Showing posts with label BGDDT. Show all posts
Showing posts with label BGDDT. Show all posts

Wednesday, January 18, 2012

Raffles Hà Nội liên kết đào tạo trái phép với nước ngoài


Thứ Hai, 16/01/2012, 23:18 (GMT+7)
TTO - Đó là kết luận thanh tra của Bộ GD-ĐT ngày 16-1 sau đợt kiểm tra Trung tâm đào tạo quốc tế Raffles Hà Nội (106 Tôn Đức Thắng) ngày 13-1.
Kết quả thanh tra cho thấy Trung tâm đào tạo quốc tế Raffles Hà Nội chỉ được cấp phép đào tạo sơ cấp nghề với 8 nghề: quản trị kinh doanh, marketing, quản trị kinh doanh - tài chính, quản trị du lịch - khách sạn, thiết kế đồ họa (2D), thiết kế đồ họa (3D), thiết kế nội thất, thiết kế thời trang.
Trung tâm hoàn toàn không được phép tổ chức hoạt động giáo dục (từ chương trình giáo dục mầm non đến các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ) hay tuyển sinh đào tạo ở cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (theo các chương trình giáo dục từ phổ thông đến các chương trình sau đại học).

Mời đăng ký chương trình tư vấn tuyển sinh - hướng nghiệp 2012


Thứ Hai, 16/01/2012, 13:36 (GMT+7)
* 98 gian tư vấn đã được đăng ký
TTO - Năm 2012, báo Tuổi Trẻ cùng Bộ GD-ĐT tiếp tục tổ chức chương trình tư vấn tuyển sinh - hướng nghiệp cho thí sinh trong cả nước. Chương trình năm nay được tổ chức khá đa dạng, mới lạ và có quy mô lớn nhất từ trước đến nay.
Đến chiều 16-1, đã có nhiều trường ĐH, CĐ, TCCN và các trung tâm đăng ký 98 gian (ngày hội TP.HCM: 66 gian, Cần Thơ: 32 gian) tại Ngày hội tư vấn tuyển sinh - hướng nghiệp 2012.
Hàng chục ngàn học sinh đến tham dự Ngày hội tư vấn tuyển sinh - hướng nghiệp năm 2011 tại TP.HCM - Ảnh: Như Hùng

Tuesday, January 17, 2012

Đào tạo trái phép hơn 600 học viên đại học, cao đẳng


Thứ ba, 17/1/2012

Chỉ là trung tâm đào tạo quốc tế nhưng 6 năm qua Raffles Hà Nội vẫn tuyển sinh và đào tạo hơn 600 học viên hệ cao đẳng, đại học. Trung tâm này vừa bị Bộ GD&ĐT phạt 75 triệu đồng và đề nghị dừng tuyển sinh.
Phạt 3 công ty đào tạo liên kết 220 triệu đồng

Trung tâm đào tạo quốc tế Raffles Hà Nội (quận Đống Đa) là đơn vị 100% vốn đầu tư nước ngoài. Theo giấy đăng ký hoạt động, trung tâm được phép đào tạo nghề ngắn hạn các lĩnh vực tiếng Anh, Marketing, Quản trị kinh doanh, Tài chính kế toán, Du lịch, Thương mại điện tử với quy mô không quá 150 học viên.

Raffles Hà Nội không được phép tổ chức hoạt động giáo dục hoặc tuyển sinh đào tạo theo chương trình giáo dục mầm non, phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Nhưng 6 năm qua, trung tâm này đã tuyển sinh, đào tạo hơn 600 học viên theo 3 cấp độ thuộc chương trình cao đẳng của Raffles College of Higher Education (Singapore) và chương trình đại học của Raffles College of Design & Commerce (Australia). Trong đó, 238 học viên đã tốt nghiệp.

Friday, September 30, 2011

30/09 Rất ít cơ sở giáo dục đại học hoạt động phi lợi nhuận

NGUYỄN LÊ
30/09/2011 16:46 (GMT+7)
Nhiều cơ sở giáo dục đại học tuyên bố là phi lợi nhuận nhưng hành động lại không phải như vậy, vẫn chia chác, mâu thuẫn vì lợi nhuận. Trong số các trường đại học ngoài công lập thì chỉ có Đại học Thăng Long là phi lợi nhuận.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận nhấn mạnh thông tin này tại phiên thảo luận về dự án Luật Giáo dục đại học của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sáng 30/9. Khi vấn đề hoạt động phi lợi nhuận được đặt ra với các quan điểm nhiều chiều.

Monday, August 8, 2011

08/08 Hơn nửa triệu thí sinh trượt đại học vì điểm sàn


Thứ hai, 8/8/2011, 10:59 GMT+7

Sáng nay, sau hai giờ họp bàn, Bộ GD&ĐT công bố mức sàn đại học khối A và D là 13 điểm, khối B và C là 14 điểm (tương đương năm ngoái). Hơn nửa triệu thí sinh đã trượt đại học và phải tìm cơ hội ở khối cao đẳng, trung cấp.
Sàn đại học dự kiến khoảng 13 -14 điểm'Điểm sàn không thể quá thấp'/'Đại học ngoài công lập đứng trước nguy cơ tan rã'

