, Nxb Giáo dục, năm 2007, tr. 270 - 346.
(2) Phủ biên tạp lục, Lê Quí Đôn, Nxb Khoa học xã hội, 1977, tr.335.
(3) Địa chí Thừa Thiên - Huế (Phần lịch sử), Nxb Khoa học xã hội, 2005, tr.153.
(4) Tổng tập văn học Việt nam, tập 15A, Nxb Khoa học xã hội, 1994, tr.5
(5) Văn chương quốc âm, báo Hữu Thanh, số 20, ngày 15.5.1922.

14/02 Ăn cơm tây, lấy vợ đầm


Bài viết được đăng lúc 2:58:57 PM, 14.02.2011
Võ Quang Yến thời trẻ - Ảnh: vietsciences.free.fr

VÕ QUANG YẾN
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng
(*)

                                                
Phong dao


Hồi tôi còn nhỏ, ăn cơm Tây, lấy vợ đầm thường được cho là chuyện sang trọng, nhưng cũng là ảo tưởng, chỉ nằm trong ước mơ. Thời sự biến chuyển, số mệnh đưa đẩy, thế rồi nhiều chuyện không tưởng cũng được thực hiện…

Riêng phần tôi, ăn cơm Tây không phải là chuyện xa vời. Thời tiểu học, khoảng những năm đầu thập niên 40, tôi ở nhà anh tôi ở Vĩnh Điện, tỉnh lỵ Quảng Nam. Anh tôi ham mê quần vợt, lập hội, xây sân rồi cùng bạn bè tập dượt. Có khiếu nên anh tiến bộ nhanh chóng, dần dần tại chỗ anh không tìm ra nhiều đối thủ cùng mức. Thế là cuối tuần, chủ nhật, anh hay đi chơi ở các câu lạc bộ Hội An (hồi ấy thường gọi Faifo) hay Đà Nẵng (thời Pháp mang tên Tourane, nói ghép Tour Han - không đọc chữ H - từ tên địa danh Tháp Hàn, tựa như Baie d’Along thay vì Vịnh Hạ Long). Lắm khi tôi được đi theo, hai thành phố nầy không xa Vĩnh Điện bao lăm.


Tuesday, September 20, 2011

MƯA XUÂN - Nguyễn Bính



Nguyễn Bính


         Em là con gái trong khung ci
          Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây luạ trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: "Thôn Ðoài hát tối nay"
Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chả sang xem!
Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe
Mưa bụi nên em không ướt áo
Thôn Ðoài cách có một thôi đê
Thôn Ðoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Ðể cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!
Mình em lầm lũi trên đường về
Có ngắn gì đâu môt dải đê!
A¨o mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya
Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Ðặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: "Mùa xuân đã cạn ngày"
Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Ðặng đi ngang ngõ
Ðể mẹ em rằng hát tối nay?
(1936)

Hàn Mặc Tử--10 bài thơ hay nhất


HÀN MẶC TỬ
(Nguyễn Trọng Trí, sinh 22 tháng 9, 1912 – mất 11 tháng 11, 1940)
 


1.Bẽn lẽn
Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi.

Trong khóm vi vu rào rạt mãi
Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?
Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.

Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẻn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ tới cái tiết trinh em.

2.Buồn ở đây
Rao rao gió thổi phương xa lại
Buồn đâu say ngấm áo xuân ai
Lay bay lời hát, ơ buồn lạ
E buồn trong mộng có đêm nay .

Nắng sao như nắng đời xưa ấy
Nắng vàng con mắt thấy duyên đâu
Muốn gởi thương về người cổ độ
Mà sao tình chẳng nói cho đau .

Chiều xưa khúc nhạc nóng ran lên
Không có ai đi để lỗi thuyền
Nguồn thơ ứa mãi hai hàng lệ
Tờ giấy hoa tiên cũng ướt mèm.
(Thượng Thanh Khí)

3.Biển hồn ta
Máu tim ta tuôn ra làm bể cả
Mà sóng lòng rồn rập như mây trôi
Sóng lòng ta tràn lan ngoài xứ lạ
Dâng cao lên, cao tột tới trên trời.

Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết
Khi say sưa với lượn sóng triền miên
Khi nhận lấy trong thâm tâm cay nghiệt
Giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng.

Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện
Trong lòng và đang tắm máu sông ta
Ta muốn vớt ai ra ngoài sóng điện
Để nhìn xem sắc mặt với làn da.

Ôi ngông cuồng! Ôi rồ dại, rồ dại!
Ta đi thuyền trên mặt nước lòng ta
Ôi ngông cuồng, ôi rồ dại, rồ dại
Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta.

4.Cửa sổ đêm khuya
Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương
Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn vương
Tha thướt liễu in hồ gợn bóng
Hững hờ mai thoảng gió đưa hương
Xa người nhớ cảnh tình lai láng
Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng
Qua lại yến ngàn dâu ủ lá
Hòa đàn sẵn có dế bên tường.

5.Đà Lạt Trăng Mờ
Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu.
Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ!
Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt
Như đón từ xa một ý thơ.

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
Để nghe dưới đáy nưới hò reo,
Để nghe tơ liễu rung trong gió,
Và để xem trời giải nghĩa yêu.

Hàng thông lấp loáng đứng trong im
Cành lá in như đã lặng chìm.
Hư thực làm sao phân biệt được!
Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm.

Cả trời say nhuộm một màu trăng,
Và cả lòng tôi chẳng nói rằng.
Không một tiếng gì nghe động chạm,
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng...

6.Đây Thôn Vĩ Dạ
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên,
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
Thuyền ai đậu bến Sông Trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhận không ra...
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?

