Showing posts with label Urban Development. Show all posts
Showing posts with label Urban Development. Show all posts

Friday, September 23, 2011

23/09 Nghị quyết 26 và việc xây dựng giai cấp nông dân trong tình hình mới



06:56 | 23/09/2011
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa kết thúc đợt kiểm tra, nắm tình hình thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ Bảy, Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Kết quả kiểm tra cho thấy, việc ra đời Nghị quyết về tam nông là rất cần thiết, kịp thời và đúng đắn cả về lý luận và thực tiễn cuộc sống, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, tạo sự chuyển biến nhất định trong phát triển sản xuất nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.
Nghị quyết 26 – động lực để phát triển kinh tế - xã hội, phát huy vai trò và sức sáng tạo của nông dân
Kiểm tra tình hình thực hiện Nghị quyết 26, Tổng bí thư và Đoàn công tác của Trung ương đã làm việc với tỉnh ủy An Giang, tỉnh ủy Kiên Giang, huyện ủy Mường Lát, Thanh Hóa. An Giang và Kiên Giang đại diện cho cư dân nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, với lợi thế về đất nông nghiệp và xuất khẩu lúa gạo. Mường Lát - một trong 7 huyện nghèo nhất của Thanh Hóa và một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước - tiêu biểu cho nông dân, nông thôn khu vực Bắc Trung bộ. Với địa hình miền núi chia cắt, khó khăn về đường giao thông, thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, nông thôn khu vực Bắc Trung bộ có nhiều nét tương đồng với nông thôn miền núi phía Bắc. Và gần đây nhất là hai cuộc làm việc với Hội Nông dân Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 
Kết quả các cuộc làm việc cho thấy quan điểm trong Nghị quyết 26 là hoàn toàn đúng đắn. Đó là nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí quan trọng, chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế – xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảm đảm an ninh quốc phòng, đặc biệt là an ninh lương thực quốc gia. Nông nghiệp, nông thôn và nông dân cũng là nơi phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Với bà con nông dân, Nghị quyết 26 của Đảng là cây gậy, là động lực để phát triển kinh tế – xã hội, phát huy vai trò chủ thể và sức sáng tạo của nông dân.
Đương nhiên, sau 3 năm triển khai thực hiện, Nghị quyết 26 không chỉ toàn thành tích. Với địa bàn rộng lớn, là nơi sinh sống của hơn 70% dân số cả nước và chiếm 50% lực lượng lao động xã hội, nông nghiệp, nông thôn và nông dân đang đứng trước nhiều vấn đề mới, cần được giải quyết.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhận thức của một bộ phận cán bộ các cấp và người dân về Nghị quyết 26 nói chung cũng như chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới còn chưa đúng và chưa đầy đủ. Nghị quyết khẳng định, nông nghiệp, nông thôn, nông dân có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhưng thực tế triển khai ở một số nơi có tình trạng nhảy từ cực này sang cực kia, phiến diện, nhấn một chiều về công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hệ quả là khi nói đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ nhất định phải thật cao, còn tỷ trọng nông nghiệp nhất định phải giảm dần - có như vậy mới thấy yên tâm, mới đạt thành tích và mới là công nghiệp hóa, hiện đại hóa (?) Còn ở chiều kích khác, có ý kiến lại kiên quyết, phải dồn sức đầu tư nhiều hơn nữa cho tam nông, vì đây là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, an ninh lương thực.
Chỉ rõ giải quyết nông nghiệp, nông thôn và nông dân phải đặt trong mối quan hệ tổng thể với công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước, Người đứng đầu Đảng ta cho rằng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng không có nghĩa là tập trung mọi nguồn lực cho lĩnh vực này. Vì nếu chỉ làm nông nghiệp thì đất nước không thể giàu. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện, bền vững nhưng phải đi vào hiện đại. Tỷ lệ nhiều lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp không phải là thành tích. Sắp tới, phải làm thế nào để tỷ lệ nông dân làm nông nghiệp ngày càng giảm xuống nhưng năng suất lúa gạo ngày càng tăng, của cải làm ra ngày càng nhiều. Như thế mới là xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao.
Muốn đạt được mục tiêu này thì phải nâng cao vai trò chủ thể của nông dân, phải đi vào những cơ chế, chính sách cụ thể, chứ không chỉ đơn thuần nói đạo lý, nói lý thuyết suông – Tổng bí thư nhấn mạnh.
Nói nông dân - không phải chỉ chăm lo đời sống vật chất, tinh thần là đủ
Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới là quan điểm đã được khẳng định trong Nghị quyết 26. Ba năm qua, các bộ, ngành, địa phương đã và đang từng bước cụ thể hóa quan điểm này. Song thực tế kiểm tra, nắm tình hình thực hiện Nghị quyết 26 ở một số địa phương, cơ sở thì dường như các biện pháp để phát huy vai trò chủ thể của nông dân chưa thật rõ nét.
Giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt trong mọi chương trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, bảo đảm hài hòa giữa các vùng, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị. Đây là một trong bảy nhiệm vụ trong Nghị quyết 26. Tuy nhiên, theo Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hà Hùng thì hiện nay có khoảng 85% lao động ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số chưa qua đào tạo. Số liệu thống kê của Hội Nông dân Việt Nam cho biết, hầu hết số hộ nghèo và cận nghèo của cả nước là nông dân. Có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan gây khó khăn cho việc triển khai các nhiệm vụ của Nghị quyết, nhưng trong đó có vấn đề về dân trí, về tập tục sản xuất lạc hậu. Từ thực trạng này, Phó chủ nhiệm Hà Hùng đặt câu hỏi: có nên coi nâng cao trình độ dân trí cho nông dân, cho đồng bào dân tộc thiểu số là chìa khóa để xóa đói giảm nghèo bền vững không?
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân, Nghị quyết xác định: xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt và nông dân là chủ thể của quá trình phát triển. Nhưng thực tế, trong ba mảng có quan hệ chặt chẽ và biện chứng nêu trên thì mảng nông dân dường như chưa được quan tâm đúng mức. Nông dân của nước ta hiện nay đa số vẫn là những hộ sản xuất quy mô nhỏ, trong đó có tới 36% số hộ có dưới 0,2 ha đất canh tác. Tình trạng sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển công nghiệp và đô thị hóa đang khiến hàng triệu nông dân thiếu việc làm hoặc không có việc làm...
Với mong muốn giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân một cách căn cơ và bản chất hơn, Tổng bí thư xác tín: nói nông dân không phải là ban ơn, không phải chỉ chăm lo đời sống vật chất và tinh thần là đủ. Đây là mục tiêu chiến lược xây dựng và phát triển giai cấp nông dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây là nguồn lực trực tiếp phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
Vậy thì, trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất hàng hóa lớn theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập thì giai cấp nông dân có sự biến đổi như thế nào? Nếu có biến đổi thì sự biến đổi này là tất yếu kinh tế hay chỉ là ngẫu nhiên? Nhận thức, giác ngộ của nông dân trong tình hình mới hiện nay ra sao? Mặt bằng dân trí, ý thức nông dân là chủ thể của quá trình phát triển giữa các vùng miền có sự khác nhau không? Quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai ra sao?... Đây rõ ràng không phải là vấn đề của từng địa phương, từng vùng miền mà phải từ Trung ương. Riêng đối với nông dân thì phải đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, trang bị kiến thức mới, nêu cao tinh thần làm chủ của nông dân. Nhà nước có trách nhiệm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách để nông dân thực sự phát huy vai trò chủ thể của quá trình phát triển.
Giai cấp nông dân cùng với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức quyện chặt, kết thành khối thống nhất là động lực của cách mạng
Tính từ mốc Đại hội XI của Đảng đến nay, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhậm chức được hơn 8 tháng, trong đó có đến hơn 7 tháng là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch QH. Với cương vị Người đứng đầu Đảng ta, Tổng bí thư đã có cuộc làm việc đầu tiên với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Chủ điểm của cuộc làm việc này liên quan tới nội dung mang tính thời sự: tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Ngay sau đó, Tổng bí thư đã đến với giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và gần đây nhất là giai cấp nông dân thông qua việc kiểm tra tình hình triển khai thực hiện các Nghị quyết liên quan.
Hiện thực và gần gũi, việc kiểm tra, nắm tình hình triển khai thực hiện ba Nghị quyết nêu trên nhằm cụ thể một tư tưởng vừa được thảo luận và thống nhất tại Hội nghị lần thứ Hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI là đã ra Nghị quyết thì phải thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo thực hiện, không nên ra nhiều Nghị quyết.
Còn bản chất và chiến lược hơn thì bởi vì giai cấp nông dân là nhóm dân cư đông nhất nước ta hiện nay. Trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta tiếp tục giữ được sự ổn định, hỗ trợ đắc lực cho công nghiệp, dịch vụ. Sự tăng trưởng vững chắc của nông nghiệp, nông dân, nông thôn thời gian qua không chỉ có ý nghĩa ổn định về kinh tế mà còn góp cho việc giữ ổn định chính trị, xã hội.
Phát triển sản xuất nông nghiệp là nền tảng của chủ trương xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp nông dân. Giai cấp nông dân cùng với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức quyện chặt, kết thành khối thống nhất là động lực của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới. Sự khởi sắc và phát triển mạnh mẽ của ba lực lượng này tạo nền tảng kinh tế – xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thanh Tâm