Mức điểm sàn nêu trên được áp dụng đối với học sinh phổ thông khu vực 3, chưa tính điểm ưu tiên khu vực và đối tượng. Khu vực kế tiếp được giảm 0,5 điểm, đối tượng kế tiếp được giảm 1 điểm. Những thí sinh có tổng điểm dưới sàn sẽ không được tham gia xét tuyển nguyện vọng 2, 3 vào các trường đại học.
Điểm sàn bậc cao đẳng thấp hơn bậc đại học 3 điểm, tương ứng với từng khối thi. Ngay sau khi có điểm sàn, các trường đại học cũng công bố điểm chuẩn, điểm trúng tuyển, xét tuyển, số lượng tuyển nguyện vọng 2, nguyện vọng 3.
Thí sinh trong mùa tuyển sinh 2011. Ảnh: Hoàng Hà.
Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Bùi Văn Ga cho biết, có ba phương án điểm sàn được đưa ra. Phương án thứ nhất là các khối cùng 13 điểm. Phương án 2 là giữ nguyên mức điểm sàn như năm ngoái, khối A, D là 13; khối B, C là 14 điểm. Còn phương án 3 là khối B lấy 15 điểm thay vì khối này điểm cao hơn so với năm trước.
Hội đồng điểm sàn đã phân tích và thấy rằng, phương án 1 sẽ khiến số lượng dôi ra so với chỉ tiêu cần quá lớn, phương án 3 cũng không ổn vì dù điểm cao nhưng số lượng ảo khối B cũng nhiều. Cuối cùng, phương án 2 được lựa chọn.
Để tra cứu điểm chuẩn, độc giả soạn tin DCH (dấu cách) Mã trường, gửi 8500.
Ví dụ: Tra cứu điểm chuẩn ĐH Kiến trúc Hà Nội, soạn tin: DCH KTA gửi 8500.
Thứ trưởng Ga nhận xét, với mức điểm sàn như thế, Bộ đã tính mức dư dôi rất lớn so với chỉ tiêu, khối A và C mức dư là 1,6 lần; khối D là 2 lần và khối B dư tới 21 lần.
"Năm nay Bộ còn cho phép thí sinh rút hồ sơ NV2, NV3 nên khi không đỗ đại học ở thành phố lớn thì các em có thể quay về các trường ở địa phương và các trường này có thể tuyển đủ chỉ tiêu cần thiết", Thứ trưởng Ga nói.
Năm 2011, cả nước có 1,5 triệu hồ sơ đăng kí thi đại học và gần 500.000 hồ sơ thi cao đẳng. Số lượng hồ sơ đăng kí dự thi khối A chiếm đến 55,2%, (gần 1,1 triệu), đứng thứ hai là khối B với 381.503 hồ sơ, chiếm 19,4%. Khối D có tổng số 304.480 hồ sơ, chiếm 15,5%. Khối C có 125.264 hồ sơ (chiếm 6,40%). Các khối khác chiếm 3,50% với tổng số 68.768 hồ sơ.
Với mức điểm sàn năm nay, hơn nửa triệu thí sinh đã trượt đại học.
Tham khảo điểm sàn những năm gần đây:
Năm200520062007200820092010
Khối A151315131313
Khối B151415151414
Khối C141414141414
Khối D141313131313
Hoàng Thù
y

Saturday, July 30, 2011

30/07 Bộ trưởng Giáo dục trăn trở về dạy và học lịch sử


30/07/2011 | 08:39:00

CỠ CHỮ A A A

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phạm Vũ Luận. (Nguồn: Internet)

Bên lề Kỳ họp Quốc hội, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận đã dành cho phóng viên cuộc trao đổi về các vấn đề giáo dục.

- Thưa Bộ trưởng, hiện nay một số trường đại học đã công bố điểm thi, trong đó điểm thi môn lịch sử được cho là rất thấp, ông suy nghĩ như thế nào về việc này? 

Bộ trưởng Phạm Vũ Luận: Kỳ thi đại học là kỳ thi để tuyển chọn người giỏi hơn nên đề thi có tính phân hóa cao. Đây không phải kỳ thi nhằm đánh giá kiến thức của học sinh phổ thông nên việc có nhiều học sinh đạt điểm dưới trung bình môn lịch sử cũng như các môn khác cũng là điều dễ hiểu. Chỉ số ít học sinh đủ điểm vào đại học.

Tuy nhiên khi kết quả thi môn lịch sử thấp hơn các môn khác thì cần quan tâm và bản thân tôi cũng rất trăn trở. Tôi nghĩ dạy sử chính là để dạy cho học sinh hiểu biết thế giới xưa và nay, hiểu được truyền thống tốt đẹp của cha ông, bồi dưỡng lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm với quê hương, đất nước. Nên kết quả thấp như vậy cũng không thể xem nhẹ và cần phải phân tích và đánh giá một cách khoa học để rút ra những kết luận cần thiết.

- Có ý kiến cho rằng kết quả học kém môn lịch sử cũng như các môn khoa học xã hội khác là do chúng ta đã quá chú trọng hô hào các em học ngoại ngữ, tin học...? 

Bộ trưởng Phạm Vũ Luận: Tôi nghĩ chúng ta cần phải nhìn nhận vấn đề này một cách toàn diện, phải nhìn thấy rõ những nguy cơ và thách thức của thời đại để có các nhận định đúng và giải pháp phù hợp. Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải dạy và học ngoại ngữ và tin học ngay từ các lớp dưới.

Trong hoàn cảnh đó, việc dạy và học lịch sử, văn học và một vài môn môn khác không được như trước cũng là điều dễ hiểu. Còn có một nguyên nhân khác nữa: Các bạn hãy nhìn rộng ra các nước khác sẽ thấy: không chỉ ở Việt Nam có hiện tượng thế hệ trẻ sao nhãng và thờ ơ với văn học, lịch sử, cũng như các môn khoa học xã hội nói chung. Điểm thi môn lịch sử thấp và ngành sử không thu hut được nhiều người, nhất là người giỏi là một hiện tượng chung của rất nhiều nước trên thế giới. Vì sao?

Theo tôi vì tiếng nói của ngành khoa học lịch sử trong cuộc sống hiện đại hôm nay cũng như cơ hội tìm việc làm có thu nhập tốt của những người giỏi sử, giỏi văn không nhiều như các lĩnh vực khác... Đó là vấn đề mang tính thời đại, do tác động của cách mạng khoa học công nghệ, do sự biến đổi của đời sống xã hội và đòi hỏi của thị trường lao động.

Trong khi đó, ngoại ngữ và tin học được giới trẻ đón nhận rất nhiệt tình. Có phải vì nội dung va phương pháp dạy và học tin học và ngoại ngữ hay hơn lịch sử không? Theo tôi câu trả lời là không. Nhưng trong xã hội hiện đại không thể thiếu tin học được và người ta phải học. Khi giỏi tin học, các em dễ tìm được việc làm cho thu nhập cao hơn . Từ đó người ta có động lực tự thân để học và học giỏi tin học.

Tôi cho rằng chúng ta phải nhìn rõ xu thế tác động của thời đại, nhìn rõ quy luật khách quan này để có các định hướng đúng và chú ý xây dựng một môi trường giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ.