7.Đêm Không Ngủ
Non sông bốn mặt mơ màng
Thức chỉ mình ta dạ chẳng an.
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.
Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ
Buồn giúp công danh dế dạo đàn.
Trỗi dậy nôm na vài điệu cũ
Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.

8.Đôi Ta
Mà anh hay em trong tim đều rạn
Đều chôn sâu hình ảnh một người mơ
Bây giờ đây quấn quít hiện bây giờ
Chỉ biết có đôi ta là đang sống
Đang cho nhau ngọt ngào và đang mộng
Cố làm lơ không biết đến thời gian
Đến bông hoa tàn tạ với trăng ngàn
Đến những tình duyên chung quanh thất vọng
Nhiều hành tinh tan đi vì đã lỏng
Ôi muôn năm! Giấc mộng đã đời chưa ?
Lúc ấy sóng triều rên rỉ chưa bưa
Cứ nhắm mắt, cứ yêu nhau như chết
Cứ sảng sốt, tê mê và rũ liệt
Đừng nghe chi âm hưởng địa cầu đang
Vỡ toang ra từng mảnh, cả không gian
Cả thời gian, từ tạo thiên lập địa
Đều trộn trạo, điều hòa và xí xóa
Thành hư không như tình ái đôi ta .
Trong im lìm, lẻ loi trong dãy động,
Cũng hình như, em hỡi, động Huyền Không
Mà đêm nghe tiếng khóc ở đáy lòng,
Ở trong phổi, trong tim, trong hồn nữa .
Em cố nghĩ ra một chiều vàng úa,
Lá trên cành cành héo hắt, gió ngừng ru:
"Một mối tình nức nở giữa âm u,
Một hồn đau rã lần theo hương khói,
Một bài thơ cháy tan trong nắng rọi,
Một lời run hoi hóp giữa không trung,
Cả niềm yêu, ý thơ, cả một vùng,
Hóa thành vũng máu đào trong ác lặn",
Đấy là tất cả người anh tiêu tán,
Cùng trăng sao bàng bạc xứ Say Mơ
Cùng tình em tha thiết như văn thơ
Ràng rịt mãi cho đến ngày tận thế.

9.Em Lấy Chồng
Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi hết ước mơ
Tôi sẽ đi tìm mỏm đá trắng
Ngồi lên để thả cái hồn thơ.


10.Hồn Là Ai
Hồn là ai là ai? tôi không biết
Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi
Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng
Tôi chết giả và no nê vô vạn
Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng
Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm
Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực
Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức
Rồi bay lên cho tới một hành tinh
Cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình
Để gào thét một hơi cho rởn ốc
Cả thiên đường trần gian và địa ngục

Hồn là ai? là ai! tôi không hay
Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay
Hồn mệt lả mà tôi thì chết giấc

Friday, July 8, 2011

08/07 Nghe hò nhớ Huế



Bài viết được đăng lúc 10:27:59 AM, 08.07.2009
Ảnh: TL
VÕ QUANG YẾN
                Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thương,
                Mái nhì man mác nước sông Hương.
                                                     Tố Hữu

Tôi sống lên ở quê ngoại, làng Mỹ Cang, phía bắc thành phố Huế chừng 40 cây số, trên bờ sông Ô Lâu, bốn mùa cuộn sóng xuôi dòng, tuỳ theo thời tiết, khi trong khi đục, phản ảnh mây trời, mưa nắng. Lớn lên một chút, trường huyện quá xa, anh em chúng tôi đi vô Huế học, chỉ Tết nhất, mùa nghỉ mới về đây thảnh thơi, vui đùa, gom góp những kỷ niệm êm đềm trước thời chinh chiến tàn phá quê xưa. Nghỉ hè, trời nóng, chúng tôi đánh trần ngủ ngay ngoài hiên. Có những đêm quá nóng, lại chuyện trò hào hứng, cũng khó lòng nhắm mắt. Thế rồi, không biết bắt đầu từ bao giờ, khoảng 2-3 giờ sáng, một giọng hò vọng lên trong đêm thâu. Tiếng hò theo đò từ xa lại gần rồi lại đi xa, không biết cô lái đò từ đâu đến và đi về đâu, cơ thể dẻo dang làm sao, mặt mũi duyên dáng đến mức nào. Chúng tôi chỉ nghe được lời thổn thức của cô ta, gởi gắm tâm tình vào sông, vào nước.

Biết ở đâu là cầu Ô Thước
Mênh mông nguyện ước, dưới nước trên trời.
Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi,
Khúc sông quạnh vắng, có người sầu riêng.


Câu hò xao xuyến, bay bổng, điệu hò chậm rãi, miên man, tiếng hò bâng khuâng, da diết, trong đêm thâu làm chạnh lòng hơn một người.Và cứ như thế, ba bốn hôm một lần, không có hẹn ước, định kỳ, chúng tôi lại được thưởng thức một vài câu hò mặn mà, trữ tình, vô tình kín đáo chia sẻ nỗi lòng của cô lái đò cô đơn. Lúc đầu chỉ để ý, dần dần từ để ý chúng tôi trở qua chờ đợi. Rồi có những đêm trăng sáng, trong cơn gió thoảng, chúng tôi tưởng như nghe tiếng mái chèo khua nước, đợt sóng vỗ mạn thuyền, nhưng tiếng hò thì tuyệt không, thế là mặc sức trằn trọc, thao thức không sao ngủ được. Hết hè, trở lại Huế vào trường học, chúng tôi phải tạm biệt cô lái đò, tạm quên những câu hò đầy tình cảm, thương nhớ của cô gái quê không quen, không biết, chỉ gặp nhau trong không trung, khí quyển, qua gió, mây, sóng, nước.