Thursday, June 30, 2011

Mô hình nào cho “thành phố Thừa Thiên - Huế”?


Thứ Năm, 30/06/2011, 07:51 (GMT+7)
TT - Nhiều ý kiến khác nhau của các chuyên gia tại buổi tọa đàm tìm giải pháp thực hiện kết luận 48 của Bộ Chính trị về việc đưa cả tỉnh Thừa Thiên - Huế trở thành đô thị trực thuộc trung ương, vừa diễn ra tại TP Huế hôm 27-6.
Trung tâm TP Huế hiện còn giữ được sự hài hòa vốn có, từng được mệnh danh là “kiệt tác thơ kiến trúc đô thị” - Ảnh: THÁI LỘC

Wednesday, June 1, 2011

31/05 Quản lý chặt đất công cộng ở khu đô thị mới


THỨ BA, 31 THÁNG 5 2011 20:47 DÂN TRÍ

UBND Hà Nội vừa yêu cầu các Sở ngành tăng cường quản lý chặt, sử dụng đúng mục đích diện tích đất quy hoạch xây dựng công trình công cộng phục vụ nhân dân tại dự án khu đô thị mới.
Theo đó, Sở Tài nguyên môi trường, Quy hoạch kiến trúc, Kế hoạch và đầu tư, Xây dựng; UBND các quận, huyện khi lập dự án và phê duyệt quy hoạch chi tiết... cần xác định cụ thể diện tích đất công cộng trong dự án.

Đối với diện tích đất công cộng cấp Thành phố và khu vực, đất trụ sở cơ quan hành chính, đất phục vụ an ninh, quốc phòng, sau khi chủ đầu tư xây dựng xong hạ tầng kỹ thuật phải bàn giao cho Sở tài nguyên môi trường quản lý.

Đối với đất xây dựng các công trình y tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao, phải đầu tư xây dựng đồng bộ với quá trình đầu tư các công trình nhà ở. Nếu không đầu tư hoặc không kêu gọi đầu tư theo phương thức xã hội hóa thì sau khi xây dựng xong hạ tầng kỹ thuật cũng bàn giao cho Sở tài nguyên và môi trường quản lý.

Khi bàn giao đất, chủ đầu tư được thanh toán suất đầu tư (nếu có) theo quy định của pháp luật. Kinh phí thanh toán được vay từ Quỹ phát triển đất Thành phố.

Trung tâm giao dịch đất đai và phát triển quỹ đất Hà Nội có trách nhiệm quản lý các khu đất xây dựng công trình công cộng theo quy định của Luật Đất đai và bàn giao lại cho chủ đầu tư thực hiện dự án theo quyết định của UBND Thành phố.

Các sở ngành có trách nhiệm kiểm tra, rà soát các khu đô thị mới, khu nhà ở đã có quyết định thu hồi đất, giao đất trên địa bàn Thành phố. Đối với các diện tích quy hoạch để xây dựng công trình công cộng mà chưa có chủ trương của UBND Thành phố giao cho các chủ đầu tư thực hiện xây dựng thì đề xuất quản lý theo quy định; đề xuất đầu tư xây dựng các công trình công cộng, sớm đưa vào sử dụng đồng bộ theo quy hoạch.

