Showing posts with label Carl Thayer. Show all posts
Showing posts with label Carl Thayer. Show all posts

Friday, December 2, 2011

Giải pháp nào cho Tầu cộng ở Biển Đông?


Chủ Blog:
Sau đây là bài The US and China in confrontation in Asia. Who wins ? của giáo sư Carl Thayer, và trước khi vào bài này là ý kiến của anh DTK, đàn anh của tôi thuộc nhóm anti-Hanoi. Xin giới thiệu để các đọc giả tham khảo.





Giải pháp nào cho Tầu cộng ở Biển Đông?
Khương Tử Dân


Cám ơn Anh Việt Hải Trần đã cho posted lên bài viết của gs. Carl Thayer có vẻ quan trọng hóa vấn đề đối lực giữa Mỹ và Tầu cộng.


Gs. Carl Thayer đề cập tới căn cứ hải quân của Tầu cộng ở vịnh Yulin và cảng hải quân ở Yulin trong đảo Hải Nam. Vấn đề căn cứ quân sự, kể cà tiềm thủy định nguyên tử của Tầu cộng ở vịnh Yulin đâu phải là chuyện mới lạ, bí mật và khó đối phó. Cái khó là nếu không khám phá ra căn cứ quân sự, tiềm thủy đỉnh của Tầu ở mô? Như Tầu cộng không biết được chính sách vị trí của các tiềm thủy đỉnh của Mỹ di chuyển. Đó mới là điều đáng sợ hãi trong chiến thuật. Căn cứ hải quân của Tầu cộng đã bị tình báo của Anh, Mỹ khám phá từ lâu. Cũng nên nói thêm là Vịnh Cam Ranh là cảng quân sự cho các chiến hạm và tiềm thủy đỉnh, tốt nhất trong khu vực Thái Bình Dương, mà Nga và Mỹ đã không muốn chiếm giữ, thì giá trị căn cứ hải quân của Tầu cộng ở Yulin, cũng chẳng có gì đáng phải sợ hãi, nhất là mọi sự di chuyển của tiềm thủy đỉnh của Tầu cộng đều bị Mỹ theo dõi.


http://www.google.com/search?q=map+of+china+and+australia&hl=en&prmd=imvns&tbm=isch&tbo=u&source=univ&sa=X&ei=hlPYTu6KDeXmiAK9uKHECQ&sqi=2&ved=0CEoQsAQ&biw=1043&bih=529




Hải đồ: Khu vực châu Á Thái Bình Dương qua chiến lược của Mỹ trong thế kỹ XXI

Thursday, December 1, 2011

Biển Đông được quốc tế hóa tại Thượng đỉnh Đông Á Bali : Tình huống thuận lợi cho Việt Nam

Thứ hai 28 Tháng Mười Một 2011
Trọng Nghĩa  RFI (Radio France International)
Tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ngày 19/11/2011, vấn đề Biển Đông đã lại được 'quốc tế hóa', dưới sự thúc đẩy của Mỹ, và bất chấp thái độ phản đối của Trung Quốc. Theo phân tích của Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales), đối với các nước Đông Nam Á, đặc biệt Việt Nam, vốn đang bị Bắc Kinh lấn lướt. đây là một xu thế có lợi, cần phải khéo léo tranh thủ.
« Tôi không muốn thảo luận vấn đề đó tại Hội nghị Thượng đỉnh. Tuy nhiên, một vài lãnh đạo đã nêu tên Trung Quốc trong vấn đề đó. Không đáp trả những gì ta nhận thì thật là bất lịch sự ». Đây là lời công nhận của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo với Tân Hoa Xã về sự kiện vấn đề Biển Đông đã được nêu bật tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ngày 19/11/2011 ở Bali ( Indonesia ).

Wednesday, July 13, 2011

13/07 Giới phân tích "tố" Bắc Kinh vi phạm ở Biển Đông

 13/07/2011 | 13:57:00

Giáo sư Carl Thayer. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)
CÁC TIN LIÊN QUAN
Philippines muốn ASEAN kiên định về Biển Đông
Giới chức Philippines muốn các nước ASEAN kiên định trước "những hành động đe dọa và hung hăng" của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.


Trung Quốc bác yêu cầu của Manila về Biển Đông
Trung Quốc đã bác bỏ yêu cầu của Philippines về việc đưa những tranh cãi chủ quyền trên Biển Đông ra một tòa án được LHQ bảo trợ.



Một chuyên gia kỳ cựu về Biển Đông của Học viện Quốc phòng Australia khẳng định Trung Quốc không hề tôn trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) mà nước này đã ký.


Trong một bài viết vừa được mạng YaleGlobal thuộc trường đại học Yale (Mỹ) công bố ngày 7/7, Giáo sư Carl Thayer không ngần ngại tố cáo “Trung Quốc đã bác bỏ hiệp định của Liên hợp quốc khi áp đặt chủ quyền trên Biển Đông.”


Đài RFI dẫn lời  nhiều nhà quan sát cho rằng Bắc Kinh thường viện dẫn Công ước này, nhưng trên thực tế họ có nhiều động thái bị đánh giá là không đếm xỉa gì đến văn kiện mà chính họ đã phê chuẩn.


Theo Giáo sư Thayer, UNCLOS - có hiệu lực vào năm 1996 - là một cơ chế pháp lý toàn cầu, được hình thành trên cơ sở một sự thỏa hiệp tinh tế giữa các nước ven biển và các quốc gia sử dụng biển, sao cho quyền lợi mỗi bên đều được bảo đảm.