- Có chuyên gia lịch sử lại cho rằng, đây là kết quả của việc dạy và học lịch sử chưa lôi cuốn, quá chú trọng chi tiết và còn mang tính nhồi nhét trong nhà trường? Bộ trưởng có đồng ý về điều này? 

Bộ trưởng Phạm Vũ Luận: Đây là một ý kiến đúng nhưng chưa đủ. Tôi nghĩ nếu dạy sử mà chỉ hướng tới việc yêu cầu học sinh nhớ chi tiết máy móc, nay nhớ xong mai lại quên, thì không đúng. Điều quan trọng là phải hướng đến mục tiêu giúp các em tiếp thu được tinh thần yêu nước và truyền thống dân tộc qua mỗi bài học lịch sử, từ đó xây dựng ý thức trách nhiệm của mọi người đối với tổ quốc, với đồng bào.

Tuy nhiên, cũng không nên cực đoan cho rằng học sinh bây giờ không cần nhớ điều gì cả. Những ngày tháng đã trở thành sự kiện, thành dấu ấn, thành máu thịt đối với mọi người Việt Nam thì ta phải dậy cho các em nhớ chứ! Ví dụ như ngày giỗ Tổ Hùng Vương, ngày thành lập Đảng, ngày sinh Bác Hồ, ngày giải phóng Miền Nam thống nhất Tổ quốc ... ,Tất cả chúng ta phải nhớ chứ! Là con cháu Lạc Hồng mà ngày giỗ tổ, ngày giỗ ông bà cha mẹ, ngày lễ tết truyền thống không nhớ thì còn đâu là nguồn cội, lấy đâu ra lòng yêu nước.

Tôi xin chia sẻ một vài suy nghĩ bước đầu nhân đề cập đến kết quả thi tuyển sinh đại học môn lịch sử. Công việc đổi mới căn bản, toàn diện chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học trong nhà trường, trong đó có môn lịch sử đang ở giai đoạn khởi động, cần sự chung tay góp sức của tất cả mọi người./.

Hoàng Gia Huy (TTXVN/Vietnam+)

Monday, July 18, 2011

18/07 VN đoạt 7 huy chương Olympic quốc tế hóa học, sinh học

Thứ Hai, 18/07/2011, 19:11 (GMT+7)
TTO - Theo tin từ Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục Bộ GD-ĐT, đoàn thí sinh dự thi Olympic hóa học quốc tế tại Thổ Nhĩ Kỳ đều đoạt giải.
Trong đó, hai huy chương bạc thuộc về Trần Thị Ngọc Quý, lớp 12 Trường phổ thông Năng khiếu, Đại học Quốc gia TP.HCM và Phạm Đăng Huy, lớp 11 Trường THPT chuyên Trần Phú, Hải Phòng.
Hai huy chương đồng đã thuộc về Phạm Minh Đức, lớp 12 Trường THPT chuyên Hà Nội -Amsterdam và Võ Duy Việt, lớp 12 Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Bình Định.
Tại kỳ thi Olympic sinh học quốc tế tổ chức tại Đài Loan, ba huy chương đồng thuộc về các học sinh Nguyễn Trung Kiên, lớp 12 Trường THPT chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội; Trương Thị Phương Thảo, lớp 12 Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Đà Nẵng và Nguyễn Thu Trang, lớp 11 Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định. 
Học sinh Đặng Thu Trang, lớp 12 Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định, nhận được bằng khen.
VĨNH HÀ

Wednesday, June 22, 2011

22/06 Biên soạn sách Giáo Khoa: Đừng tự làm khó mình

Tuổi Trẻ Cuối tuần

TTCT - Đã có rất nhiều tranh luận về đề án “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa (SGK) giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ Giáo dục - đào tạo (GD-ĐT) kèm theo nhiều phân tích, thông tin về nội tình vấn đề cả giai đoạn trước đây và hiện nay. Để có cái nhìn toàn diện hơn về đề án này và vấn đề SGK, một sự so sánh với quốc tế là cần thiết.