Quang Phong

01/06 Triển lãm Kiến trúc Việt Nam - VietArc 2011


THỨ TƯ, 01 THÁNG 6 2011 09:00

Sáng 01/6, Triển lãm Kiến trúc Việt Nam lần thứ III - VietArc 2011 do Hội Kiến trúc sư TP Hồ Chí Minh và Công ty Cổ phần Truyền thông Gia Phúc tổ chức dưới sự bảo trợ và chỉ đạo của Hội Kiến Trúc sư Việt Nam chính thức khai mạc tại TPHCM. Ashui.com tiếp tục tham gia vai trò bảo trợ thông tin tại VietArc 2011.
Qua hai lần tổ chức, Triển lãm Kiến trúc Việt Nam - VietArc đang dần trở thành thương hiệu kiến trúc quen thuộc và được mong chờ trong ngành thiết kế, tư vấn dự án và vật liệu xây dựng. VietArc luôn đem đến sự mới lạ từ hình thức đến không gian trưng bày cũng như sự tham gia của các doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo tỷ lệ công ty kiến trúc luôn là 40% trên tổng gian hàng đã tham gia.
Đối với VietArc 2011, bên cạnh những tên tuổi tham gia ba lần liên tiếp như: PTW, Aedas, Archetype, CMV, DWP, Lib.A, Siamp, SPCC, Tân, Nhà Vui… thì đã có sự xuất hiện của những công ty - tập đoàn lớn đến từ các quốc gia Châu Âu, thậm chí chưa từng hoạt động hay có văn phòng đại diện tại Việt Nam dù thật sự đó là những công ty rất nổi tiếng đã từng có dự án hoặc hoạt động tại khu vực Châu Á và Đông Nam Á, như: ACDF (Canada), Fentress (Mỹ), Aecom (Mỹ), Sanderson (Úc), Deso Arch (Pháp)…
Song hành cùng các công ty kiến trúc là sự tham gia ủng hộ ngay từ lúc khởi động của các nhà tài trợ Akzo Nobel, Volano, ToTo, Đăng Hà và các doanh nghiệp vật liệu xây dựng tên tuổi: An Cường, Cara, Cpac, Eurowindow, Toa, Tav, Vinaconex, AbTech, Lutron, Minh Tiến, Bửu Chi…
Trọng tâm của không gian trưng bày năm nay sẽ được tập trung tại khu vực đặc biệt mang tên Mái nhà chung Hội Kiến trúc sư Việt Nam, diện tích 330m2 ngay trung tâm nhà triển lãm. Đây là khu trưng bày các tác phẩm đạt “Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia 2010”. Quan trọng hơn, đây là khu vực dành riêng cho giới kiến trúc sư trong nước thể hiện tài năng cũng như góp phần khẳng định vị thế và nâng tầm nền kiến trúc Việt Nam trên đấu trường quốc tế trong một sân chơi kiến trúc chuyên nghiệp và đẳng cấp như VietArc.
Các chương trình hoạt động tại VietArc 2011 cũng hứa hẹn đem lại nét phong phú và hấp dẫn với chuỗi hội thảo do các công ty kiến trúc, vật liệu tổ chức mang tính thiết thực ứng dụng trong hoạt động nghề nghiệp dành cho kiến trúc sư như: Hội thảo kiến trúc với chủ đề Green Building do Phòng thương vụ Mỹ (USCS) tổ chức, Hội thảo về giải pháp - phần mềm ứng dụng Autodesk trong thiết kế kiến trúc, Hội thảo xu hướng thiết kế công trình công cộng tại Châu Á trong tương lai do Công ty kiến trúc Fentress (Mỹ) trình bày.
Một hoạt động quan trọng diễn ra trong khuôn khổ triển lãm là buổi trao giải Cuộc thi ý tưởng thiết kế sắc màu 2011 - Appreciation (Sự trân trọng) dành cho kiến trúc sư, nhà thiết kế, họa sĩ và sinh viên chuyên ngành thiết kế Quy hoạch - Kiến trúc - Nội thất tại Việt Nam do Hội Kiến trúc sư TP.HCM đã phát động vào tháng 3/2011.
Và chương trình truyền thống không thể thiếu của VietArc là Gala Dinner sẽ được tổ chức tại sảnh lớn SECC vào đêm thứ hai của triển lãm (2/6/2011). Đây là đêm hội giao lưu giữa giới kiến trúc sư trong và ngoài nước, các khách mời, các đơn vị tham gia triển lãm, các đối tác và doanh nghiệp… như một lời tri ân của Ban tổ chức dành cho những đơn vị và cá nhân quan tâm đến triển lãm cũng đang được tích cực chuẩn bị và sẽ mang đến nhiều thú vị hấp dẫn nhất.

Thời gian: Từ ngày 1-4/6/2011 
•    Ngày 1-2/06/2011: Ngày khai mạc và các hội thảo chuyên đề, dành cho khách kinh doanh và giới chuyên nghiệp (phải đăng ký trước hoặc có giấy mời tham dự). 
•    Ngày 3-4/6/2011: Mở cửa tự do cho công chúng.
•    Giờ mở cửa: 9h00 - 18h00

Địa điểm: Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn - SECC, 799 Nguyễn Văn Linh, Quận 7, TP HCM
(tiếp tục cập nhật..) 
Mọi thông tin về sự kiện, vui lòng liên hệ:

Trần Thế Hoàng Hảo (Ms)
Công ty CP Truyền thông Gia Phúc
212 Khánh Hội, Phường 6, Quận 4, TP.HCM
Mobile: 0932 16 36 06
Email: tthhao@nhavui.com.vn ; hoanghaotran@gmail.com 

30/07/2009 Tai nạn lao động tại các công trình xây dựng cao tầng: Còn thờ ơ, còn phải trả giá


THỨ NĂM, 30 THÁNG 7 2009 10:18 BÁO LAO ĐỘNG

Hàng loạt vụ tai nạn lao động chết người xảy ra tại các công trình xây dựng cao tầng trong thời gian qua, mà gần đây nhất là tại công trình tòa nhà Keangnam Hanoi Landmark (Từ Liêm, Hà Nội) đã cho thấy công tác đảm bảo an toàn lao động tại các công trình cao tầng đang bị xem nhẹ.

Chỉ trong 6 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 51 vụ tai nạn lao động trong hoạt động xây dựng, làm chết 13 người, bị thương 60 người. Tai nạn lao động (TNLĐ) trong xây dựng luôn chiếm tỉ lệ cao trong tổng số các vụ TNLĐ xảy ra với khoảng 55% - 60% chủ yếu do điện, ngã cao, vật rơi, vật ép.

(nguồn : xomnhiepanh.com)

Mức xử phạt còn quá nhẹ

Dù chủ đầu tư của công trình tòa nhà Keangnam Hanoi Landmark - Cty TNHH một thành viên Keangnam Vina - luôn yêu cầu các nhà thầu phụ phải quan tâm đặc biệt tới vấn đề an toàn lao động (ATLĐ), trang bị thiết bị bảo hộ lao động đầy đủ cho công nhân, thành lập một đội giám sát về ATLĐ để kiểm tra, giám sát trên toàn công trường, nhưng những TNLĐ vẫn cứ liên tiếp xảy ra.

Chính ông Chủ tịch Cty Keangnam Vina khi trao đổi với PV cũng đã phải thừa nhận: "Các công nhân của VN không có ý thức tự bảo vệ mình. Chúng tôi luôn yêu cầu họ khi thi công trên cao phải đeo dây bảo hiểm, nhưng nhiều người thấy vướng víu lại bỏ ra. Đội giám sát của chúng tôi chỉ có 7 người, nên không thể nào bao quát hết cả công trường. Bản thân các nhà thầu phụ - những người phải trực tiếp giám sát, tuyên truyền cho công nhân của mình thực hiện các biện pháp ATLĐ - cũng thờ ơ, bỏ qua chuyện này".

Khi các nhà thầu phụ thờ ơ, người lao động tại các công trường đã phải chịu thiệt thòi rất nhiều, đôi khi phải đổi bằng chính tính mạng của mình. Nhiều công nhân thuộc nhà thầu Cty CP xây dựng và kinh doanh địa ốc Hòa Bình chúng tôi gặp gỡ, đều chưa từng biết về công việc xây dựng trước đó. Vậy mà khi vào làm tại công trường, họ cũng không được Cty hướng dẫn, tuyên truyền về ATLĐ.

Anh Lê Văn Đông - ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng - cho biết: "Ở nhà tôi chỉ nuôi tôm sú, chưa từng làm xây dựng. Nhà nghèo nên khi Cty tuyển thì đi làm. Tôi làm ở tổ sắt thì chỉ biết làm sắt, cũng không được hướng dẫn gì về an toàn lao động".

Anh Nguyễn Thanh Quang - ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng - cũng là "lính mới", không hề biết gì về xây dựng. Anh mới được Cty tuyển vào làm hôm trước cùng với hàng loạt lao động mới ở Bình Phước và một số tỉnh miền Tây Nam Bộ, vì có nhiều người bỏ về do thời tiết miền Bắc khắc nghiệt và hoang mang sau mấy vụ TNLĐ chết người. Tuy nhiên, vì công việc đơn giản nên Cty cũng không hướng dẫn gì cho anh, kể cả về công tác ATLĐ, chỉ phát cho dây bảo hiểm để đeo vào người.