Người dân xứ Huế dễ rung động với đồng ruộng, sông nước, rừng rậm, cây ngàn. Vì vậy trong đời sống họ hay biểu lộ tâm tình qua những câu hò, điệu hát. Riêng chỉ câu hò đã có cả chục điệu. Trong công việc đồng áng khi đạp nước, đạp lúa, họ cố quên thời gian với những câu hò ô thiết tha, trầm bổng. Khi đập đất, đắp nền, họ trêu chọc nhau với những câu hò hụi lưu loát, linh hoạt. Khi làm đường, đắp đê, họ khuyến khích nhau qua điệu hò nện dồn dập, khẩn trương. Khi kéo bè, kéo gỗ, họ động viên nhau với những điệu hò kéo thác mạnh mẽ, khoẻ khoắn. Khi xay lúa, giã gạo, họ đố đáp nhau qua những câu hò giã gạo sôi động, hào hứng.

Cây chi trong rừng không lá,
Cá chi dưới biển không xương
Trai nam nhơn giải đặng, thiếp xin kết nghĩa tao khang với chàng...
Cây xương rồng trên rừng không lá,
Con sứa dưới biển là cá không xương,
Anh nay đà đối đặng, em phải kết nghĩa cương thường với anh
.

Ở nhà, hò ru con là điệu hò ngọt ngào, êm ái thường ngày mà bà mẹ nào cũng biết. Đứa con nhỏ nào mà không lớn lên với những bài học từ thuở dại thơ.
Ru con cho théc cho muồi,
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.
Trong số các điệu hò nầy, hai điệu được phổ biến rộng rãi có lẽ là hai điệu chèo đò, giống nhau trong câu hát, chỉ có khác nhau chút ít trong cách diễn tả. Hò mái nhì là điệu hò nổi tiếng nhất, buông lơi, man mác, thường được nghe trên dòng sông trầm lặng, độc diễn, nhưng cũng có khi đối đáp giữa hai người cùng nhau tâm sự, kẻ xướng, người xô, gởi lòng vào mây nước trong đêm vắng như hai nhân tình cùng nhau thỏ thẻ mối tình dưới trăng thanh.

Trai:      Em về ngược gió xang mưa
            Thuận buồm xuôi gió biệt mông xa chừng.
            Em về anh cũng muốn về theo
            Lên truông cát nóng lội đèo đá dăm.

Gái:      Cát nóng em đưa lưng em cõng
            Đá dăm em lượm sạch đường anh đi.


Gần gũi với hò mái nhì là hò mái đẩy, rắn rỏi, dồn nén, thường vang vọng trong khúc sông nước xiết hay ở đầm phá sóng to, gió lớn, người lái đò phải vững tay giữ chèo cho nên điệu hò bớt lơ lửng mà dứt khoát, chắc nịch.

Một mình cả chống cả chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen.
Cách ngân nga của điệu hò mái nhì, mái đẩy thật là đặc biệt, nhất là khi do một nghệ sĩ người Huế biểu diễn. Câu hò bắt đầu với những ò ơ à ơ dài dăng dẳng tưởng không khi nào ngớt. Rồi khi câu hò thật sự bắt đầu, mới được hai chữ lại còn ờ ơ à ơ, xem như người hò chần chừ không muốn đi ngay đến đích để người nghe thưởng thức tiếng ngân của mình. Ngày nay, như múa rối nước lên đường Nam tiến, hát cải lương lấn bước miền Bắc, ca hò Huế cùng bún bò, bánh bèo,... phân tán khắp đất nước, vượt biên ra cả nước ngoài. Các ca sĩ buộc phải biết hò, hát những bài ba miền nên thính giả được nghe những nghệ sĩ quê Bắc, quê Nam cũng ca, hò Huế. Ngay ở đoạn ò ơ à ơ đã thấy ngay chưa ổn. Nếu ca trù không thể diễn tả với một giọng khác giọng Bắc, cải lương phải được hát giọng Nam (cải lương ở Hà Nội hát như ngâm thơ, không xuống được một câu vọng cổ), hò Huế phải được trình bày với giọng Trung. Khi giả giọng, ca sĩ hạ giọng quá đáng, cho nghe một giọng hò, hát nếu không vướng âm Nghệ Tĩnh thì cũng lai căng, buồn cười như khi nghe tài tử nàm ảnh Pierre Fresnay bắt chước giọng Marseillais! Tôi chưa may mắn gặp được ai học hò mái nhì, mái đẩyqua nốt nhạc mà làm rung động lòng tôi khi biểu diễn; những nghệ sĩ tuyệt diệu tôi đã được nghe là những người thường hò trong đời sống hằng ngày từ thuở bé nhỏ, những người không có khi nào lại trường học hò!

Trước thế kỷ 14, xứ Huế còn là vùng đất của người Chàm. Theo bước chân công chúa Huyền Trân, người Việt từ miền Bắc mới dần dần vào hai châu Ô, Rí khai khẩn đất hoang, sống chung với người dân bản địa. Theo những nhà chuyên khảo, ca hò Huế là hệ quả giao lưu giữa văn hoá Champa và văn hoá Việt Nam. Họ khám phá ra, bên cạnh những điệu nam ai, nam bằng,giai điêu lơ lớ tức là hơi nam giọng ai hay ngũ cung ai của hò mái nhì, mái đẩy (do, re non, fa già, sol, la non) là một kết hợp của ngũ cung đúng miền Bắc (do, ré, fa, sol, la) với ngũ cung oán nhạc Champa (do, mi, fa, sol, la). Đặc biệt là kết hợp nầy chỉ giới hạn ở vùng Bình Trị Thiên, tức là ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, không lan vào miền Nam cũng không tràn ra miền Bắc.