Trong bài viết kể trên, giáo sư Thayer khẳng định Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS khi khẳng định “chủ quyền không thể chối cãi” trên Biển Đông, bất chấp đòi hỏi của các nước ven biển khác, và với việc đệ trình chính thức tấm bản đồ đường đứt khúc 9 đoạn hình chữ U (đường lưỡi bò), cố tình giữ mập mờ về các tọa độ địa lí chính xác của các đường này... Trung Quốc đã lấn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế do các nước ven biển trong khu vực thiết lập.


Đối với giáo sư Thayer, ngoài việc tấm bản đồ hình chữ U đã vi phạm Công ước Liên hợp quốc trên nhiều góc độ, Trung Quốc còn có một loạt hành động đơn phương khác vi phạm công ước này như gây sức ép lên các tập đoàn Mỹ, buộc họ không được làm ăn với các nước khác trong thăm dò dầu khí; áp đặt một lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm đơn phương đối với ngư dân Việt Nam; và mới đây là một loạt hành vi hung hăng khác thường khi cản trở các hoạt động thương mại của các tàu thăm dò dầu khí trong các vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Philippines tuyên bố chủ quyền.


Theo ông Thayer, vấn đề Biển Đông cần được giải quyết trên cơ sở của UNCLOS, nếu không khu vực này lại lâm vào tình trạng “kẻ mạnh chèn ép kẻ yếu,” và việc Trung Quốc biến Biển Đông thành “ao nhà” sẽ làm suy yếu một chế độ pháp lý quốc tế đang đóng góp cho trật tự toàn cầu.


Trong khi đó, Mark Valencia - một chuyên gia phân tích chính sách hàng hải và là cựu chuyên viên nghiên cứu cao cấp tại Trung tâm Đông-Tây ở Hawaii - cũng có đồng quan điểm với ông Thayer khi cho rằng các hành động quyết đoán của Trung Quốc tại Biển Đông để áp đặt đòi hỏi chủ quyền của họ không chỉ “vi phạm rõ ràng bản Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC), đã được nhất trí một cách chính thức,” mà có thể còn phản ánh một thực tế khác: “Trung Quốc không nhất trí với nhiều nội dung trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển mà nước này đã phê chuẩn…”


Theo ông Valencia, nếu Trung Quốc thực sự đi theo chiều hướng hiện tại, nghĩa là kiên quyết bảo vệ các đòi hỏi chủ quyền nêu lên trong tấm bản đồ đường đứt khúc 9 đoạn của họ (bao gồm tất cả vùng biển và tài nguyên của Biển Đông), đồng thời quyết định cơ chế quản lý việc đi lại sẽ được áp đặt tại vùng này, thì “đây là một quan điểm cực đoan và có thể dẫn tới chiến tranh.”


Việc Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Philippines là cùng nhau ra trước Tòa án Quốc tế về Luật Biển được thiết lập trong khuôn khổ UNCLOS để nhờ phân xử, có thể được xem là một dẫn chứng mới về việc Bắc Kinh sẵn sàng phủ nhận giá trị của văn kiện này, vì quyền lợi của riêng mình./.



(Vietnam+)

07/07 Cần cấp bách đạt được COC ở Biển Đông

THỨ NĂM, 07 THÁNG 7 2011 16:35


Tại cuộc hội thảo quốc tế diễn ra ngày 5.7 tại thủ đô Manila, Philippines, nhiều chuyên gia về an ninh và ngoại giao đã lên tiếng thúc giục Trung Quốc và các nước ASEAN cần nhanh chóng đạt được thoả thuận như bộ quy tắc ứng xử của các bên có liên quan đến Biển Đông nhằm ngăn chặn nguy cơ xảy ra xung đột.


Một người biểu tình tuần hành trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Makati, Manila ngày 28.6.2011 để kêu gọi giải quyết tranh chấp trong hoà bình. Ảnh: Reuters

Tất cả các nhà phân tích đều nhận định rằng có nguy cơ xảy ra xung đột do các bên liên quan có những hành động gia tăng, nhằm khẳng định yêu sách của mình ở khu vực có tranh chấp Trường Sa.

Nguy cơ có giao tranh nhỏ
Giáo sư Carlyle Thayer thuộc đại học New South Wales của Úc cho rằng, “Tình hình hiện nay là cấp bách vì nếu không được giải quyết, tranh chấp ở Biển Đông có thể dẫn tới những cuộc giao tranh nhỏ trên biển”.

Từ đó, ông đưa ra giải pháp là Trung Quốc và ASEAN cần phải thống nhất phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên các nguyên tắc và cơ chế quy định bổn phận và trách nhiệm của các bên, gồm cả các nước không liên quan trong thoả thuận này.

Ông Thayer nói: “Chúng ta cần một bộ quy tắc của các nước có liên quan, bao gồm cả Mỹ, Australia và Nhật Bản”.

Từ năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã ký tuyên bố về ứng xử của các bên liên quan trên Biển Đông (DOC) nhưng tuyên bố này không đủ sức ràng buộc hành động của các bên, nhất là các nước có tiềm lực mạnh về kinh tế và quân sự. Philippines cáo buộc Trung Quốc không tuân thủ DOC khi thả phao thăm dò ở vùng biển mà Manila tuyên bố chủ quyền.