Các chuyên gia về ATLĐ nhận định, một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng TNLĐ trong các công trình xây dựng cao tầng là tình trạng các doanh nghiệp xây dựng cho mượn pháp nhân, sử dụng cai thầu và khoán trắng an toàn ở công trường cho cai thầu. Chính các cai thầu này lại về tuyển công nhân ở quê mình, hoặc lao động tự do vào làm, hầu hết là những người không có kiến thức và ý thức về an toàn lao động. Đó cũng chính là hoàn cảnh của những lao động kể trên tại nhà thầu Hòa Bình.
  • Ảnh bên : Công trình Keangnam Hanoi Landmark Tower đang thi công (Ảnh: VietNamNet)
Trao đổi với PV Lao Động, ông Vũ Như Văn - Phó Cục trưởng Cục An toàn lao động (Bộ LĐTBXH) - khẳng định: "Các văn bản hướng dẫn về thực thi ATLĐ đều có đủ, nhưng vấn đề chính vẫn là ý thức tự giác chấp hành các quy định ATLĐ từ nhà thầu cho đến các công nhân. Nhiều nhà thầu không cấp đủ các trang thiết bị bảo hộ ATLĐ cho công nhân. Việc huấn luyện kiến thức về ATLĐ cho lao động đôi khi chỉ làm theo hình thức. Đặc biệt, nhiều Cty khoán trắng cho lao động, thiếu sự kiểm tra.

Vấn đề kiểm tra sức khỏe của công nhân, nhất là những người phải làm việc trên độ cao, cũng thường bị các nhà thầu bỏ qua hoặc có kiểm tra thì cũng làm sơ sài. Trong khi đó, có nhiều người bị bệnh tim hoặc sợ độ cao, khi phải làm việc trên cao sẽ rất nguy hiểm tới tính mạng
".

Về mức phạt với các doanh nghiệp vi phạm quy định về ATLĐ, ông Vũ Như Văn cho rằng, mức phạt hiện tại vẫn nhẹ và Bộ LĐTBXH đang đề nghị nâng mức xử phạt để đạt mục đích răn đe và ngăn chặn vi phạm.

Ông Văn phân tích: "Hiện nay, chánh thanh tra được phạt tối đa 20 triệu đồng đối với một hành vi vi phạm của doanh nghiệp. Mức phạt này, theo tôi vẫn còn quá thấp. Nhưng có một cách còn hiệu quả hơn cả phạt, đó là áp dụng điều 32 của NĐ 113 về xử phạt các vi phạm pháp luật lao động, các doanh nghiệp bị xử lý sẽ bị "bêu tên" trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nếu ta làm tốt điều này thì các doanh nghiệp sẽ thấy sợ mà phải thực hiện tốt các quy định về ATLĐ".

TP. Hồ Chí Minh: Đại công trường đầy rủi ro
Trong tổng số 45 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm chết 45 người từ đầu năm đến nay, những vụ "rơi tự do", điện giật, bị vật chèn ép... đã chiếm hơn 60%. TNLĐ trong lĩnh vực xây dựng tăng đột biến so với cùng kỳ năm trước.

Ông Nguyễn Quốc Việt - Phó Chánh Thanh tra Sở LĐTBXH phụ trách lĩnh vực an toàn lao động (ATLĐ) - nhận định: "TPHCM hiện nay như một đại công trường xây dựng đầy rủi ro. Mức độ rủi ro tăng theo chiều cao công trình và độ sâu của hầm ngầm được thi công".

Hàng nghìn công trình dân dụng và hàng trăm dự án lớn - nhỏ đang được thi công thu hút khoảng 200-300 nghìn lao động (LĐ) trong lĩnh vực này, khi cao điểm lượng LĐ còn cao hơn nữa. Theo Thanh tra Sở LĐTBXH, thực trạng ATLĐ tại các công trường xây dựng đang ở mức đáng báo động. Trên 90% công trình dân dụng nhỏ lẻ không đảm bảo an toàn, còn với các công trình lớn cũng chưa đến 50% đảm bảo an toàn.

Thực trạng đó được "minh họa" bằng hàng loạt vụ TNLĐ nghiêm trọng tại các công trình xây dựng từ nhỏ đến lớn. Ngày 30.12.2008, 2 công nhân tử vong và 14 người bị thương do sập công trình xây dựng cao ốc tại Phú Mỹ Hưng, quận 7. Ngày 10.3, hai công nhân bị nạn trong vụ gãy dầm bêtông cầu vượt Chợ Đệm, huyện Bình Chánh.

Ngày 29.3, 6 người bị sập giàn giáo tại phường Đa Kao, quận 1. Ngày 10.4, hai công nhân bị thương do bêtông rơi tại công trình xây dựng cao ốc trên đường Phạm Ngọc Thạch, quận 3. Ngày 14.5, một lao động bị điện giật chết khi điều khiển máy trộn bêtông tại phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức...

Theo ông Nguyễn Quốc Việt, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TNLĐ trong lĩnh vực này là: Vị trí nguy hiểm như mép sàn tầng, hố, cửa thang máy... không được che đậy cẩn thận; dây dẫn điện nhiều mối nối để trên sàn, thiết bị điện không được kiểm tra trước khi đưa vào sử dụng; không làm lưới chống rơi, lưới đỡ vật rơi trong công trình; người lao động chưa nắm rõ quy tắc an toàn do huấn luyện ATLĐ chỉ mang tính hình thức.

Qua kiểm tra, Thanh tra Sở LĐTBXH phát hiện nhiều công trình lớn sử dụng các nhà thầu phụ hoặc nhóm cai thầu để có thêm lao động phổ thông. Đa phần những lao động này đều có trình độ học vấn thấp, thiếu tính tự giác nên xảy ra TNLĐ là tất yếu - ông Việt nhận định. Thêm vào đó, trong việc đấu thầu đơn giá thường thay đổi chậm so với thị trường, vì vậy dễ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của nhà thầu. Để tiết kiệm chi phí, cách đầu tiên nhà thầu thường nghĩ đến là cắt giảm chi phí phục vụ ATLĐ.

Trong khi đó, lực lượng thanh tra lao động trong lĩnh vực ATLĐ chỉ có 11 người, gần như "muối bỏ bể" khi phải bao quát hàng chục nghìn DN, cơ sở sản xuất và các công trình xây dựng. Chế tài xử phạt tối đa khi phát hiện sai phạm cũng chỉ lên đến 20 triệu đồng, chỉ như "phủi bụi" đối với nhiều chủ thầu. 
* Thống kê từ Bộ Xây dựng cho thấy, chỉ trong 6 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 51 vụ TNLĐ trong hoạt động xây dựng, làm chết 13 người, bị thương 60 người. TNLĐ trong xây dựng luôn chiếm tỉ lệ cao trong tổng số các vụ TNLĐ xảy ra với khoảng 55%-60% và nguyên nhân dẫn đến TNLĐ trong ngành xây dựng (điện, ngã cao, vật rơi, vật ép) đến 75% do điều kiện làm việc không bảo đảm an toàn. H.P

* Hà Nội: 80% số công trình xây dựng cao tầng vi phạm an toàn lao động. Ngày 29.7, ông Bạch Quốc Việt- Trưởng phòng An toàn lao động, Sở LĐTBXH Hà Nội - khẳng định: Nếu công tác thanh - kiểm tra được thực hiện chặt chẽ, sẽ có không dưới 80% số công trình xây dựng cao tầng đang bỏ quên việc đảm bảo an toàn cho công nhân (CN). Theo báo cáo của Sở LĐTBXH Hà Nội, 6 tháng đầu năm 2009, toàn thành phố đã có 13 người chết do TNLĐ, trong đó có tới 5 vụ xảy ra tai nạn khi thi công công trình trên cao. Mới đây nhất là những vụ TNLĐ xảy ra tại khu vực xây dựng tòa nhà Keangnam Hanoi Landmark trên đường Phạm Hùng.