Đi xa hơn, những nhà nhạc học thấy nhạc Champa chịu ảnh hưởng nhạc Ấn Độ mà âm giai nhạc Ấn Độ lại gẫn gũi với âm giai pélog đảo Java ở quần đảo Nam Dương (Indonesia). Giáo sư Trần Văn Khê đem so sánh thì thấy điệuhò mái đẩy rất giống điệu pélog có thể nguyên quán từ vùng Ba Tư - Ả Rập. Đằng khác, một cây đàn đá tiền sử đã được phát hiện ở Đac Lac mà âm giai lại cũng rất gần âm giai pélog. Thì ra âm giai hai điệu hò mái nhì, mái đẩy đã có sẵn từ trước ở Cao Nguyên miền đất Trung Việt, chứng minh một giao lưu giữa Nam Dương và Việt Nam. Thảo nào, qua bên ấy, tôi thường được người bản xứ gọi tôi "người anh họ phương xa". Giao lưu nầy còn được mở rộng ra Ấn Độ - Nam Dương - Việt Nam khi tôi có dịp viếng và ý thức những điểm tương đồng giữa ngôi tháp gọi là "Bờ biển" ở Mahabalipuram miền đông Ấn Độ và các tháp Chàm ở nước ta. Kiến trúc nầy đã trực tiếp ảnh hưởng lên cách xây tháp miền Nam nước ta hay dã qua trung gian Java, Bali? Ước mong rồi một ngày nào những nhà khảo cứu giải thích được rõ ràng cách thức những giao lưu văn hoá, âm nhạc, nghệ thuật nầy.

Trong lúc chờ đợi, giao lưu Pháp - Việt, sau gần một thế kỷ sống chung và mấy chục năm chinh chiến, lại trên đường nối tiếp. Riêng đối với Huế, hai Festival 2000 và 2002 vừa qua đã là dịp để cho các đoàn văn nghệ Pháp trình bày với công trình đất Thần kinh một mặt văn hoá nào của xứ sở Rousseau và Voltaire. Ngược lại, những đoàn ca hát Huế, Phú Xuân hay Trường Đại học Nghệ thuật, ban nhạc Cung đình hay nhóm tụng kinh niệm Phật của mấy vị tu sĩ cũng đem lai cho thính giả Pháp những làn điệu xa xăm, có khi lạ thường. Thật ra, những câu hò Huế đã từng được thưởng thức trên sâu khấu Paris, ngay cả trong vở múa nhạc Khúc nguyện cầu trong ấy nghệ sĩ Ea Sola khai thác mặt ảm đạm, âu sầu của các câu hò mái nhì, mái đẩythay vì sử dụng điệu hò đưa linh thấy như còn não nùng, ai oán hơn, góp phần xoa dịu khổ đau của những kẻ mất mát người thân.

Đêm năm canh ngày sáu khắc con ve kêu giục giã,
Con đương mơ màng sực nghe tiếng mẹ kêu.
Muốn tìm mẹ tìm sao đặng mẹ,
Tây phương đất Phật mẹ đi không về.
Mùa thu năm vừa qua, nhân buổi gặp mặt với nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương ở Phật đường Khuông Việt tại Orsay, ngoại ô nam Paris, những người bạn Huế, đồng bào hâm mộ thơ nhạc lại được thưởng thức những câu hò gợi biết bao thương nhớ.

Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non.


Phụ hoạ đàn tranh cho chị Hỷ Khương ngâm thơ và hò Huế có giáo sư Trần Văn Khê. Anh Khê đệm thêm đàn tranh làm tăng giá trị câu hò những, qua trí óc tôi, cũng như ngày nay trên các đò du lịch trên sông Hương ca hò có đệm đủ nhạc khí tranh, nhị, tam, nguyệt, sáo thì đưa bài hò qua một hệ thống khác, loại thính phòng, làm mất mát ít nhiều tính hoang vu, thôn dã của câu hò cô độc trong đêm vắng trên sông. Câu hò ấy, ngày nay ai cũng biết do cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị sáng tác, nhân nghĩ đến vua Duy Tân đợi Trần Cao Vân bàn chuyện quốc sự. Ngoài hò mái nhì, mái đẩy bên cạnh thơ văn đủ loại, cụ Ưng Bình còn có những câu hò giã gạo có tính cách trào phúng, ít được biết.

Áo Lơ-muya với giày cao gót
Theo em, theo chị cái mốt tân thời.
Vỏ ngoài che đậy mà chơi,
Tháo ngay trong dạ để gương đời soi chung.
Thấy ra hò thật là một thể loại dân ca rất được truyền tụng ở xứ Huế, một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú, có thể là nơi tập trung nhiều điệu hò nhất trong một diện tích nhỏ hẹp miền Trung. Người con dân nào đã sống lên ở Huế mà không nuôi dưỡng trong lòng một bầu hò đầy kỷ niệm thơ mộng. Giờ đây, ngồi làm việc ở bàn giấy, tôi luôn có một dĩa hò nhẹ nhàng cho tỏa ra một bầu không khí ấm cúng quê nhà, làm dịu bớt nỗi nhớ nhung cả một thời thơ ấu êm đềm trên bờ sông Ô Lâu.