Vì thế trong bài viết này, vấn đề SGK của Singapore, một nước cùng khu vực Đông Nam Á và có nhiều nét tương đồng về văn hóa, thể chất con người với Việt Nam, sẽ được dùng để tham khảo.
Theo kết quả của Chương trình quốc tế đánh giá học sinh (PISA) của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): trong số 65 nước tham gia chương trình này, học sinh của Singapore đứng thứ 5 về đọc hiểu, thứ 2 về toán, thứ 4 về khoa học. Như vậy, nếu dựa trên kết quả của PISA thì giáo dục phổ thông của Singapore thuộc nhóm 3-5 nước tốt nhất thế giới.
Việt Nam dự tính đến năm 2012 mới tham gia chương trình này nên chưa có kết quả cụ thể. Nhưng nền giáo dục của Việt Nam được giới chuyên môn đánh giá là kém hơn Singapore ở mọi bậc học.
Vậy Singapore đã xây dựng chương trình, SGK như thế nào?
Trước hết, Singapore có nhiều bộ SGK, chứ không phải một bộ thống nhất dùng toàn quốc như ở Việt Nam. Theo thống kê, số lượng SGK được Bộ Giáo dục Singapore cho phép sử dụng làm giáo trình ở bậc tiểu học (lớp 1-6) như sau:
Môn toán: 126 bộ, trung bình mỗi lớp có 21 bộ.
Tiếng Anh: 38 bộ, trung bình mỗi lớp có 6-7 bộ.
Khoa học: 81 bộ, trung bình mỗi lớp có 12-13 bộ.
Danh mục của tất cả SGK này, bao gồm tên sách, tên tác giả, nhà xuất bản, thời gian có hiệu lực, dạng sách... đều được công bố trên trang web của Bộ giáo dục Singapore cũng như trong các tài liệu hướng dẫn để bất cứ ai cũng có thể kiểm tra được (*). Ngoài ra còn nhiều sách tham khảo, sách bồi dưỡng không được Bộ Giáo dục chứng nhận là SGK, nhưng vẫn được phép sử dụng để tham khảo và bồi dưỡng học sinh. Với các bậc học khác, số lượng SGK có thể ít hoặc nhiều hơn, nhưng mỗi môn học, lớp học đều có nhiều bộ SGK để giáo viên và học sinh lựa chọn.
Bằng cách nào mà Bộ Giáo dục Singapore lại có đủ nhân lực, vật lực để biên soạn nhiều SGK như vậy?
Singapore là một nước rất trẻ, mới ra đời được 46 năm. Vậy thì không lấy đâu ra kinh nghiệm hàng chục năm trong chuyện biên soạn SGK. Trên thực tế, tất cả những gì mà Bộ giáo dục Singapore làm là biên soạn khung chương trình chuẩn cho các bậc học. SGK sẽ do các tác giả và các nhà xuất bản biên soạn theo khung chương trình chuẩn này và phát hành ra thị trường. Bộ Giáo dục sẽ thẩm định và cho phép sử dụng trong nhà trường với tư cách SGK với những bộ sách đạt yêu cầu về chất lượng. Vì thế, với SGK chương trình tiểu học, có đến 19 nhà xuất bản tham gia phát hành, thay vì một Nhà xuất bản Giáo Dục như của Việt Nam.
Liệu có phải lo ngại về chất lượng của những bộ sách này? Chất lượng giáo dục được quốc tế kiểm định; dòng học sinh của các nước, trong đó có Việt Nam, sang Singapore du học ngày càng tăng; và số lượng các đoàn cán bộ, giáo viên, trong đó có cả Bộ GD-ĐT Việt Nam, sang Singapore học hỏi kinh nghiệm sẽ là câu trả lời thuyết phục nhất.
Sách giáo khoa của Việt Nam
Đến nay, Việt Nam vẫn chỉ dùng một bộ SGK chung trên toàn quốc. Bộ chương trình và SGK hiện hành được thực hiện theo nghị quyết 40/2000/QH10 ngày 9-12-2000 và đưa vào sử dụng từ năm học 2002-2003, hoàn thiện năm 2004-2006.
Nếu coi lại đánh giá của chính Bộ GD-ĐT rằng bộ chương trình và SGK này đã “được xây dựng và biên soạn theo hướng chuẩn hóa, vừa đáp ứng yêu cầu cập nhật, hiện đại vừa bám sát nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và theo một quy trình khá thống nhất, chặt chẽ, góp phần từng bước đổi mới sự nghiệp giáo dục của đất nước”, lại có đủ thứ ưu điểm: “chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản và hướng nghiệp” thì thật khó mà thuận ngôn để giải thích giùm công luận tại sao đến nay, sau khi hoàn thiện được năm năm, lại trở nên bất cập tới mức mà cũng chính bộ phải xác quyết: “Đã đến lúc phải đổi mới căn bản và toàn diện chương trình giáo dục phổ thông”.
Chỉ có thực tế áp dụng mới thể hiện rõ sự bất cập của chương trình, SGK hiện hành sau năm năm hoàn thiện. Trớ trêu thay, đây cũng là lý do ra đời của đề án 70.000 tỉ đồng nọ. Vấn đề là với độ dài của đề án, 11 năm (2011-2022), ai có thể đảm bảo rằng ngay sau khi được công nhận là “hoàn thiện”, chương trình và SGK thu được lúc ấy sẽ thôi “bất cập”, sẽ không xảy ra một lần nữa đòi hỏi phải “đổi mới căn bản và toàn diện” như đặt ra với bản đề án lần này?
Chưa kể những người trực tiếp tham gia đề án, đặc biệt là lãnh đạo các bộ, ban, ngành, chính quyền địa phương (theo đề án, có sáu bộ và tất cả UBND các tỉnh, TP trực thuộc trung ương và nhiều ban, ngành, hội đồng khác tham gia) lúc ấy còn những ai ngồi lại? Ai sẽ chịu trách nhiệm đến cùng về chất lượng của việc triển khai đề án?
Tư duy lạc hậu
Việc dồn sức để xây dựng một bộ chương trình, SGK cho toàn quốc phản ánh một tư duy đã lạc hậu về giáo dục nói chung và xử lý vấn đề SGK nói riêng. Đó là sự cứng nhắc, ôm đồm, nhồi nhét, áp đặt và muốn kiểm soát toàn bộ.
Và thật trớ trêu, mục đích đổi mới của đề án này lại mâu thuẫn nghiêm trọng với nội dung của chính nó. Để minh họa, xin đơn cử ví dụ sau:
Một trong những định hướng chủ đạo của đề án là “đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục” - có thể hiểu là đổi mới phương pháp, hình thức dạy và học, trong đó tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận các nguồn học liệu đa dạng, khai thác các loại thông tin phong phú qua Internet để xây dựng các chủ đề học tập theo sở thích và phát triển năng lực tự học tùy theo tốc độ, khả năng, cách học phù hợp với cá nhân học sinh. Nhưng chính việc ban hành một bộ SGK và thống nhất sử dụng trong toàn quốc đã hạn chế khả năng này.
Nếu có nhiều bộ SGK, các nguồn học liệu chắc chắn sẽ đa dạng hơn một bộ sách. Việc khuyến khích học sinh khai thác nhiều nguồn thông tin khác nhau để xây dựng chủ đề học tập lại càng làm vai trò của SGK trở nên kém cần thiết hơn. Vậy mà, trong đề án này, Bộ GD-ĐT vẫn muốn dồn lực để xây dựng một chương trình, biên soạn một bộ sách, trái với định hướng khuyến khích học sinh và giáo viên khai thác nhiều nguồn học liệu khác nhau để xây dựng chủ đề học tập.
Có lẽ Bộ GD-ĐT đã ý thức được sự phát triển tất yếu này, nên ngay trong đề án có thấy nêu: quá trình xây dựng một chương trình, một bộ SGK này chỉ là sự chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến tới biên soạn nhiều bộ SGK trên cơ sở một chương trình thống nhất trong cả nước. Câu hỏi đặt ra là tại sao Bộ GD-ĐT lại chọn một sự chuẩn bị lâu dài và tốn kém như vậy mà không đi thẳng vào việc sử dụng nhiều bộ SGK song song như hầu hết các nước? Phải chăng bộ đang tự làm khó cho mình, hay còn lý do gì khác không thể giải thích được?
Một đề xuất khác
Trên cơ sở so sánh cách xử lý vấn đề SGK của Singapore và những nền giáo dục tiên tiến khác, chúng ta hoàn toàn có thể tiến hành làm SGK một cách tương tự. Bộ GD-ĐT có thể tập hợp một số chuyên gia, nhà giáo, nhà khoa học có uy tín trong nước và quốc tế để thành lập hội đồng giáo dục. Hội đồng này sẽ ban khung chương trình giáo dục chuẩn cho các bậc học.
Trên cơ sở đó, các nhà giáo, nhà khoa học sẽ biên soạn SGK cho các môn học theo khung chương trình chuẩn này, rồi trình lên hội đồng giáo dục. Nếu bản thảo đáp ứng được các yêu cầu của khung chương trình chuẩn thì sẽ được hội đồng giáo dục chứng nhận đủ tiêu chuẩn sử dụng làm SGK trong trường phổ thông. Việc biên soạn và phát hành cụ thể hoàn toàn do các cá nhân và các nhà xuất bản đảm nhiệm.
Chi phí để xây dựng một khung chương trình giáo dục chuẩn sẽ không đáng kể so với việc biên soạn toàn bộ các SGK. Nhà nước sẽ không cần phải trả công cho những người biên soạn sách vì họ đã có nhuận bút khi phát hành. Chưa kể việc có nhiều SGK, nhiều nhà xuất bản tham gia phát hành sẽ tạo ra cạnh tranh, làm chất lượng SGK liên tục được cải thiện và giá SGK chắc chắn sẽ dễ chịu hơn khi nằm trong tay một ông lớn độc quyền như Nhà xuất bản Giáo Dục hiện nay.
TS GIÁP VĂN DƯƠNG (từ Singapore)
Ở nhiều nền giáo dục tiên tiến khác, như Anh chẳng hạn, trên cơ sở các bộ SGK đang lưu hành, các sách tham khảo và các nguồn học liệu, thông tin khác, giáo viên ở Anh hoàn toàn chủ động lựa chọn những nội dung thích hợp nhất (tổ chức kiến thức, minh họa...) làm thành một bộ giáo trình riêng cho mình để giảng dạy. Tất nhiên, nội dung giảng dạy vẫn nằm trong khung chương trình chuẩn mà Bộ Giáo dục Anh đã ban hành.
Ở nhiều nơi có nền giáo dục tiên tiến khác, như ở bang California của Mỹ, nhiều trường học đã áp dụng cách học không sách vở: học không cần SGK, thậm chí không cần ghi chép. Dựa trên khung chương trình chuẩn, giáo viên và học sinh sẽ chủ động khai thác thông tin trên mạng Internet và tổ chức thành các chủ đề học tập thích hợp.
Như vậy, những nền giáo dục này đã đi qua giai đoạn nhiều bộ SGK sang giai đoạn sử dụng vô số nguồn học liệu đồng thời, nhưng tất cả vẫn dựa trên một bộ khung chương trình chuẩn đã được ban hành.
__________