Ông Việt cho biết, 6 tháng tới sở sẽ tập trung thanh - kiểm tra những công trình trọng điểm, trong đó đặc biệt chú trọng đến các công trình cao tầng. Trước những băn khoăn về mức xử phạt hành chính hiện nay còn quá nhẹ,  ông Việt thừa nhận: Xử phạt hiện nay mới dừng lại ở mức "cảnh cáo" nên chưa đủ sức răn đe.

Cụ thể, thanh tra viên khi phát hiện vi phạm chỉ được lập biên bản với số tiền 200.000 đồng/vụ; còn chánh thanh tra là 20 triệu đồng/vụ. Về những vụ tai nạn liên tiếp xảy ra ở khu vực thi công tòa nhà Keangnam Hà Nội, đại diện Sở LĐTBXH cho biết: Hiện lực lượng liên ngành đã tiến hành thanh tra vụ việc.

Dự kiến, sau 20 ngày (không tính thứ bảy và chủ nhật), kết luận chính thức sẽ được đưa ra. Do tính chất nghiêm trọng đặc biệt nên vụ việc lần này sẽ không được phép gia hạn thời gian điều tra. N.L  
Hải Phong - Vinh Hải

15/06/2009 Thừa Thiên Huế : Cả tỉnh "lên" thành phố


THỨ HAI, 15 THÁNG 6 2009 13:02 LAO ĐỘNG

Hình hài của "thành phố trực thuộc trung ương" đang được lãnh đạo tỉnh TT-Huế hình dung để xây dựng như thế nào? Đó là câu hỏi thời sự của người dân TT-Huế và bạn đọc trong thời điểm này.

Câu hỏi được đặt ra sau những mừng vui khi có kết luận của Bộ Chính trị về việc đồng ý để tỉnh xây dựng và phát triển thành thành phố trực thuộc trung ương trong một vài năm tới. Và ông Nguyễn Ngọc Thiện - Chủ tịch UBND tỉnh TT-Huế - trả lời: Cả tỉnh "lên" thành phố(!).

Sẽ không giống với bất kỳ thành phố nào...

"Cứ tạm gọi là thành phố TT-Huế, vì hiện tại chúng tôi vẫn chưa nghĩ ra tên gọi nào khác" - ông Nguyễn Ngọc Thiện (ảnh bên) - Chủ tịch UBND tỉnh TT-Huế - mở đầu câu chuyện với tôi liên quan đến chủ đề tên và hình hài của thành phố trực thuộc trung ương trong tương lai.

Ông Thiện hình dung: "Thành phố TT-Huế trong tương lai sẽ lớn hơn bất kỳ thành phố nào trên cả nước hiện nay, với tổng diện tích hơn 5.000km2. Thành phố TT-Huế cũng sẽ không giống với bất kỳ một thành phố nào trong cả nước bởi diện tích lớn như vậy, nhưng dân số lại chỉ có hơn 1,3 triệu người (thời điểm thống kê năm 2006). Thành phố TT-Huế còn khác biệt bởi các yếu tố: Đây là một cố đô, thành phố di sản, thành phố festival đặc trưng của Việt Nam. Thành phố trong tương lai hội đủ các yếu tố: Sông, núi, biển, đầm phá, gò đồi, rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên...".

Một người Huế băn khoăn: "Mừng thì mừng thật, nhưng nếu đúng như rứa thì thành phố của mình tới lúc đó hơi... kỳ cục bởi diện tích quá rộng mà dân số lại quá ít. Đó là chưa nói đến hàng chục, hàng trăm hệ lụy khác liên quan đến mâu thuẫn và vấn đề đặt ra cho những người dân ở các vùng sâu, xa, sau một đêm ngủ dậy bỗng dưng ...trở thành người thành phố (?)".

Tôi đặt sự băn khoăn đó lên bàn làm việc của ông Nguyễn Ngọc Thiện và được trả lời rất nhanh: "Cần phải thay đổi một chút về nhận thức đô thị. Theo tôi, đô thị không nhất thiết phải có nhiều nhà cao tầng, dân số đông" - ông nói: "Theo nghĩa đó, Huế sẽ không phát triển theo hướng đó, mà phát triển theo hướng một thành phố sinh thái, thành phố sạch... với trung tâm - đô thị hạt nhân sẽ là thành phố Huế hiện nay. Chung quanh là các đô thị vệ tinh động lực vệ như: Thành phố Chân Mây - Lăng Cô; các thị xã: Tứ Hạ - Phú Bài, Thuận An, Bình Điền...

Dân số thành phố Huế lúc đó sẽ tăng từ hơn 300.000 người như hiện nay lên khoảng 400.000 - 500.000 người với việc đô thị mở rộng về vùng An Vân Dương ở phía nam. Dân số đô thị sẽ được nâng lên từ khoảng 37% như hiện nay lên khoảng 60 -70%.

Hiện tại, tỉ lệ lao động nông nghiệp của tỉnh TT-Huế chiếm khoảng 40% tổng số lao động. Tuy nhiên, số lao động này đang được dần chuyển sang lao động dịch vụ và công nghiệp để phấn đấu đến năm 2015, tỉ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 20% và đến năm 2020 còn khoảng 10%...
".

"Bài toán" du lịch, dịch vụ

10 ngày sau cuộc làm việc với Thường vụ Tỉnh uỷ TT-Huế, ngày 25.5, Bộ Chính trị đã có thông báo số 48 với nhiều nội dung, trong đó có việc đồng ý việc "xây dựng TT-Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới" theo hướng: TT-Huế là trung tâm của khu vực miền Trung, là một trong những trung tâm lớn đặc sắc của cả nước về văn hoá du lịch; khoa học công nghệ; trung tâm y tế chuyên sâu; giáo dục đào tạo chất lượng cao và đa ngành, đa lĩnh vực...


Đó là một định hướng, mà nếu phát triển thành công, chắc chắn sẽ mang lại cho "thành phố TT-Huế" một sự khác biệt cơ bản và quan trọng so với những thành phố khác, ngoài những sự khác biệt về diện tích, dân số, tính chất... như ông Nguyễn Ngọc Thiện đã nói. Nhưng trong tất cả những mục tiêu vừa nêu, mục tiêu thành một trung tâm văn hoá, du lịch, dịch vụ đang gây không ít băn khoăn, bởi lĩnh vực này đang là một "bài toán khó" đối với TT-Huế từ rất nhiều năm nay.

Du lịch, dịch vụ của Huế là cả một câu chuyện dài tập, đã trở thành chuyện "biết rồi khổ lắm...", vì nhiều năm qua đã tốn nhiều giấy mực của báo giới và sức lực của những nhà quản lý, chuyên môn... Huế đang có gần như tất cả những điều kiện tốt nhất để phát triển du lịch: Một thành phố lễ hội đặc trưng của Việt Nam, một quần thể di tích và những giá trị đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới (cả vật thể và phi vật thể), một vịnh Lăng Cô vừa được công nhận là một trong 29 vịnh biển đẹp nhất thế giới, hạ tầng du lịch tốt...

Tuy nhiên, nhiều năm qua, ngành du lịch, dịch vụ vẫn đang phát triển rất yếu, chưa xứng tầm và tiền đóng góp của "mũi nhọn" này vào ngân sách của tỉnh TT-Huế trung bình năm chưa bằng số lẻ của một doanh nghiệp như Cty bia Huế (chỉ gần 30 tỉ đồng).