Đây quê mẹ ấp ủ tình thương
Đây xóm làng bao nỗi vấn vương...


Xô thành những ngày nóng bức hè 2003V.Q.Y(179-180/01&02-04)

Friday, June 3, 2011

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Nên đưa nội dung “Nhật ký trong tù”vào chương trình “Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”

Trong cuốn “Nhật ký trong tù”, Bác đã viết:

Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Muốn nên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao

Bài Nghe tiếng giã gạo:
Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bong
Sống ở trên đời, người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công

Bài Đêm lạnh:
Đêm thu không đệm cũng không chăn
Gối quắp, lưng còng, ngủ chẳng an
Khóm chuối trăng soi càng thấy lạnh
Nhòm song. Bắc đẩu đã nằm ngang

Bài Mới ra tù, tập leo núi:
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
Lòng sông gương sáng bụi không mờ
Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh
Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa

Bài Trên đường đi:
Mặc dầu bị trói chân tay
Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng;
Vui say, ai cấm ta đừng.
Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hưu

Bài Bốn tháng rồi:
“Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài”
Lời nói người xưa đâu có sai
Sống khác loài người vừa bốn tháng
Tiều tụy còn hơn mười năm trời

Bởi vì:
Bốn tháng cơm không no
Bốn tháng đêm thiếu ngủ
Bốn tháng áo không thay
Bốn tháng không giặt giũ

Cho nên:
Răng rụng mất một chiếc
Tóc bạc thêm mấy phần
Gày đen như quỷ đói
Ghẻ lở mọc đầy thân
May mà:
Kiên trì và nhẫn nại
Không chịu lùi một phân
Vật chất tuy đau khổ
Không nao núng tinh thần

Bài Nhớ bạn:
Ngày đi bạn tiễn đến bên sông
Hẹn bạn về khi lúa đỏ đòng
Nay gặp đã xong, cầy đã khắp
Quê người, tôi vẫn chốn lao lung

Bài Vọng nguyệt:
Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ

Nhà thơ Tố Hữu trong buổi tọa đàm về Nhật ký trong tù tháng 5-1960 đã viết “Đọc Nhật ký trong tù không bụng dạ nào mà nghĩ mình đọc thơ, vì trong hoàn cảnh đó ( bị địch giam cầm) thơ bật ra ngoài chủ ý của người làm, chính vì thế mà nó lại là văn chương. Gọi Bác là nhà thơ lỗi lạc, nghe cứ thế nào ấy, nhưng đó lại là đúng. Nhật ký trong tù, thực là tập thơ lớn”.

Trong bài viết “Đạo đức và tác phong của Hồ Chủ tịch năm 1979, Tổng bí thư Trường Chinh đã viết “Trong thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi câu mỗi chữ đều mang chất thép, đều toát ra tư tưởng và tình cảm của một chiến sỹ vĩ đại”.

Nhà văn Đặng Thai Mai viết ”Tập thơ trước hết là một tác phẩm tả thực. Tả thực ở đây không chỉ phô bày cái đau đơn mà là một bản cáo trạng, là khả năng đấu tranh để sinh tồn và niền tin chiến thắng. Đọc Ngục trung nhật ký chúng ta luôn bắt gặp một nghệ sĩ, một con người yêu thiên nhiên. Tình cảm thiên nhiên dạt dào, lai láng trong thơ”.

Nhà văn Trần Huy Liệu lại viết “Với lời lẽ giản dị, điềm đạm, vui tươi, trong những ngày gian khổ, đen tối thơ Bác vẫn đầy lạc quan”.

Nhà thơ Hoàng Trung Thông viết: “Thiên nhiên trong thơ Bác thật phong phú, hào phóng và ấm áp lạ lùng. Toàn bộ tập thơ là một bản tuyên ngôn về tự do, thương yêu, cương quyết và khí phách anh hùng của một người cộng sản vĩ đại.”

Nhà thơ Hoài Thanh viết “Thế giới quen thuộc trong thơ Bác là thế giới những hoàn cảnh cụ thể, những sự việc cụ thể trong đời sống hàng ngày. Thơ Bác dắt dẫn ta đi sâu vào lối nhìn, lối nghĩ của người cộng sản.

Đọc “Nhật ký trong tù”giúp ta hiểu được thế nào là giá trị của độc lập tự do, do vậy nên đưa nội dung “Nhật ký trong tù” vào nội dung “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Ngọc Bích

Thursday, March 31, 2011

31/03 Kỷ niệm 10 năm ngày mất nhạc sỹ Trịnh Công Sơn



Bài viết được đăng lúc 8:16:59 AM, 31.03.2011
10 năm là chưa dài để có thể khẳng định một tác phẩm nào đó sống mãi khi tác giả không còn. Nhưng dòng nhạc Trịnh sẽ hòa vào dòng thời gian chảy đến bất tận dòng đời.
Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Sông Hương dành trọn số trang của chuyện mục Tác giả - Tác phẩm để nhớ về Anh - “giọt máu của Huế”.











TRỊNH CÔNG SƠN


“Thư gởi Ngô Kha”

Thư gởi Ngô Kha là bài viết của Trịnh Công Sơn đã đãng trên tập san in ronéo tại miền Nam mà nay đã tuyệt bản, chúng tôi chọn in lại để chúng ta thấy được thái độ dấn thân của Trịnh Công Sơn trong những ngày tháng mà anh đã viết các ca khúc phản chiến nổi tiếng như
 Kinh Việt Nam, Ta phải thấy mặt trời...