Đáng chú ý, hôm 4.7, bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin cho biết, hồi tháng trước một máy bay chiến đấu chưa được nhận dạng đã bay lượn phía trên, chỉ cách tàu cá của ngư dân nước này vài mét, nhằm xua đuổi họ ra khỏi khu vực gần quần đảo Trường Sa.

Ông Voltaire Gazmin từ chối suy đoán nhận dạng máy bay chiến đấu nói trên, nhưng ông cho biết, hầu hết các lần xâm nhập vào vùng mà Philippines tuyên bố chủ quyền trong và gần quần đảo Trường Sa đều được cho là tàu của Trung Quốc. Thậm chí, quân đội Philippines còn buộc tội cả tàu quân đội và tàu dân sự của Trung Quốc xâm nhập lãnh hải trái phép.



Như vậy, từ tháng 5 đến nay, quân đội Philippines đã thông báo có ba vụ máy bay chiến đấu xua đuổi ngư dân của họ ở Trường Sa.

DOC phơi bày hạn chế

Tham dự hội thảo, ông Trần Trường Thuỷ của học viện Ngoại giao Việt Nam nhận định, căng thẳng hiện tại ở Biển Đông phơi bày sự hạn chế của Tuyên bố DOC ký năm 2002.

Trung Quốc đã quay trở về điểm “không khoan nhượng” trong việc khăng khăng chỉ chấp nhận đàm phán song phương, và sự quyết đoán của nước này cho thấy “thế tấn công quyến rũ” hướng tới ASEAN đã mất xung lượng.

Các chuyên gia cho rằng, Trung Quốc có thể bị cô lập nếu cản trở các cuộc thảo luận để đi đến các nguyên tắc chỉ đạo và khả năng hình thành một thoả thuận chính thức, về nguyên tắc ứng xử của các bên (COC).

”Họ sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi”, ông Trần Trường Thuỷ nói, đồng thời chia sẻ quan điểm với ông Thayer rằng, các bên liên quan, như Mỹ, nên là một phần của thoả thuận ứng xử, dựa trên quy tắc ở Biển Đông.

Tại hội thảo, bà Nong Hong của viện Trung Quốc thuộc đại học Alberta nói, “Một cách chính thức, Trung Quốc cực lực phản đối bất kỳ sự can dự nào của các nước không có liên quan đến tranh chấp”. Theo bà, Trung Quốc đã nhất trí sẽ làm việc với các nước ASEAN để giải quyết tranh chấp ở Trường Sa nhưng muốn đàm phán với các bên liên quan hơn.

Ca Thy (Reuters, AP)

Philippines: cấm bí thư sứ quán Trung Quốc dự họp ở văn phòng bộ Ngoại giao
Bí thư thứ nhất sứ quán Trung Quốc tại Philippines bị cấm tham dự các cuộc họp ngoại giao tổ chức tại Philippines do có hành vi thô lỗ trong một lần tranh luận liên quan tới vùng biển có tranh chấp giữa hai nước, theo bộ Ngoại giao Philippines.
Bộ Ngoại giao Philippines cho biết, bí thư thứ nhất đại sứ quán Trung Quốc là Li Yongsheng, người phụ trách lĩnh vực chính trị, đã cao giọng tại văn phòng bộ Ngoại giao Phillipines trong tháng trước trong khi tranh luận với các quan chức ngoại giao Phillipines về cáo buộc Trung Quốc thâm nhập vào vùng biển mà Manila tuyên bố chủ quyền. Biên bản của vụ châu Á và Thái Bình Dương của Philippines ghi lại bí thư Li “có hành động không phải của nhà ngoại giao” và do vậy tòa đại sứ Trung Quốc đã nhận được thông báo rằng vị bí thư này không được tham dự các cuộc họp tại văn phòng bộ Ngoại giao trong tương lai.
Văn bản được phóng viên của AP xem không ghi rõ tình tiết nhưng ít nhất, ba nhà ngoại giao Phillipines cùng xác nhận ông Li đã hùng hổ lớn tiếng khi Manila đưa ra các bằng chứng cho thấy phía Trung Quốc xâm nhập vào vùng nước ở Trường Sa mà Philippines tuyên bố thuộc chủ quyền của họ.
Đại sứ Trung Quốc ở Philippines không có bình luận gì.

Phi Giao (Wall Street Journal)
theo SGTT

Tuesday, July 12, 2011

12/07 Biển Đông: Vùng biển chung dành riêng cho Trung Quốc!


GS Carlyle A. Thayer, Học viện Quốc phòng Úc Đại học New South Wales lập luận trên YaleGlobal
rằng bằng cách tuyên bố chủ quyền trên biển Đông, Trung Quốc chối bỏ công ước Luật biển 1982.

Căng thẳng hiện nay trên vùng biển Đông bắt đầu vào năm 2009 sau khi Ủy ban Liên hợp quốc về các giới hạn của thềm lục địa đề ra hạn chót để nộp yêu cầu chủ quyền cho thềm lục địa mở rộng vượt quá 200 hải lí theo UNCLOS.  Sau khi Việt Nam và Malaysia đệ trình yêu sách, Trung Quốc đệ trình một bản đồ với chín đường đứt đoạnđòi hỏi chủ quyền hầu như chiếm trọn biển này.  Sáu quốc gia ven biển này, và các quốc gia khác cũng có cổ phần lớn trong kết quả.  Tuyên bố mở rộng đó nằm phía sau sự căng thẳng ngày càng tăng trong vùng biển Đông.
Khi trung tâm của nền kinh tế toàn cầu chuyển về hướng đông, phản ánh sự trỗi dậy của Trung Quốc như là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, các tuyến đường thương mại phục vụ khu vực đã có tầm quan trọng lớn hơn.  Nó cũng mang lại sự chú ý mới đối với Công ước năm 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển, hoặc UNCLOS.  Chế độ pháp lí quốc tế này đã quản lí trật tự toàn cầu trên biển trong thập kỉ rưởi vừa qua và Đông Á đã nổi lên như một đấu trường xung đột mới.
Trung Quốc đã đưa ra các tín hiệu bác bỏ UNCLOS bằng cách khẳng định "chủ quyền không thể chối cãi" trên biển Đông.  Tư thế này xung đột với tuyên bố của sáu nướcven biển khác - Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei - tất cả đều có các khiếu nại pháp lí khác nhau về các lãnh hải, địa hình và, hải đảo dựa trên UNCLOS.