Còn nhớ cuối năm 2008, đích thân ông Nguyễn Ngọc Thiện - Chủ tịch UBND tỉnh TT-Huế - đã "đăng đàn" xác định "từ nay sẽ là mũi nhọn và mũi nhọn duy nhất". Nhưng từ đó đến nay, mũi nhọn và nhọn duy nhất đó vẫn chưa thấy nhọn lên được chút nào.

Trao đổi với tôi, ông Nguyễn Ngọc Thiện thừa nhận: "Đúng là đối với ngành du lịch, dịch vụ, chúng tôi đã tập trung đầu tư nhiều, nhưng sự phát triển chưa tương xứng". Nhưng ông lại thanh minh: "Để thay đổi cả một ngành kinh tế cần phải có thời gian và không được nôn nóng, bởi đi nhanh được là tốt, nhưng có khi nhanh quá phải trả giá lớn".

Ông nói: "Tôi không ngụy biện, nhưng lâu nay Huế đang đi theo hướng bền vững. Một sự thay đổi chất nào cũng cần có sự tích luỹ về lượng cần thiết. Hiện tại, Huế đang tích luỹ về lượng và đang tiến tới ngưỡng thay đổi".

Cán bộ chưa... đủ tầm?

Một sự lo lắng rất phổ biến và thời sự đối với người dân Huế hiện nay là Huế sẽ trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm nữa (chậm nhất là 2015). Nhưng có vẻ như lực lượng, năng lực của đội ngũ cán bộ của Huế thì ... còn lâu mới lên được tầm trung ương(!?).

Bên lề một cuộc họp báo mới đây (ngày 30.5), ông Nguyễn Văn Cường - Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh TT-Huế - thừa nhận với tôi: "Những lo lắng của người dân là có cơ sở, bởi thực tế là năng lực đội ngũ cán bộ hiện nay của TT-Huế chưa xứng tầm, chưa theo kịp với những yêu cầu và đòi hỏi mới".

Ông Cường nói: "Thực ra vấn đề này, Thường vụ Tỉnh uỷ đã sớm nhìn ra và ngay từ giữa năm 2008 đã ban hành một nghị quyết về vấn đề bồi dưỡng và nâng cao năng lực cán bộ để phục vụ việc xây dựng và phát triển thành phố trong tương lai. Bước đầu, chúng tôi đã cử 15 cán bộ nguồn qua Singapore để học ngoại ngữ. Đặc biệt, đã cử hai cán bộ trẻ ra nước ngoài làm tiến sĩ về quản lý đô thị và quản lý kinh tế...".

Ông Nguyễn Văn Cường cũng thừa nhận là bây giờ mới "nâng cấp" cán bộ thì chắc chắn sẽ không kịp với tốc độ xây dựng và nâng cấp thành phố từ tỉnh lên trung ương. "Tuy nhiên không còn cách nào khác là chúng ta phải vừa làm, vừa bổ sung" - ông Cường kết luận.

Có một gợi ý liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực là trong lúc đang thiếu và yếu và chờ đào tạo còn rất lâu, tại sao TT-Huế không áp dụng các chính sách đãi ngộ để thu hút nhân tài như nhiều địa phương khác đã và đang làm?

Ông Nguyễn Ngọc Thiện trả lời bằng một quan điểm rất khác: "Tôi không thiên về đãi ngộ vật chất nhiều như một số địa phương đang làm, vì đó chỉ là giải pháp tạm thời. Nếu cho họ đất đai, tiền bạc, nhưng không tạo cơ hội làm việc, cống hiến... thì sớm muộn, họ cũng sẽ đi. Quan điểm của tôi là khi nào kinh tế TT-Huế phát triển từ trung bình như hiện nay lên khá, lúc đó môi trường làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn.., tự khắc người tài sẽ tìm đến và ở lại".
Hoàng Văn Minh

06/04/2009 Di sản đô thị: Xung đột giữa phát triển và bảo tồn


THỨ HAI, 06 THÁNG 4 2009 16:13 HOÀNG HƯỜNG / TUẦN VIỆT NAM

"Trong một thế giới hội nhập, biến đổi liên tục, việc gìn giữ những di sản cho thế hệ tương lai là một quan niệm rộng với tầm nhìn xa hơn. Khi nói đến cảnh quan đô thị không phải người ta đề cập đến một di sản hay một công trình kiến trúc cụ thể mà đó là dự án tổng thể cho cả đô thị” - Michael Turner.

Luôn gây tranh cãi  

Diễn đàn UNESCO - Trường đại học và di sản lần thứ 12với chủ đề “Cảnh quan của các đô thị lịch sử”  đang diễn ra tại Hà Nội (từ 5 – 10/4) thu hút nhiều học giả từ khắp thế giới. 
Ngày đầu tiên, các phát biểu và tham luận đều nêu lên vấn đề lớn nhất hiện nay là công tác bảo tồn di sản đô thị: sự xung đột giữa phát triển đô thị và bảo tồn di sản lịch sử - văn hóa.

Làm thế nào để cân bằng giữa phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng trong xu thế toàn cầu hóa nhưng vẫn giữ được cảnh quan, không gian văn hóa truyền thống của địa phương? Rõ ràng đây là vấn đề nan giải mà thành phố nào cũng đều gặp phải. 

Kiến trúc sư, Chủ tịch UBND TP Hà Nội, Nguyễn Thế Thảo nói: “Hà Nội là một trong những thành phố đang phát triển mạnh mẽ, có không gian thiên nhiên gắn bó hài hòa, dù trải qua bao biến thiên vẫn giữ được trong mình những di sản quý. Trong quá trình phát triển Hà Nội vẫn cố gắng bảo tồn đô thị với ba nội dung chính: cảnh quan, chức năng và hình ảnh”.

Giáo sư Michael Turner đến từ Học viện Nghệ thuật và Thiết kế Bezalel, Tây Ban Nha cho rằng, bảo tồn đô thị lịch sử là đề tài tranh cãi của tất cả các trung tâm đô thị trên thế giới bởi sự đụng độ giữa xưa và nay.

Trong một thế giới hội nhập, biến đổi liên tục như hiện nay, việc gìn giữ những di sản cho thế hệ tương lai là một quan niệm rộng với tầm nhìn xa hơn. Khi nói đến cảnh quan đô thị không phải người ta đề cập đến một di sản hay một công trình kiến trúc cụ thể mà đó là dự án tổng thể cho cả đô thị”, GS Michael Turner nói.


Bằng chứng ấn tượng 
Tiến sĩ Ron Van Oers, chuyên viên của Trung tâm di sản quốc tế UNESCO đưa ra những dẫn chứng khá ấn tượng.

Thành phố Viên (Áo) được đưa vào danh sách di sản thế giới năm 2001. Thành phố này bao gồm nhiều công trình kiến trúc cổ, và một quần thể 4 cái tháp ở khu trung tâm rất nổi tiếng. Sau khi được đưa vào danh sách, các kiến trúc sư đã đề xuất tạo ra xung quanh khu tháp này một “vùng đệm” không để những công trình mới xâm hại cảnh quan. Nhưng việc này đã nảy ra những cuộc tranh cãi lớn. Cuối cùng TP Viên đã lựa chọn một công ty kiến trúc để kiến tạo khu vực này, thể hiện khu vực xung quanh như một phố Viên cổ. Vấn đề này hiện vẫn đang là đề tài tranh cãi.