Wednesday, June 15, 2011

15/06 Tranh luận nảy lửa đề án 70.000 tỷ đồng

Bài đã được xuất bản.: 15/06/2011 10:35 GMT+7
Đề án Đổi mới chương trình SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015 với con số đầu tư 70.000 tỷ đồng đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của xã hội. Bàn tròn trực tuyến của VietNamNet diễn ra ngày 13/6, với sự tham gia của đại diện Bộ GD-ĐT, các nhà giáo dục đã thể hiện những ý kiến trái chiều xoay quanh đề án này.


Nhà báo Kim Dung: Thưa ông Vũ Đình Chuẩn, ở góc độ quản lý Nhà nước, nhiều ý kiến cho rằng dự thảo chiến lược giáo dục Việt Nam từ năm 2008 đến 2020 có nhiều mục tiêu nhưng việc cần làm trước là cải cách giáo dục, hoặc đổi mới giáo dục một cách toàn diện theo Nghị quyết của Đảng khóa 11.
Tuy nhiên, văn bản chiến lược giáo dục này vẫn chưa được hoàn thành, mặc dù đã qua 20 lần dự thảo. Đến tận hôm nay, nó vẫn chưa được công bố và công cuộc đổi mới giáo dục toàn diện theo như cách gọi phổ biến chưa triển khai.
Vì sao Bộ GD-ĐT lại chủ trương xây dựng chương trình, SGK mới mà dư luận cho rằng đó là việc làm ngược?
TS Vũ Đình Chuẩn
TS Vũ Đình Chuẩn: Năm 2008, Bộ GD-ĐT đã khởi động việc xây dựng chiến lược giáo dục.

Bộ GD-ĐT đã tổ chức nhiều hội nghị lấy ý kiến của các cơ quan khác nhau ở hội khoa học, trường đại học, cơ sở đào tạo và đưa lên mạng.

Khi có Nghị quyết 11 về đổi mới toàn diện triệt để, căn bản giáo dục Việt Nam thì phải tiếp thu, quán triệt tinh thần đổi mới toàn diện bằng văn bản chiến lược.

Hiện nay, chúng tôi đang chỉ đạo bộ phận biên soạn tích cực hoàn thiện chiến lược giáo dục để thông qua.

Hội thảo về đề án Đổi mới chương trình và sách giáo khoa đã mở từ khi có thông báo 242 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 2, trong đó có định hướng phát triển GD-ĐT đến năm 2020.

Thông báo 242 có chủ trương đổi mới toàn diện, căn bản, trong đó, gồm đổi mới chương trình và sách giáo khoa.Bộ GD-ĐT đã giao cho Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam xây dựng đề án này.

Bộ GD-ĐT đã đưa đề án ra xin ý kiến của các cơ quan quản lý, các nhà khoa học và vừa rồi đã có cuộc gặp gỡ các nhà khoa học trong Liên hiệp hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam.

Những kiến trong thời gian vừa qua là rất bổ ích cho một bản dự thảo. Chúng tôi đang đề nghị viện tiếp thu nghiêm túc để hoàn chỉnh đề án, đáp ứng được việc thay đổi chương trình SGK và sử dụng đại trà vào năm 2017.

Thực ra, bản chiến lược đang trong quá trình soạn thảo. Bản đề án đổi mới sách giáo khoa cũng đang trên dự thảo.

Chúng tôi nghĩ dự thảo của đề án đổi mới nằm trong bối cảnh chung đó.