Những tuyên bố chủ quyền cả thập kỉ đã trở nên cấp thiết hơn với sự xuất hiện của Trung Quốc như là một quốc gia thương mại lớn, phụ thuộc nhiều hơn bao giờ hết vào các tuyến đường vận chuyển quốc tế mở rộng từ các nước Đông Á đến Trung Đông.  Trung Quốc, trước đây đã từng tự túc nguồn năng lượng, bây giờ nhập khẩu dầu và sự phụ thuộc của nó vào nhập khẩu khí đốt tự nhiên sẽ gia tăng rõ rệt trong hai thập kỉ tới.  Sự quan ngại của Trung Quốc về sự an toàn của các tuyến đường giao thông trên biển và nhu cầu cho các nguồn năng lượng hydrocarbon hội tụ trên biển Đông, được cho là chứa những mỏ dầu và khí đốt lớn.


UNCLOS có hiệu lực vào năm 1996 như là một chế độ pháp lí toàn cầu, quy định các quyền và trách nhiệm của quốc gia ven biển trong lĩnh vực hàng hải.  UNCLOS là một sự thỏa hiệp đẻo gọt tinh tế giữa các nước ven biển và các quốc gia sử dụng biển khơi cho sự thịnh vượng của nền kinh tế của họ.


Theo UNCLOS, tất cả các quốc gia ven biển được quyền thiết lập là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lí từ đường bờ biển của họ.  Họ được trao chủ quyền đối với tất cả các nguồn tài nguyên bên trong khu vực này bao gồm cả biển và đáy biển.  Các quốc gia sử dụng biển được trao quyền quá cảnh qua vùng đặc quyền kinh tế bằng đường biển và bằng đường hàng không.
TQ xây dựng những kiến trúc như thế này trên biển Đông để đòi hỏi chủ quyền cho lãnh hải.
Ảnh minh họa: QNCBĐ
UNCLOS đã buộc cả các nước ven biển lẫn các nước sử dụng phải tôn trọng các quyền của nhau.
Ngoài ra, UNCLOS đã thực hiện một sự phân biệt giữa các đảo và địa hình (feature) khác , chẳng hạn như đá.  Đảo được định nghĩa là diện tích đất được bao quanh bởi nước có thể tự nó chu cấp được việc cư trú của con người và có một chức năng kinh tế.  Đảo theo luật pháp quốc tế được đặc quyền kinh tế hưởng 200 hải lí vùng .  Các loại địa hình khác tìm thấy trên biển - bao gồm cả đá, rạn san hô, đảo nhỏ, bãi cát - đã không được hưởng quyền này.


Sự bất ổn trên Biển Đông phát sinh do cả vị trí của nó ở trung tâm của tuyến đường vận chuyển bận rộn thứ hai trên thế giới nối kết Đông Á với Trung Đông lẫn địa thế phức tạp của nó.  Nó có chứa hai quần đảo: quần đảo Hoàng Sa ở phía bắc và quần đảo Trường Sa ở trung tâm.  Cả hai quần đảo này với rất nhiều địa hình được đánh dấu là vùng đất nguy hiểm trên bản đồ hàng hải.  Các tuyến giao thông đường biển chạy vòng các nhóm đảo này vì lí do an toàn hàng hải ở phía đông gần Philippines và phía Tây gần Việt Nam.  Biển Đông quan trọng về kinh tế bởi vì nguồn cá và các nguồn tài nguyên hydrocarbon, cả đã qua kiểm chứng lẫn tiềm năng.
Trung Quốc và Đài Loan tuyên bố hầu như toàn bộ biển Đông trên cơ sở phát hiện lịch sử.  Trung Quốc chiếm toàn bộ nhóm quần đảo Hoàng Sa và ít nhất bảy địa hình khác trong vùng biển Đông.  Đài Loan chiếm cho là hòn đảo duy nhất đáng tranh cãi - theo ý nghĩa pháp lí được thiết lập bởi UNCLOS trong quần đảo Trường Sa.
Phần còn lại của quần đảo Trường Sa được chia phần ra như sau: Việt Nam chiếm hơn 20 địa hình, số lượng lớn nhất, Philippines, 9, và Malaysia, ít nhất là 5.  Brunei không chiếm bất ki địa hình nào và chỉ tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí .


Năm 2002, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc đã tìm cách để quản lí các tranh chấp lãnh thổ của họ bằng cách thông qua Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).  Họ cam kết giải quyết sự khác biệt một cách hòa bình mà không cần đến việc sử dụng hoặc đe dọa vũ lực.  Tài liệu này cũng đặt ra một số hoạt động hợp tác và các biện pháp xây dựng lòng tin rằng không bao giờ được thực hiện.
Căng thẳng hiện nay ở Biển Đông được tạo ra, một phần, vào tháng 5 năm 2009 khi Ủy ban Liên hợp quốc về các giới hạn của thềm lục địa đề ra hạn chót nộp tuyên bố thềm lục địa mở rộng, nghĩa là, vượt quá 200 hải lí.  Việt Nam và Malaysia, cả  riêng biệt lẫn phối hợp cùng nhau nộp đơn đệ trình của họ.  Điều này gây ra một phản đối của Trung Quốc.


Trung Quốc lập hồ sơ trường hợp của mình bằng cách đệ trìnhchính thức lần đầu tiên một bản đồ của Biển Đông có chín đường đứt đoạn ngang tạo thành một hình chữ u - xuống bờ biển phía đông của Việt Nam tới ngay phía bắc Indonesia và sau đó tiếp tục phía bắc lên bờ biển phía tây của Philippines.  Ho không cung cấp thêm tài liệu hơn nữa như các tọa độ địa lí chính xác của các đường này hoặc các đường này nối với nhau thế nào.  Tuyên bố của Trung Quốc ăn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế được thiết lập bởi các quốc gia ven biển ở đây.


Quan trọng hơn, Trung Quốc để tuyên bố của nó không rõ ràng:   Bản đồ hình chữ u của Trung Quốc có đòi hỏi chủ quyền đối với tất cả các đảo và các địa hình hay không?  Bản đồ đó có đòi hỏi toàn bô vùng biển là vùng lãnh hải của Trung Quốc hay không?  Hoặc là Trung Quốc đòi hỏi rằng những khối đá  (rock) của nó thật sự là đảo được quyền có một vùng đặc quyền kinh tế?


Trung Quốc đã gây sức ép các công ti Mĩ không được trơ giúp các nước khác trong thăm dò dầu khí.  Trung Quốc đã áp đặt một lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm đơn phương dành cho ngư dân Việt Nam.  Năm nay, Trung Quốc đã chứng minh một sự gây hấn bất thường trong việc can thiệp  các hoạt động thương mại của các tàu thăm dò dầu khí hoạt động trong các  vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Philippines tuyên bố chủ quyền.  Việt Nam đã phản ứng lại viêc cắt dây cáp trên hai tàu của mình bằng cách đưa một tàu ra biển trờ lại có tàu vũ trang hộ tống và bằng cách tiến hành một cuộc tập trận bắn đạn thật ở các vùng nước ven biển.


Đông Nam Á của các quốc gia nguyên đơn tìm cách giải quyết tranh chấp của họ với Trung Quốc bằng cách kết nhóm lại với nhau và thông qua một vị thế chung   Sau đó, họ muốn đàm phán với Trung Quốc trên cơ sở đa phương.  Trung Quốc khẳng định rằng tất cả các tranh chấp lãnh thổ được giải quyết trên cơ sở song phương vói các quốc gia liên quan trực tiếp.  Sự khác biệt trong cách tiếp cận này đã cản trở những nỗ lực ngoại giao giữa ASEAN và Trung Quốc để có những đường hướng làm sống lại Tuyên bố năm 2002 đang hấp hối và nâng cấp DOC thành Quy tắc ứng xử có ràng buộc pháp lí thực hiện hơn.


Hoa Kì và các cường quốc hàng hải khác khẳng định họ là các bên liên quan hợp pháp và nên là một phần của quá trình này. Ngoại trưởng Mĩ Hillary Clinton đã khẳng định rằng Hoa Kì có một lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải, trong việc sử dụng mở đối với vùng biển hàng hải công cộng ở Châu Á và trong sự tôn trọng luật pháp quốc tế ở biển Đông.


Sự quyết đoán hung hăng của Trung Quốc đã phản tác dụng.  Nó đã thúc đẩy các quốc gia ASEAN nguyên đơn lại gần nhau hơn và cung cấp cơ hội cho Indonesia, chủ tịch ASEAN năm 2011, khẳng định tính trung tâm của ASEAN trong an ninh khu vực.  Các nước Đông Nam Á muốn Hoa Kì vẫn tiếp tục can dự và trợ giúp những nỗ lực của họ trong việc đối phó với Trung Quốc.  Ngoài ra, các đồng minh hiệp ước Philippines và Hoa Kì đang hợp tác chặt chẽ hơn về các vấn đề quốc phòng.  Việt Nam và Hoa Kì đang thúc đẩy quan hệ quốc phòng non trẻ của họ.
Điều quan trọng là ASEAN và những cường quốc ủng hộ chính thành công trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trên cơ sở của UNCLOS.  Nếu không, "kẻ mạnh sẽ làm những gì họ có thể làm và kẻ yếu phải hứng chịu những gì họ phải chịu", như sử gia Hi Lạp Thucydides đã nêu nhiều thế kỉ trước.  Việc Trung Quốc chuyển đổi Biển Đông thành một phiên bản hiện đại của "mare nostrum#" (biển của chúng ta) sẽ làm suy yếu một chế độ pháp lí quốc tế đang đóng góp cho trật tự toàn cầu.
  • Huỳnh Phan (Quĩ nghiên cứu Biển Đông) dịch từ asiatimes

Friday, June 24, 2011

23/06 Biển Đông: Động thái nhỏ có thành chuyện lớn?