Cologne Cathedral (CHLB Đức)  

Thêm một trường hợp khác, năm 2004 Nhà thờ Cologne Cathedral (Đức) - di sản thế giới, có niên đại hơn 800 năm bị đưa vào danh sách nguy hiểm bởi cảnh quan xung quanh đã có quá nhiều nhà cao tầng được xây dựng. Trước sức ép này, đã có những ý kiến đề nghị đưa Nhà thờ Cologne Cathedral ra khỏi danh sách Di sản thế giới, để địa phương có thể thoải mái xây cao ốc.

Tuy nhiên sau khi tranh cãi và cân nhắc giữa lợi ích kinh tế và văn hóa, năm 2006, chính quyền địa phương đã lập ngay kế hoạch bảo vệ di sản với Quy định giới hạn các tòa nhà xây dựng trong khu vực quanh Nhà thơ, và Cologne Cathedral đã được đưa ra khỏi danh sách nguy hiểm.

Tương tự như vậy, đền Taj Mahal (Ấn Độ) là công trình đầu tiên gần như thỏa mãn toàn bộ các tiêu chí của UNESCO cũng từng đứng trước khả năng phải lựa chọn. Phía trước nhà thờ này có một khu vườn và quần thể kiến trúc cổ. Năm 2003, chính quyền địa phương đã lên kế hoạch xây một trung tâm thương mại lớn tại khu vực đó. Tuy nhiên sau đó dưới sức ép của UNESCO và dư luận, kế hoạch này phải dừng lại vì nó phá vỡ cảnh quan khu vực đền Taj Mahal.

Đền Taj Mahal (Ấn Độ)

Hay như Cung điện Potala (Trung Quốc) được chọn là Di sản thế giới năm 1994 cũng vậy. Trong quá trình đô thị hóa, cảnh quan đô thị khu vực cung điện này cũng đã từng bị đe dọa. Nhưng sau đó, chính quyền Trung Quốc nhận ra rằng Potala không chỉ là một di sản mà là một phần cảnh quan văn hóa của đất nước. Chính phủ Trung Quốc đã chấp nhận phá hủy toàn bộ những công trình xây dựng mới trong khu vực để bảo toàn cảnh quan cổ trong khu vực.

Trở thành Di sản thế giới năm 1988. Trong suốt thập kỷ qua, khu vực tháp London vẫn là một đô thị nóng, luôn muốn bùng nổ xây dựng bất cứ lúc nào. Hiện đã có 14 tòa nhà cao tầng đang trong quá trình xây dựng, cùng 94 dự án khác đang chờ chực. Những cuộc xung đột vẫn đang xảy ra quyết liệt, chưa có ai nắm được quyền quyết định cuối cùng: những nhà bảo tồn hay nhà đầu tư.


Châu Á: Nền di sản truyền thống hay thuộc địa?
Giáo sư William Logan, từ Trường Đại học Deakin, Melbourne, Úc mang đến hội thảo những quan điểm khác nhau về di sản trong vùng Châu Á, lục địa già nhất nhưng có khối lượng di sản phong phú.

Trải dài trong lịch sử, Châu Á, trong đó có Việt Nam đã bị nhiều nền văn hóa thuộc địa. Đã có nhiều tranh cãi về vấn đề di sản truyền thống bản địa, và di sản do những nước xâm chiếm xây dựng và để lại, trong đó có nền văn hóa Châu Âu.

Cung điện Potala (Trung Quốc) 

Việt Nam, Lào, Thái Lan, Hàn Quốc… là những quốc gia chịu ảnh hưởng bởi nhiều nền văn hóa, và cũng là những nước có tỷ lệ tăng trưởng dân số nhanh, tốc độ đô thị hóa bùng nổ. Những đô thị phát triển đang mở ra thu hút đầu tư từ bên ngoài vào nhanh chóng đã tạo ra xung đột trong kết cấu văn hóa địa phương và văn hóa du nhập, đặc biệt tại các đô thị có nhiều di sản.

Thêm nữa, đô thị di sản là những nơi có ngành công nghiệp du lịch phát triển mạnh cũng tạo ra sự đồng hóa văn hóa, tác động trực tiếp đến cảnh quan và văn hóa tín ngưỡng địa phương. Toàn cầu hóa cũng là một yếu tố làm biến mất dần những bản sắc truyền thống. Tại một số thành phố người dân đã từng đấu tranh nhằm giữ gìn những bản sắc văn hóa riêng của họ. 

Giáo sư William Logan cũng bày tỏ sự quan tâm về Hà Nội, thành phố chịu ảnh hưởng nhiều cả văn hóa Trung Quốc và Châu Âu, chủ yếu là Pháp. Ông đã phân tích kỹ những trường hợp xây dựng và công trình kiến trúc mang tính xung đột văn hóa và cảnh quan như những công trình cao tầng quanh Bờ Hồ, tượng đài Lý Thái Tổ, các kiến trúc Pháp và những công trình Việt Nam tiêu biểu như Chùa Một Cột, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Văn Miếu Quốc Tử Giám…

Ông nhấn mạnh Hà Nội là một thủ đô quốc gia, mang nhiều tầng nấc di sản, lịch sử của cả dân tộc Việt Nam, và là thành phố có giá trị toàn cầu. Ông lưu ý quy hoạch phát triển phải được đặt ra ở những chiến lược có tâm, trong đó cần cân nhắc kỹ đến những di sản quý mà Hà Nội hiện có.

Hoàng Hường

09/01/2009 Tương lai nào cho kiến trúc Hồ Gươm?


THỨ SÁU, 09 THÁNG 1 2009 15:58 TT&VH

Triển lãm trưng bày các đồ án dự thi Ý tưởng quy hoạch khu vực hồ Gươm và phụ cận đang diễn ra tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. 9 đồ án được thể hiện bằng những bản vẽ và mô hình rất công phu phần nào cho phép hình dung tương lai của khu vực Hồ Gươm.

Được và chưa được từ 9 phương án
Cả 9 phương án quy hoạch, thiết kế đô thị khu vực Hồ Gươm và phụ cận đều hấp dẫn người xem, bởi có những ý tưởng độc đáo, thú vị để tôn thêm giá trị lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ vốn có được nâng lên tầm cao mới, xứng với tầm vóc là trái tim của Thủ đô. Các phương án đều cố gắng tìm giải pháp mở rộng không gian, tạo thêm đất để dành cho công trình công cộng, trồng thêm nhiều cây xanh nhằm bổ sung những cảnh quan thêm phong phú, đáp ứng với yêu cầu sinh hoạt văn hóa, nghỉ ngơi, lễ hội và phát triển du lịch cũng như bảo tồn di sản văn hóa - kiến trúc vốn có từ lâu đời.
  • Ảnh bên : Phối cảnh nối thẳng từ Nhà Thờ ra Hồ Gươm

Phần lớn các phương án đều mở rộng không gian từ Nhà thờ Lớn đâm thẳng ra Hồ Gươm, gắn với cây đa cổ nhất, đẹp nhất Hà Nội, tạo thành dải cây xanh kéo dài ở phía Tây hồ, tạo sự thông thoáng chung cho khu dân cư phố cổ. Một khu đất nữa cũng được tác động nhiều, đó là khu điện lực EVN ở phía Đông của hồ. Với lô đất này hầu như phương án nào cũng tác động đến không ít thì nhiều và chức năng cũng khác nhau.
Phương án của Công ty 1+1>2 Group (ảnh bên) sử dụng làm khu sân khấu ngoài trời, sân khấu có mái che theo xu hướng kiến trúc sinh thái, tạo thành một thảm xanh rộng từ đền Ngọc Sơn trải ra. Phương án này hầu như giữ lại toàn bộ những công trình đã ổn định và trở nên quen thuộc với người Hà Nội, không xây công trình mới mà chỉ cải tạo cho sạch đẹp hơn.