Kha;

Trong những ngày tháng 10, với khí thế đấu tranh của nhân dân miền Nam chống lại mọi âm mưu tiêu diệt tự do tư tưởng, tự do báo chí v.v. anh em bỗng nhớ Kha vô cùng (...).

Lá thư nhận được sau cùng của Kha gửi từ Huế vào, mình còn nhớ một điều: Kha không chịu lánh mặt một thời gian dù đã bị hăm dọa. Mình đã suy nghĩ không ngừng về thái độ đó (...).

Cuối năm 1972 thì Kha bị bắt. Anh em loan tin rất nhanh và mình đã vội vã thảo bản tin nhờ một vài tờ báo anh em báo động giùm. Nhưng thật quá thất vọng vì bản tin đó bị xếp vào loại “Tự ý đục bỏ” và dù anh em có thương Kha cũng đành xin được “thông cảm” mà thôi. Mình về nhà quá nản lòng nhưng cũng cố gắng tìm phương cách khác. Cuối cùng đành liên lạc với một anh bạn làm cho hãng truyền hình NBC nhờ loan tin kêu cứu giùm với bên ngoài. Tin loan đi vào ngày hôm sau với đầy đủ tiểu sử, thân thế và quá trình tranh đấu của nhà thơ Ngô Kha. Từ đó về sau đã hỏi thăm bằng mọi cách nhưng tuyệt nhiên không thể nào biết chỗ giam giữ đích xác của Kha.
  
Nhà thơ Ngô Kha

Sau đó là giai đoạn mà anh em bi quan đến độ muốn ngã bệnh vì mỗi người tự thấy chỉ là một thùng hàng loại “nhẹ tay, dễ vỡ” mà thôi. Kha đã từng biết anh em luôn tâm niệmmột điều: “Hãy biết chờ đợi và nuôi lớn hy vọng không ngừng”, nhưng mỗi ngày qua đi, trong khi guồng máy cầm quyền càng lúc càng tinh xảo thì tập thể nhân dân mỗi giờ phút mỗi hao mòn sinh lực bởi đói kém, sưu cao thuế nặng, đàn áp tinh thần, tù tội hay thủ tiêu.v.v. Mình phải thú nhận về sự yếu kém của mình và sau đó đã rơi vào cơn khủng hoảng quá trầm trọng về tinh thần. Trong thời gian này có mấy nhà báo Nhật đưa mình đi khám bệnh ở bác sĩ quen với họ từ Nhật mới qua. Lời khuyên là nên tĩnh dưỡng ở chỗ ít tiếng động.

Mình quyết định về ngay thành phố của bọn mình. Những sinh hoạt trong thành phố giờ đây đã chìm xuống vắng lặng. Muốn gây dựng lại một vài sinh hoạt văn hóa nghệ thuật nhưng dự định bất thành. Anh em đã gặp nhau bàn tính về chuyện cho ra một giai phẩm để làm chỗ cắm dùi cho những cây bút lang thang nhưng đơn gửi đi và giấy mực buồn bã trở về với cái slogan dị hợm cũ kỹ này: “vì tình thế, vì tình hình”. Bài vở đã viết xong đành được xếp lại một đống.

Rõ ràng là chúng ta chỉ còn lại một thứ tự do duy nhất: tự do câm miệng trong nhà tù trá hình.

Anh em gặp lại nhau và loay hoay bắt tay vào một vài công việc khác. Mục đích của anh em là cố gắng tạo lại sinh khí cho thành phố bằng mọi cách. Vả lại mỗi người đều tự nhận thấy là mình đã quá vô ích trong một thời gian khá dài. Điều đó làm cho anh em hoảng hốt nhiều hơn cả.

Quyết định xong là làm việc ngay. Công việc chỉ mới bắt đầu thì cái bọn “công an mật vụ trí thức” lên tiếng xầm xì bàn tán rồi. Bọn nó chụp một vài cái mũ loại chính quyền hay dùng cho những người đối lập để thân ái gửi tặng anh em. Thế là những khó khăn chuẩn bị áo mũ lên đường. Không cần nói ra Kha cũng đoán biết bọn đó gồm những ai rồi. Chúng nó đủ mọi thành phần nhưng thường là những kẻ chiếm ưu thế trong xã hội. Những tên “trí thức mật vụ” đó, đau đớn thay, một phần đang nắm vận mệnh giáo dục trong tay. Nguy hiểm hơn nữa là giọng lưỡi đần độn của bọn nó ve vuốt được một số đông học sinh ngây thơ trong thành phố. Kha có còn nhớ trước đây có lần mình đã là nạn nhân của một tên điểm chỉ trong bọn nó không. Thành phố vốn buồn thiu, qua sự hiện diện của bọn chúng lại còn xấu xí hơn nữa. Và có sự thật này vừa được phát giác là số công an chìm trong thành phố trước đây đã quá đông đảo nay được sự tiếp sức không công của bọn chúng bỗng trở thành một lực lượng hùng hậu đến độ hãi hùng. Cái mạng lưới dày đặc đó muốn kiểm soát toàn bộ tư tưởng và hành vi của từng cá nhân thị xã, nhất là những cá nhân, mà theo luận cứ ngây ngô và buồn cười của bọn chúng thường gọi là bất hảo và không xứng đáng. Chúng nó đâu ngờ rằng từ lâu chúng ta đã bầu chúng làm những công dân xứng đáng nhất của quốc gia rồi mà!