Tác giả: HOÀNG PHƯƠNG
Hai ngày thảo luận về an ninh hàng hải ở Biển Đông, các học giả quốc tế đặt nhiều câu hỏi về khả năng của những xung đột nóng, và cuộc chạy đua vũ trang trên Biển Đông, khi các bên có xu hướng cứng rắn hơn.
Ai đang làm nổi sóng Biển Đông?
Các học giả Trung Quốc cho rằng chính Mỹ, và Việt Nam, Philippines gây căng thẳng ở Biển Đông. GS Tô Hạo nói rằng, phải có lí do gì mới xảy ra nhiều sự cố như vậy trên Biển Đông trong thời gian ngắn. Trung Quốc - Việt Nam từng hợp tác tốt trong quá khứ. Hẳn Việt Nam phải có hành động nào đó, và Trung Quốc đáp trả. (Việc đổ lỗi này không có gì mới, nếu nhìn vào những phát biểu chính thức của Trung Quốc sau các sự cố vừa qua - NV).
Một vị học giả khác cũng đến từ Trung Quốc thì cho rằng, chính Mỹ hậu thuẫn cho ASEAN nói riêng và Việt Nam nói chung trong việc nói cứng với nước này về Biển Đông.  Có viên chức của Đại sứ quán Trung Quốc còn đặt thẳng câu hỏi cho học giả Việt Nam: "Nếu Mỹ không đứng đằng sau lưng, thì các anh có phản ứng mạnh như thế không?" (Trong khi đó, TS Trần Trường Thủy nói rõ: việc Việt Nam công khai những hành động của Trung Quốc là muốn Trung Quốc nghĩ lại, thay đổi cách hành xử).
Góc nhìn này không nhận được sự chia sẻ của các học giả quốc tế. Câu hỏi "có ai ở đây ủng hộ quan điểm của Trung Quốc" được đáp lại bằng tràng cười học giả, không hơn. Các học giả thống nhất ở một điểm: Trung Quốc phải chịu trách nhiệm cho căng thẳng gia tăng.
Về việc các nước ASEAN kêu gọi Mỹ can dự ở biển Đông, TS Stein Tonnesson cho rằng "chuyện này hoàn toàn do lỗi của Trung Quốc, đặc biệt là do những hành vi của lực lượng hải giám nước này trong hai năm vừa rồi".
TNS John McCain tại buổi tiếp tân hội thảo. Ảnh: TT
TNS John McCain đã "nói thẳng" sự thật "không mấy vui vẻ": Một trong những lực lượng chính làm cho các căng thẳng trên biển Đông trầm trọng hơn, và làm cho giải pháp hòa bình của các tranh chấp này khó khăn hơn để đạt được, đó là hành vi hung hăng của Trung Quốc và việc đòi chủ quyền lãnh thổ vô căn cứ mà họ tìm cách theo đuổi.
Còn GS Carl Thayer thì cho rằng Trung Quốc đang "trả đũa" Việt Nam vì vai trò của nước này trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông năm 2010 trên tư cách chủ tịch ASEAN. Hành động của Trung Quốc ở Bãi Cỏ Rong nhằm mục đích thăm dò xem liệu Hiệp định an ninh chung Mỹ - Philippines có giá trị hay không đối với cụm đảo Kalayaan.
Về việc Trung Quốc lựa chọn thời điểm cuối tháng 5 và đầu tháng 6 ngay trước và sau thềm hội nghị an ninh lớn ở Shangri-La, các học giả cho rằng chủ đích của Trung Quốc là để đo phản ứng của các nước, đặc biệt là Mỹ, đối với các động thái gây hấn của mình. Trên góc độ nào đó, Trung Quốc đã cảm thấy mình có khả năng thách thức trật tự mà Mỹ đang kiểm soát.
Đâu mới là bộ mặt thật của Trung Quốc?
Hiện nay, một mặt, giới lãnh đạo Bắc Kinh khi tiếp xúc với Mỹ (Tổng thống Obama vào tháng 1/2011 và Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates tại Shangri La) thể hiện quyết tâm kiềm chế, vì quan hệ chiến lược Mỹ - Trung. Mặt khác, Trung Quốc lại leo thang liên tục bằng các áp lực quân sự và phi quân sự lên Việt Nam và Philippines ở Biển Đông.
"Chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa lời nói và việc làm của Trung Quốc. Ngay sau những tuyên bố hòa bình của bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc ở Shangri-La chỉ vài ngày, tàu Trung Quốc lại tiếp tục cắt cáp tàu Viking 2", ông Quý chỉ rõ.
Giới học giả tại hội thảo đặt câu hỏi: Đâu mới là bộ mặt thật của Trung Quốc (real China)?
Liệu Bắc Kinh có thực sự chân thành, hay chỉ sử dụng những lời ngọt ngào ở cấp lãnh đạo chính trị để lừa phỉnh Mỹ và ASEAN tin rằng sự leo thang dọa dẫm sẽ chấm dứt?  Hay lãnh đạo nước này dùng quân sự để bắt các nước ASEAN yếu hơn nhượng bộ, và có lẽ, sau đó, sẽ là sự nhượng bộ từ Mỹ?
Vẫn không có câu trả lời rõ ràng cho những câu hỏi này, trong khi mối lo về các sự cố vẫn hiện hữu, khi tần suất các sự cố thời gian qua tăng đáng ngại.
Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục những hành động lấn át, thì tình hình Ðông Nam Á sẽ rất bất ổn, vì "bất cứ một động thái nhỏ nào cũng có thể biến thành chuyện lớn", TS Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam nói.
Cần tạo áp lực ngoại giao tổng hợp, tránh đối đầu
Theo GS Carl Thayer, cả Philippines và Việt Nam nên có các bước đi để tăng cường khả năng thực thi chủ quyền quốc gia ở vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước. Sự yếu kém của họ chỉ càng mời mọc Trung Quốc hành xử quyết đoán hơn.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là đối đầu bằng vũ lực với Trung Quốc. Bởi như lo ngại của không ít học giả, chủ nghĩa dân tộc lên cao ở Bắc Kinh và Hà Nội sẽ khiến leo thang mức độ tranh chấp, theo tính toán hoặc có thể, không chủ ý.