Những vấn đề nằm trong chương trình đổi mới này là những vấn đề nhỏ hơn của chiến lược, của chương trình hành động. Đề án phải chịu sự chỉ đạo của các vấn đề vĩ mô như vậy.

Nếu làm tuần tự thì sẽ chậm. Chúng tôi làm như thế nhưng vẫn đảm bảo tinh thần: có thể những đề án nhỏ làm sáng tỏ những vấn đề của đề án lớn và đề án lớn chỉ đạo những vấn đề của đề án nhỏ.

Khi ban hành thực hiện phải theo trình tự: vĩ mô - vi mô.
Nhà báo Kim Dung: Xin mời GS Nguyễn Minh Thuyết, vừa là chuyên gia, vừa là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh Thiếu niên Nhi đồng Quốc hội. Ở cơ quan lập pháp, hẳn ông có nhiều suy nghĩ về vấn đề này?
GS Nguyễn Minh Thuyết
GS Nguyễn Minh Thuyết: Tôi được mời với tư cách người làm giáo dục lâu năm.

Đề án này có lẽ bất ngờ nhất là con số 70.000 tỷ đồng. Đây là con số rất to, nhất là đối với nước ta.

Nhưng trong 70.000 tỷ đồng đó thì có 65.000 tỷ để dành cho xây dựng trường sở, đầu tư trang thiết bị trường học, khoảng 300 tỷ để đào tạo giáo viên và 962 tỷ để biên soạn chương trình sách giáo khoa mới.

962 tỷ cũng lớn, nhưng nói cho đúng ra, nó chỉ hơn 1 km đường Kim Liên - Ô Chợ Dừa thôi. Để thay toàn bộ chương trình và SGK mới, tôi nghĩ là cũng không lớn lắm.
Nhà báo Kim DungNhưng điều người ta băn khoăn là ngành giáo dục đưa ra đúng chưa, và đề án này có gì mới khôngthưa ông?
GS Nguyễn Minh Thuyết: Tôi thấy, đưa ra như lúc này là chưa đúng, vì trước hết, phải có một kế hoạch tổng thể để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam, không phải chỉ giáo dục phổ thông theo Nghị quyết ĐH 11 của Đảng.

Trên cơ sở chương trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam  mới bàn đến chuyện này được.

Hiện nay, chúng ta chưa có hình dung gì về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam mà đưa đề án này thì không phù hợp.

Tôi cũng xin nói thật cảm tưởng là nếu nói rằng là giáo dục của chúng ta không có tổng chỉ huy là không đúng.

Nhưng mình phân cắt nhiệm vụ rõ ràng quá, ai phụ trách phần nào cứ việc đưa đề án vào mà không có một cái nhìn tổng thể.

Tôi được biết, Hội đồng Quốc gia Giáo dục được thành lập ngay đầu khóa Chính phủ mới này, tức năm 2007. Nhưng suốt từ đấy đến nay, hội đồng này chưa bao giờ họp.

Không hề họp lần nào để bàn thì làm sao gọi là quốc sách hàng đầu? Chính vì thế, giáo dục của ta chưa có định hướng xây dựng đổi mới căn bản, toàn diện.

Chúng tôi thấy băn khoăn vì đề án này chuẩn bị trên những phác thảo ý tưởng ban đầu, dưới dạng gạch đầu dòng 30 trang chứ chưa có nghiên cứu đầy đủ, chi tiết và cũng không có cái mới so với chương trình SGK hiện nay.

Như thế, rất khó có thể được dư luận tán đồng. Quan trọng nhất là khó đạt được kết quả tốt.

Một dự án, một công trình có vốn đầu tư 35.000 tỷ trở lên, trong đó có ít nhất 11.000 tỷ đồng lấy từ ngân sách Nhà nước là phải trình Quốc hội.

Tôi ở Quốc hội 2 khóa, mỗi khi xem xét một dự án cỡ như thế, tài liệu phải cỡ độ nửa mét.

Ở đây, kèm theo đề án này phải có rất nhiều nghiên cứu thì mới thuyết phục được nhân dân, đại biểu Quốc hội, Chính phủ.

Có một số cách làm sẽ phải tính toán để thay đổi như dư luận từ lâu mong muốn. Đó là có một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa, nhưng hiện nay luật chưa cho phép.

Tôi không nghĩ ngành giáo dục độc quyền vì nó đang vận hành dựa trên hai luật, gọi là độc quyền tự nhiên.
"Tôi không nghĩ ngành giáo dục độc quyền vì nó đang vận hành dựa trên hai luật, gọi là độc quyền tự nhiên. Bộ phải thuyết phục Quốc hội để thay đổi quy định này. Nếu không, phải tìm ra cơ chế để có nhiều nhóm cùng xây dựng sách giáo khoa để lựa chọn"- GS Nguyễn Minh Thuyết
Luật Xuất bản quy định mỗi nhà xuất bản (NXB) có tôn chỉ mục đích và chỉ xuất bản sách theo tôn chỉ mục đích đó thôi.

Hiện nay, không có NXB nào ngoài NXB Giáo dục có tôn chỉ mục đích là xuất bản SGK nên để các NXB khác xuất bản sách giáo khoa là không đúng.

Thứ hai, Luật Giáo dục vẫn quy định một chương trình một bộ sách giáo khoa. Nếu là Bộ trưởng Bộ GD-ĐT, tôi cũng không đời nào giao cho NXB khác. Tôi phải giao cho NXB thuộc quyền của mình để có sai sót, tôi còn có thể xử lý.

Tuy nhiên, hiện nay, dư luận cho rằng phải có nhiều bộ sách giáo khoa. Ít nhất có nhiều nhóm biên soạn thì mới cạnh tranh được chất lượng.

Tôi nghĩ rằng, Bộ phải thuyết phục Quốc hội để thay đổi quy định này. Nếu không, phải tìm ra cơ chế để có nhiều nhóm cùng xây dựng sách giáo khoa để lựa chọn.

HS Trường Tiểu học Quang Trung (Hà Nội) trong ngày trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia.
Một dự án đổi mới chương trình SGK mà phần dành cho SGK chỉ có 1,5 %

Nhà báo Kim Dung: Theo GS, thời điểm nào nên có chương trình và SGK mới?