Trở lại cái vụ “rắp tăm bắn sẻ” bên trên sau khi tung ra những món ám khí tối độc thì hậu quả là công an đến từng nhà của anh em để điều tra và cho đến nay tình trạng đó vẫn chưa chấm dứt. Dù vậy, công việc không vì thế mà khựng lại vì anh em đều nghĩ rằng thiện chí của anh em đáng được duy trì và công tác văn hóa là một công tác tốt đẹp. Đã thấy là tốt đẹp thì tiếp tục. Từ thái độ chung này mình bỗng nhớ lại thái độ của Kha trước ngày bị bắt và dù ít dù nhiều chúng ta đã có những điểm tương đồng.

Khi cầm bút viết bức thư này cho Kha mình hoàn toàn không có dụng ý nói dài dòng về tình trạng trên đây, nhưng cái tâm sự u uất trong mỗi người chúng ta nhiều khi kềm hãm không nổi...
Phong trào sinh viên đô thị Huế - bút sắt Bửu Chỉ

Hôm nay những thành thị miền Nam đang vươn vai đứng dậy. Trời đất được cơ hội thoát ra không khí ô nhiễm để thở bằng sinh lực mới cùng tập thể nhân dân yêu nước, yêu hòa bình và tự do. Phải chăng hồi chuông báo tử đã được gióng lên để những gì cần phải tàn tạ hãy tàn tạ nhanh chóng. Khi con người nhận thấy mình không còn gì để bóc lột và tước đoạt thêm thì đứng dậy và lên đường. Đó là điều dĩ nhiên. Chỉ có kẻ mù mới không nhìn ra sự thật đó. Nếu cần phải ngạc nhiên tự hỏi sao vận hội mới của nhân dân trễ nải quá vậy. Trễ đến như vậy có nghĩa là sự chuẩn bị đã chu đáo lắm rồi. - Không hiểu sau những bức tường tối tăm của một nhà giam nào đó Kha có nghe ra những tiếng thét bi hùng của nhân dân? Có lẽ Kha không ngờ nổi là không riêng gì những đoàn thể tôn giáo, những tập thể nhân dân trên mọi lãnh vực như văn hoá, báo chí, tư pháp, tiểu thương, lao động .v.v. và ngay cả trong hàng ngũ quân nhân, công an, và cảnh sát cũng từng giờ phút nóng lòng chờ đợi. Đây đúng là lúc chúng ta có thể dùng được cái từ ngữ này mà không bị cho là xuyên tạc chút nào: “Triệu người như một”. Đúng là triệu người như một không thêm bớt gì được nữa. Mình biết được những nao nức như bờm ngựa bất kham trong Kha. Nếu tin tức bên ngoài đến kịp, có lẽ giờ đây trong lòng Kha đang mở hội không chừng. Hãy cố gắng trấn tĩnh, đừng quá nôn nóng như ngày xưa, nhưng nếu trái tim Kha đã muốn nhảy những nhịp điệu bất thường thì hẵng để cho nó reo ca đôi chút. Nếu có vài trái tim bên cạnh Kha còn tăm tối quá thì thử chuyển cái nhịp điệu vui tươi kia sang giùm. Hãy nhóm lửa cho nhau và chờ đợi. Ở bên ngoài những vòng xích anh em đang cố gắng nối lại với nhau. Cuộc tranh đấu hôm nay của nhân dân trên mọi thành thị miền Nam không giống như những cuộc tranh đấu đã qua. Chắc chắn không phải là ngọn lửa bộc phát để mau tàn tạ. Cái nhịp độ đầy đắn đo, trầm tĩnh trong từng bước một làm mình an tâm lắm. Vả chăng lúc này không tin tưởng vào thế lực và sức mạnh của nhân dân thì có lẽ chúng ta không còn cơ hội tốt đẹp nào hơn để tin tưởng nữa. Này nhé, chỉ trong vòng hai năm, thời gian Kha nằm tù, tất cả mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và giáo dục đã rơi xuống một tình trạng quá thảm thương. Mọi sự gắng gượng đều vô ích. Hoàn toàn là không cứu vãn được gì nữa. Trên chiếc máy thời tiết, tất cả mọi phương diện từ tinh thần đến vật chất như tự do, cơm áo, dân chủ đều được trả về với số “0”. Riêng những vùng ngoại ô thì tệ hại hơn nữa vì đa số dân chúng đều coi như con số “0” trên kia là một tình trạng khả quan đối với họ. Họ là những kẻ chỉ còn chờ sự hủy diệt sau cùng vì chiếc kim đời sống họ đang muốn chạy nước rút về phía cực âm; (-) cơm áo, (-) trú ẩn, (-) công ăn việc làm. Có lẽ, không nên nhắc thêm những chữ tự do, dân chủ đối với họ vì đó là những món xa xỉ suốt đời không có cơ hội dùng đến nhất là trong giai đoạn mà bao tử đang làm một cuộc thi đua không hào hứng về giải “oscar de la faim” - Họ không phải là những triết gia nhưng cả cuộc đời họ là một chủ thuyết hư vô từ trong ra ngoài.

Từ những năm trước chúng ta chờ đợi những gì? Chắc Kha còn nhớ rõ là chúng ta thường nói với nhau phải chờ một ngày mà mỗi sự kiện tình thế phải là một trái cây chín muồi. Hôm nay phải chăng những trái cây chờ mong đã chín tới. Những trái cây đói khổ, chết chóc, thất nghiệp, ruộng vườn .v.v. được hỗ trợ bởi một hoàn cảnh xã hội rách nát, bè phái, tham nhũng, chia rẽ, tù tội, tra tấn... Như thế thì Kha này, có phải là một vận hội mới đã đến lúc phải thành hình hay không?