Hiện nay, Trung Quốc hăm dọa láng giềng, láng giềng hăm dọa lại. Thế nhưng, nếu Việt Nam cứng tới mức xảy ra xung đột nóng, Trung Quốc càng hưởng lợi nhiều, vị giáo sư người Úc này nói.
Theo ông, ASEAN và cộng đồng quốc tế phải đấu tranh về mặt ngoại giao với những hành xử quyết đoán mang tính hiếu chiến của Trung Quốc.
Cần tạo "áp lực ngoại giao tổng hợp" lên Trung Quốc trong hai hội nghị tới đây, ARF và Thượng đỉnh Đông Á để nước này tôn trọng cam kết của mình trong DOC.
Tàu hải giám Trung Quốc thường xuyên quấy nhiễu vùng biển thuộc chủ quyền các nước khác.
Trong khi bác bỏ khả năng chiến tranh, trao đổi tại hội thảo, GS Tô Hạo nhiều lần nhấn mạnh Việt Nam và Trung Quốc là anh em. Theo ông này, anh em thì cũng có khác biệt. Người anh lớn hơn, mạnh hơn, luôn muốn người em nghe lời mình còn người em lúc nào cũng bị áp lực ở dưới tầm che chở của anh, nên có tâm lí sợ anh là lẽ thường.
GS Carl Thayer lưu ý, Việt Nam cần hết sức cẩn trọng tính toán việc cứng rắn với Trung Quốc. Việt Nam phải học từ lịch sử của chính mình. Hơn ai hết, Việt Nam biết "quan hệ anh em" của hai nước vẫn xảy ra chiến tranh.
TS Trần Trường Thủy khẳng định, Việt Nam không muốn đứng ở phía đối đầu với Trung Quốc. Các học giả Việt Nam và ASEAN đều nhắc lại chủ trương theo đuổi giải pháp hòa bình trên Biển Đông, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực.
Luật sư Nguyễn Duy Chiến của Học viện Ngoại giao Việt Nam lại lưu ý: "Để giải quyết mâu thuẫn cần phải dựa trên những mâu thuẫn thật chứ không thể tạo ra mâu thuẫn giả để gây căng thẳng. Một số nước cố tình ngụy tạo mâu thuẫn giả ở vùng biển của nước khác".
Về phía Trung Quốc, TS Stein Tonneson cũng nhắn Giáo sư Tô Hạo: "Trong vòng 2 năm qua, Trung Quốc đã có thái độ hiếu chiến hơn với các nước láng giềng. Tôi buộc lòng phải quy trách nhiệm cho Bắc Kinh, và hy vọng là khi về nước, ông sẽ khuyên chính quyền ông nên xét kỹ lại chính sách sai lầm của mình, và cải thiện".
ASEAN đoàn kết đưa ra COC
Ông Dino Patti Djalal, Đại sứ Indonesia - nước chủ tịch ASEAN đương nhiệm, cho rằng: "Bt c điu gì xy ra đu nh hưởng đến toàn b khu vc, đến toàn b các nước khác trong ASEAN". Cách giải quyết tốt nhất, theo ông, ASEAN phải tiếp tục xây dựng niềm tin.
Đó cũng là một trong ba nhân tố cấu thành của Tuyên bố chung của các bên về ứng xử trên biển Đông (DOC) và tiến đến xây dựng Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên biển Đông (COC).
Hiện nay, một DOC không có tính ràng buộc pháp lý đã không ngăn được căng thẳng gia tăng trên Biển Đông.
Tiến sĩ Peter Dutton cho rằng không bao giờ thiếu những ý tưởng để giải quyết vấn đề, mà chỉ thiếu ý chí chính trị. Ông nói: "Các bên đu phi có nhượng b v chính tr, nếu không s dn đến vic nước mnh hơn s làm nhng gì có th làm và nước nh làm điu phi làm".
Theo ông Dino, COC hiện chỉ còn vướng một, hai điều và Indonesia sẽ cố thúc đẩy việc tiến tới ký kết COC. Việc ký COC sẽ giúp tình hình biển Đông diễn biến theo chiều hướng dễ nắm bắt và có thể kiểm soát được.
Một số người lạc quan, COC có thể ra đời vào dịp kỉ niệm 10 năm DOC. Thế nhưng, Gs Carl Thayer cho rằng, điều đó khó xảy ra trừ khi ASEAN duy trì được sự thống nhất, cố kết và cùng ở một điểm. Nhưng rõ ràng, có những thành viên ASEAN khá nhát, rụt rè.
"Chính các thành viên ASEAN cần xây dựng Hiệp định về các quy tắc ứng xử trên Biển Đông, và sau khi thông qua, có thể để mở cho các quốc gia không thành viên", GS Carl Thayer gợi ý.
Theo ông, các nước khác cần ủng hộ ASEAN trong nỗ lực đạt thỏa thuận về COC.
Đồng thời, theo TS Đặng Đình Quý, các bên cần thúc đẩy hợp tác về biển và quân sự dưới hình thức tuần tra chung, diễn tập chung với sự tham gia của Trung Quốc, ASEAN và các nước có liên quan; đồng thời các bên cần công khai, minh bạch, giảm mua sắm vũ khí và thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin.
Cơ chế "gác tranh chấp, cùng khai thác" không hiệu quả
Hầu hết các học giả đều nhận định rằng cơ chế “khai thác chung” đã không phát huy tác dụng, bởi các bên không thống nhất với nhau trong việc xác định đâu là khu vực tranh chấp, đâu là khu vực không có tranh chấp. Chuyên gia của VN và Philippines có cách tiếp cận khá giống nhau về việc nên xác định đâu là vùng biển, đảo tranh chấp và đâu là những vùng không có tranh chấp để có thể tiến hành khai thác chung. Theo ông Đặng Đình Quý, cách phân loại này sẽ “tạo môi trường an toàn cho các công ty dầu mỏ” cũng như là “hợp tác về hàng hải và quân sự để xây dựng niềm tin”.