GS Nguyễn Minh Thuyết: Thông thường, tuổi thọ SGK các nước từ 10-15 năm.

Còn ở nước ta cũng tùy. Nếu tính từ chương trình cải cách giáo dục năm 1981 đến thời điểm thay sách là 21 năm.

Nếu tính từ thời điểm 2002 đến năm 2019 đề án này triển khai toàn quốc là 17 năm.

Tôi nghĩ thời gian hợp lý, chuẩn bị là vừa. Nhưng trước hết, phải đưa ra tổng thể cải cách giáo dục đã, trên cơ sở đó tính toán chứ không làm nhà nền móng chưa có mà lại xây lửng lơ một cái lầu ở tầng 3. Thời điểm này không hợp lý là vì thế.
TS Nguyễn Anh Dũng
Nhà báo Kim Dung: Xin mới TS Nguyễn Anh Dũng, Phó Viện trưởng Viện Kho học Giáo dục VN
TS Nguyễn Anh Dũng: GS Thuyết nói tới đời sống của chương trình. Riêng thời điểm này, đã phải tính đến việc chuẩn bị cho một chương trình mới.

Chương trình song song làm với chiến lược. Ngay trong kết luận của Bộ Chính trị đã yêu cầu hoàn thành năm 2015, sau đó Văn phòng TW Đảng đề nghị Bộ GD-ĐT soạn thảo chương trình này để trình Ban chấp hành Trung ương.

Đến khi nghị quyết thứ 11 đưa ra thì chương trình ở trong tình thế như vậy.

Nhưng chúng tôi quan niệm: chiến lược phát triển giáo dục năm 2011-2020 cũng đang soạn thảo và thấm nhuần tinh thần của văn kiện ĐH Đảng lần thứ 11.

Đó là tính căn bản và toàn diện. Trong quá trình hoàn thiện, ban soạn thảo rất quan tâm đến điều này.

Chương trình và sách giáo khoa là một nhánh như TS Chuẩn nói: nếu chúng ta không làm ngay thì sợ rằng một vài năm tới, đợi có chiến lược giáo dục, đợi tổng thể sợ là muộn.

Nên chăng, ta vẫn cứ song song làm nhưng dứt khoát chương trình này vẫn phải công bố sau chiến lược và phải chịu sự ước chế của chiến lược đào tạo năm 2011- 2020.

Đây là một đề án được xây dựng  trong quá trình nghiên cứu. Nếu nói nó như một phác thảo thì lẽ ra, ngoài hơn 30 trang, phải có hẳn phụ lục làm rõ những mục tiêu, định hướng đổi mới, làm rõ kinh nghiệm quốc tế hay đánh giá chương trình trước đây.

Ý là phác họa một mô  hình của chương trình, nhưng có lẽ đó là thiếu sót của chúng tôi.
Để xây dựng đề án này, từ ngay năm 2003, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã có 8 đề tài nghiên cứu liên quan: vấn đề sự phát triển của kinh tế - xã hội đến năm 2020 và sự đổi mới của giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông trong hội nhập quốc tế. Đây là hai đề tài trọng điểm cấp Bộ.

Hiện nay, GS Phạm Minh Hạc đang chủ trì một đề tài trọng điểm cấp Bộ về triết lý giáo dục. Đó là những vấn đề mang tính chất tầm nhìn.

Rất nhiều những nghiên cứu về tâm sinh lý lứa tuổi cho giai đoạn này có 5 đề tài về giá trị, nhân cách về tâm lý lứa tuổi.

Với chương trình, có tới 10 đề tài ở các cấp khác nhau nghiên cứu về lý luận.

Có 7 đề tài về kinh nghiệm quốc tế phát triển chương trình, đồng thời các yếu tố của chương trình cũng được nghiên cứu tại đây.

Một trong những chuyên gia đó là anh Đỗ Ngọc Thống.

Thú thực với GS Thuyết, còn nhiều vấn đề, nghiên cứu năng lực chung cho tất cả học sinh. Trước hết là Toán, Tiếng Việt và Ngữ văn.

Ngoài một số vấn đề như nội dung, phương pháp, đánh giá, chúng tôi nghiên cứu từ nay đến cuối năm phải đề xuất được mô hình tích hợp để đưa vào đề án hay phân hóa tự chọn theo năng lực.  Tự chọn là xu hướng của quốc tế.

TS Vũ Đình Chuẩn: Ngay sau khi xin ý kiến trực tiếp, Bộ trưởng đã có kế hoạch: Ngày 18/4, làm việc với tất cả các giáo sư và nghe 20 ý kiến ở ĐH Sư phạm đến 12h.

Ngày 15/4, có một cuộc làm việc tương tự như thế ở TP.HCM, các thứ trưởng làm việc với ĐH Sư phạm 1 và ĐH Thái Nguyên trong khuôn khổ chương trình đổi mới toàn diện sách giáo khoa.

Bộ trưởng yêu cầu lập danh sách các nhà quản lý giáo dục. Chúng tôi lập được danh sách 33 người.

Bộ trưởng cũng yêu cầu lập thêm danh sách những nhà chuyên môn như GS Nguyễn Minh Thuyết, GS Hồ Ngọc Đại, GS Văn Như Cương. ...và chúng tôi mới lập danh sách này.

Bộ trưởng cũng có dự định tiếp các giáo sư để trao đổi các vấn đề đổi mới căn bản toàn diện trong đó vấn đề chiến lược SGK.

Điều này thể hiện được là đang cố gắng và đang muốn cố gắng xin ý kiến giáo sư, nhà khoa học và nhà quản lý.

Nhà báo Kim Dung: Xin mời GS Nguyễn Kế Hào phát biểu ý kiến.