Mặc dù không ai nói với ai nhưng mình tin rằng mọi người đang nghĩ như thế. Đây là lần đầu tiên mình thấy được những tôn giáo đã bỏ qua những dị biệt để đứng cùng nhau trong một hàng ngũ, những thành phần rất khác biệt, cũng phát thanh cùng một nguyện vọng. Chưa biết sẽ đi đến đâu nhưng nhìn qua cái khối vững vàng đầy tình nghĩa anh em như thế cũng đủ cảm động rồi. Và cái điều mình mơ ước bấy lâu, cái nền tảng của mọi sự xây dựng lâu dài cho hòa bình, tự do, giờ đây đang thành tựu từng phần trên đất nước. Đólà cái “lương tâm tập thể”, một viên ngọc quý giá đã được làm bằng xương máu và sự tranh đấu liên tục của nhân dân.

Kha này,

Nếu không cho là ủy mị quá thì có lẽ phải khóc được trước hình ảnh đẹp đẽ kia và trước viễn ảnh mà “lương tâm tập thể” sẽ mang đến.

Từ 1963 đến giờ đã trải qua bao nhiêu cuộc đấu tranh, lớn có, nhỏ có, nhưng chỉ có lúc này mình mới thấy được sự nhất trí từ mọi phía của quần chúng (Dĩ nhiên là trong sự nhất trí đó hoàn toàn không có sự đóng góp của chính quyền). Và cũng vì một tập thể đồng nhất quá to lớn như thế nên vấn đề tổ chức cơ cấu càng phải cẩn mật và chặt chẽ hơn thêm. Từ đó, như mình đã nói với Kha ở trên, đừng nên nôn nóng quá vì tập thể sẽ đi rất chậm nhưng là sự chậm rãi dũng mãnh của ngọn sóng thần đang góp thêm những con sóng nhỏ để đầy đủ uy thế quét sạch sẽ mặt đất ô uế chúng ta đang sống hôm nay. Không nhắc đến thì thôi, mỗi lần nhắc lại thì trái tim như bốc lửa. Phải tự trấn an lắm mới khỏi có những cử chỉ hoặc hành động thái quá. Trong lúc này không ai có quyền bốc đồng tự tạo lấy sự dấn thân có tính cách cá nhân nữa. Mỗi ước muốn hợp tác phải có nghĩa là hợp tác trên cơ sở tinh thần mà nhân dân đã và đang tiếp tục hình thành một cách quy mô trên khắp các đô thị miền Nam. Mỗi một vụ xé rào phải được xem như có ý phá hoại tập thể. Chính vì tính cách trầm trọng đó mà cái lưới công an đang được sử dụng tinh vi hơn để kịp thời cắt lìa những đầu mối có thể nối liền với tập thể. Đây là một cuộc đấu tranh có tính cách dứt điểm buộc mỗi người phải cẩn trọng và ý thức sáng suốt về chỗ đứng của mình.

Chính quyền một mặt đang chơi trò “thả nổi tình thế” để tạo sự hoang mang trong quần chúng, mặt khác dùng mục tiêu đấu tranh của nhân dân làm mục tiêu của mình để vô hiệu hóa ý nghĩa của sự chống đối. Nhưng Kha này, sự quỷ quyệt đó không che giấu được ai đâu.

Chống tham nhũng, đòi hòa hợp hòa giải dân tộc .v.v. chỉ là những cái cớ tiên khởi để từ đó nhân dân tự cứu mình ra khỏi nanh vuốt độc tài của một chánh sách hiếu chiến và phi dân tộc mà thôi. Nhân dân đã ý thức từ lâu về thân phận của mình, ngày qua tháng lại cũng chỉ là nạn nhân của bóc lột và phỉnh phờ. Ngày nào họ chưa lên tiếng chống đối, ngày đó họ vẫn còn là cơ hội tốt, để đóng góp thêm xương máu của chính họ và của con cái họ, vẫn còn là cái bình phong tốt để tập đoàn cai trị kia nhận tiền viện trợ Mỹ để chia nhau. Trên bao nhiêu thông báo, tuyên cáo, phản kháng thư của tháng 10 này, tiếc rằng Kha không đọc được, bao nhiêu tội ác của nhà cầm quyền đã được bày biện đầy đủ cho nhân dân xem cả rồi. Nên, điều chắc chắn là đồng bào ta không dễ gì bị gạt. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian.

Có lẽ Kha sẽ có buồn đôi chút vì không thể góp tiếng cùng anh em trong giai đoạn này nhưng Kha nên nghĩ lại, mỗi chỗ đứng đều có ý nghĩa của nó trong cuộc đấu tranh chung để giành lại hoà bình và tự do cho dân tộc.

Trong thời gian không thể trực tiếp góp mặt trong cuộc đấu tranh mới mẻ này Kha thử phác họa lại những nền tảng đẹp đẽ cho một đời sống mới trong đó, đời sống con người sẽ xanh tươi như cây cỏ của quê hương, sẽ đi đứng cười nói thong dong không còn sợ hãi, tóm lại, sẽ được phục hồi xứng đáng trong thiên chức làm người.

Lòng đang quá xôn xao bởi tiếng nói đấu tranh đang vang lên trên khắp mọi đô thị miền Nam, mình không đủ trầm tĩnh để viết cho Kha dài hơn nữa. Mong Kha hiểu cho và xin hẹn gặp nhau như những tiếng pháo mừng rỡ trong những ngày linh thiêng sắp đến.

Thân ái và hy vọng
1974
Trịnh Công Sơn
(Trích lại từ Rơi lệ ru người, Nhà xuất bản Phụ Nữ, HN.2001, trang 26-35)(266/4-11)