Ông Henry S.Bensurto, tổng thư ký Ủy ban các vấn đề biển và đại dương thuộc Bộ Ngoại giao Philippines, cho biết nước này đang hoàn tất đề xuất về việc chia lô các khu biển để hình thành vùng biển hòa bình, hữu nghị. Theo phương án này, các vùng biển sẽ được chia ra làm các khu vực đang tranh chấp, khu vực chồng lấn có thể áp dụng “lưỡng chế độ” để cùng khai thác cũng như các khu vực không còn tranh chấp.
Mỹ ở đâu khi Trung Quốc tạo sự cố trên Biển Đông
Về phía Mỹ, bà Bonner Glaser, Giám đốc Ban Trung Quốc của CSIS cho hay, kế hoạch của Mỹ trong năm 2011 là thể hiện bức tranh hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc. Cả hai nước đều là thành viên của khu vực, có thể hợp tác với nhau. Đáng tiếc thay, các sự cố xảy ra liên tục. Có lẽ, Mỹ cần phải xem lại kế hoạch của mình.
Theo bà Bonner, hiện nay, nhiều nước muốn Mỹ phải đứng lên, một lần nữa cảnh báo Trung Quốc về những hành động hiếu chiến của mình, dù cũng có người nhấn mạnh, Mỹ - Trung cần hợp tác nhiều hơn.
GS Tô Hạo của Trung Quốc thì cho rằng, việc Mỹ tham gia một cách tích cực để giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông cũng được Trung Quốc chào đón. Tuy nhiên "nhng can thip ca M có nhiu khi không tích cc  ĐNA và đó là lý do vì sao Trung Quc không chào đón nhng can thip này".
Để  Biển  Đông không nổi sóng đòi hỏi các nước phải hành xử thiện chí và tôn trọng lẫn nhau.
Thế nhưng, TS Marvin Ott từ ĐH John Hopkins lại lo: "Khi mt Trung Quc hung hãn đang phi đi din vi mt quc gia duy nht có th lên tiếng mnh nht đ chng li tham vng ca h, mà Mỹ không khuyên được Trung Quc, thì tôi nghĩ chúng ta có mt vn đ ln, và tương lai tht u ám".
Theo ông, Trung Quốc "từng xem như Biển Ðông là ao nhà của mình từ năm 1949," và giờ đây trách nhiệm lớn nhất của Mỹ là tìm cách để tránh chiến tranh, duy trì ổn định thế giới.
TS Trần Trường Thủy, Học viện Ngoại giao Việt Nam chỉ ra một thực tế, năm 2002, không phải ngẫu nhiên Trung Quốc tham gia Tuyên bố của các bên về các nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông, giúp khu vực có được gần thập kỉ tương đối ổn định. Thời điểm đó, Mỹ tuyên bố Đông Nam Á là mặt trận thứ 2 trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ, khiến Trung Quốc xích lại gần, thân thiện hơn với Đông Nam Á.
Mới đây, tại ARF tháng 7/2010, sau khi 13 nước nêu vấn đề Biển Đông tại Hội nghị, và ủng hộ việc thực hiện DOC, sớm ra đời COC, và Mỹ tuyên bố lợi ích quốc gia ở Biển Đông, Trung Quốc áp dụng chính sách mềm hơn sau đó. Việc bắt ngư dân đòi tiền chuộc ít hơn, và Trung Quốc cũng ít dọa các tàu và công ty nước ngoài hợp tác với láng giềng. Trung Quốc cũng quay lại bàn đàm phán cùng ASEAN để bàn về DOC và hướng tới COC, dù những hành động có vẻ thiện chí này không diễn ra được bao lâu.
"Dù Mỹ không nói sẽ không tuyên bố ủng hộ cụ thể chủ quyền của ai, Mỹ cần lên tiếng rõ quan điểm của mình về việc Trung Quốc dựa vào đáy biển để đòi chủ quyền. Không nên để sự lập lờ, thiếu rõ ràng như hiện tại", ông Henry S. Bensurto, Tổng thư ký Ủy ban các vấn đề biển và đại dương thuộc Bộ Ngoại giao Philippines nói.
"Chính Mỹ được hưởng lợi lớn nhất nhờ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đó là duy trì bởi quyền lực và sự lãnh đạo của Mỹ. Chúng ta từ bỏ vai trò đó là nguy hiểm cho thế giới và cho chính nước Mỹ", TNS John McCain nói.