GS Nguyễn Kế Hào
GS Nguyễn Kế  Hào: Cảm ơn VietNamNet đã tạo cơ hội bày tỏ lương tâm nhà giáo và trách nhiệm công dân trước vấn đề này.
Tôi rất ít nói đến số tiền 70.000 tỷ . Cho rằng đó là nhiều thì là nhiều, cho rằng ít thì đó là ít. Việc xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị rất vô cùng, có nguồn Nhà nước, nguồn của dân và các nguồn khác. Không phải 1 năm hay 1 đợt mà có đến đâu làm đến đó.
Tôi đồng ý với ý kiến của Bộ trưởng, nói "chúng ta phải thực tế, không phải là Mỹ mà là VN nên phải có cách làm của VN". Về quy trình hay việc làm, tôi tán thành ý kiến của GS Thuyết và đồng ý với nhiều nhà khoa học và nhiều nhà giáo. Trong nghị quyết của Đảng nói là đổi mới căn bản và toàn diện thì người ta hiểu thực chất đây là một cuộc cải cách.
Chúng ta bàn về mục tiêu chiến lược, hệ thống sau đó chương trình các môn học.
Tôi nghĩ đã nhỡ thì tạm dừng lại và cái kia có rồi thì mới làm cái này. Song song làm cùng một lúc thì không được, cái kia là tiền đề, là căn cứ có cái đó thì mới làm cái này được chứ không thể làm cái này và ghép cái kia.
Tôi có đề nghị phương tiện đại chúng nói rõ việc này đang thuộc nội bộ trong nhóm soạn thảo chứ không phải là công bố rộng rãi. Việc cần ngay mà tôi thấy được lòng dân và cần thiết là phải bàn về tổng kết đánh giá 10 năm thực hiện chiến lược phát triển GD vừa rồi.
Bộ GD làm khẩn trương và công bố cho dân thì sẽ yên lòng dân. Trong lúc điều kiện kinh tế xã hội bây giờ đang lúc khó khăn, người dân nghe như thế này thì hoảng quá. Tôi đề nghị không nên tuyên truyền như thế này. Nên hướng vào những vấn đề lớn thế nào là đổi mới toàn diện và căn bản.
Nhà báo Kim Dung: Xin mời GS Văn Như Cương, một người có rất nhiều kinh nghiệm thực tiễn, và cái nhìn khá sắc sảo về giáo dục
GS Văn Như Cương
GS Văn Như Cương: Tôi khẳng định là ta sẽ không chứng minh được làm ngược đâu.
Tôi chỉ nêu một câu hỏi. Giả sử giao cho tôi viết chương trình thì tôi phải hỏi là chương trình bao nhiêu năm. 12 năm, 11 năm hay bao nhiêu năm. Tôi đi học chương trình phổ thông là 9 năm.
Chúng ta theo mô hình nào, mô hình của Mỹ, Nga,  Phần Lan? Hiện tôi không biết nhưng chắc là phải làm chương trình đến lớp 12.
Tổng thể quyết định 10,12 năm thôi thì  chúng ta vứt toàn bộ sách giáo khoa, chuyện này của chúng ta làm ngược thật. Phải nói là nếu không làm như thế này thì không kịp.
GS Thuyết có nói chương trình 10, 15 năm của các nước. Nhưng người ta thay chương trình được 10, 15 năm thì chúng ta thay chương trình cuốn chiếu tính đến bây giờ là được 10 năm. Lớp 12 mới được 1 năm, 2 năm thôi.
Các quý vị giải thích SGK chỉ chiếm 1/70 tức là chỉ tính 1,5% chứng tỏ điều vô lý của dự án. Một dự án đổi mới chương trình SGK mà  phần dành cho SGK chỉ có 1,5 %, còn hơn 98% là dành cho việc khác như thế thật vô lý. Một đề án như thế thì không chấp nhận được. Như vậy, mượn chiêu bài đổi mới SGK để làm việc khác, để làm việc thay đổi cơ sở vật chất.
Tôi vừa xây xong một trường ở Hà Nội không phải là xoàng, 30 tỷ, trước khi trượt giá là 25 tỷ. Vậy 3.000 tỷ thì xây được 1.000 trường học. Mà 1.000 dự án thì lớn mà tại sao nằm trong dự án này.
Thiết bị dạy học cũng khoảng 30.000 tỷ. Làm TBDH là phục vụ dạy học chứ không phải là sản xuất.
Sản xuất thiết bị dạy học thì các xưởng sản xuất lại kiếm lời và có lãi. Dự án nghiên cứu để sản xuất cái gì và làm như thế nào. Ví dụ, tôi làm toán mà tôi viết sách, tôi sẽ đề ra bài này có một thiết bị dạy học, thì người nghiên cứu mới tập hợp nghiên cứu rồi đưa ra sản xuất. Và nghiên cứu kiểu gì cũng không ra 30.000 tỷ đồng.
Nói theo đúng tinh thần ấy thì chỉ bỏ ra xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học có khoảng hơn sáu mươi mấy tỷ. Đề án này chỉ nên khuôn khổ là 5 tỷ. Phải phân bố lại cho thật là hợp lý, nếu không rất khó trả lời với dân là tại sao tuyên truyền giáo dục thay sách mà đến 10 tỷ.
GS Nguyễn Kế  Hào: Ý kiến của tôi cũng không khác ý kiến của GS Cương. Tôi cho cái  này cũng chưa thể tính tiền được. Khi nào làm đúng bài bản thì mới quy ra tiền được. Tự nhiên quy tiền ngay thì không có ý nghĩa  gì cả.
(Còn tiếp)
  • Tổ chức thực hiện: Hạ Anh - Kiều Oanh - Hương Giang
  • Ảnh: Lê Anh Dũng
PHẦN 2: Nhà báo Kim Dung băn khoăn, mấy cuộc cải cách giáo dục vừa trải qua, lần nào cũng phải giải quyết một hệ lụy, là chương trình, sách giáo khoa quá nặng với học sinh.  Nhà báo là người từng chứng kiến sự nỗ lực của ngành GD, Viện Khoa học GD khi đặt ra vấn đề đổi mới phương pháp và giảm tính hàn lâm trong chương trình, nội dung sách giáo khoa. Nhưng bây giờ chương trình, sách giáo khoa lại rơi vào tình trạng quá tải. Vậy thì phải giải thích như thế nào?
PGS Đỗ Ngọc Thống mang theo sách giáo khoa văn học lớp 7, lớp 10 của Mỹ, lớp 10, 11  của Pháp đến bàn tròn trực tuyến, mỗi cuốn dày hơn cả tiểu thuyết Mật mã De Vince của Dan Brown để chứng minh:  Chương trình, sách giáo khoa Việt Nam có quá tải không?