Phương án của Công ty THHH Archetype Việt Nam lại kết hợp khu đất EVN và Khu đất của UBND thành phố Hà Nội tạo thành một khối kiến trúc dày đặc theo kiểu cài răng lược nên rất nặng nề. Tháp Thiên niên kỷ tuy có hình khối kiến trúc lạ, song đặt ở vị trí chật hẹp ở phía Bắc hồ, rất hạn chế tầm nhìn.

Phương án của Công ty Nikken Sekkei Civil (Nhật) lại lặp thêm dãy phố cổ khu từ trụ sở UBND thành phố Hà Nội qua EVN đến Lò Sũ với chiều dài qua lớn, nên có cảm giác xa lạ. Phá nhiều và làm mới quá nhiều nên dễ làm cho cảnh quan Hồ Gươm lạ lẫm, có những quãng dài đi trên "Bờ Hồ" mà không phải Bờ Hồ!
 
Phương án của Công ty THHH Archetype Việt Nam (trái) / Phương án của Công ty Nikken Sekkei Civil (phải)

Phương án Công ty TNHH Kiến trúc NQH ngoài khu cây đa, trụ sở báo Nhân Dân tạo thành Trung tâm VHTT và sân khấu ngoài trời, thì phần lớn giữ nguyên, trừ khu EVN xây dựng dày đặc quá mức.

Phương án Công ty TNHH Kiến trúc NQH - Ảnh: Ashui.com
Có phương án thiên về khai thác các công trình công cộng, công trình văn hóa, lịch sử, truyền thống, cây xanh... tạo nên môi trường cảnh quan tốt, song phá mất hiện trạng quá nhiều, cả vạt nhà phía Đông, phía Tây - Bắc và phía Bắc (Phương án của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng CDCC) mất đi, rất tốn kém.

Phương án của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng CDCC - Ảnh: Ashui.com
Trên đây chỉ đảo qua một số nét chính của mấy phương án của cá nhân tôi. Tất cả còn chờ ý kiến của Hội đồng Giám khảo và nhân dân.

4 tiêu chí

Ông Nguyễn Tấn Vạn, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam (ảnh bên - Nguồn: Ashui.com) cho biết các đồ án ít nhất phải đáp ứng 4 tiêu chí cơ bản. Một là: cách đối xử với khu vực hồ như thế nào, cách tôn trọng cảnh quan, công trình văn hóa lịch sử ra sao; Hai là: khai thác và sử dụng không gian đó có thích ứng với cuộc sống hiện đại hay không; vì sao giữ hoặc (bỏ) nhưng công trình mà đơn vị thiết kế cho là phù hợp; Ba là: biết sử dụng không gian đó cho du lịch; Bốn là: thiết kế giao thông động và giao thông tĩnh.
Từ ngày 16 đến ngày 18/1 tới, Hội đồng giám khảo sẽ họp và các tác giả ý tưởng sẽ trình bày và trả lời chất vấn trực tiếp của Hội đồng. Ông Nguyễn Tấn Vạn khẳng định: Các thành viên Hội đồng giám khảo sẽ lắng nghe qua đó phát hiện ra những đề xuất sáng tạo, chứ không có chuyện “anh nào giống ý tưởng của tôi, tôi chọn”.

Hải Diệp - KTS Đoàn Đức Thành
FORUM ] 

01/07/2009 Về mạng lưới chợ Hà Nội xưa và nay


THỨ TƯ, 01 THÁNG 7 2009 14:18 NGUYỄN VINH PHÚC


Hà Nội xưa gọi là Kẻ Chợ, có nghĩa là vào thời đó Hà Nội – chính tên là Thăng Long – là nới hội tụ các ngành nghề, là nơi họp chợ, đáp ứng nhu cầu của Kinh đô là thị trường to nhất nước ta ngày ấy. Mà chợ Thăng Long thì bao gồm một mạng lưới thương nghiệp lớn nhỏ rải rác khắp đô thanh. Mật độ chợ dày đặc nhất là chốn mà nay ta gọi “khu phố cổ”. Chợ ở Hà Nội cổ đã xuất hiện từ rất sớm. Năm 1035, Vua nhà Lý “mở chợ Tây nhai với hành lang dài” (ở vào quãng chợ Ngọc Hà). Cũng thời gian nay, “Vua Thái Tông cho mở chợ về Cửa Đông (quãng phố Hàng Buồm ngày nay), hàng quán chen chúc sát đến bên đền Bạch Mã, rất huyên náo”.

Chợ Đồng Xuân 
Trong thế kỷ XVII – XVIII, mạng lưới chợ ở Thăng Long đã phát triển mạnh mẽ. Vì là nơi đô hội, tụ tập đông người, có nhiều phố xá nên mật độ các chợ ở đây dầy đặc hơn ở các nơi khác, nhất là tại khu 36 phố phường buôn bán tập trung. Riêng các chợ lớn ở Thăng Long có nộp thuws da trâu, Phan Huy Chú đã kể ra 8 chợ. Đó là các “chợ Cửa Đông, chợ Cửa Nam, chợ Huyện, chợ Đình Ngang, chợ Bà Đá, chợ Văn Cử, chợ Bác Cử và chợ Ong Nước”. Đến thế kỷ XIX, Đại Nam thống nhất chí ghi thêm các chợ Mới (quãng phố Hàng Chiếu), chợ Đông Thành (quãng phố Hàng Vải – hàng Gà), chợ Yên Thọ (Ô Cầu Dền), chợ Yên Thái (Bưởi).
Địa điểm họp chợ - cũng như ở các địa phương khác, các chợ ở Thăng Long – Hà Nội thường được lập nên ở những nơi công cộng, thuận tiện cho việc giao thông đi lại, trao đổi buôn bán, nhìn chung chợ thường được họp ở các cửa ô, cửa thành và bờ sông, bờ kênh.
Cửa ô là nơi dân chúng thuộc các làng xã phụ cận mang hàng hóa vào Kinh thành trao đổi với khối dân chúng nội thị.
Cửa thành là nơi ra vào, trao đổi thường xuyên giữa khối quan liêu – quân sĩ trong hoàng thành và khối bình dân ngoài phố xá. Hàng ngày, các gia nhân, nha lại của vua quan đã ra ngoài thành mua sắm một khối lượng lớn các thức ăn, vật phẩm cần thiêt. Vì thế chính ở cạnh các của thành, đã sớm xuất hiện các khu chợ đông đúc, sầm uất. Chợ Cửa thành xưa nhất của Thăng Long có khả năng là chợ Cửa Tây, thành lập từ đời Lý. Chợ Cửa Đông cũng là một chợ cổ và sầm uất, vì cửa Đông Môn (thời Lý Trần là của Đông Hoa) trực tiếp ăn thông ra khu vực buôn bán của Kinh thành (ở vào quãng Hàng Đường – Hàng Buồm bấy giờ). Thời nhà Nguyễn, Hàng Vải, Hàng Gà có chợ bán thực phẩm có tên là Hàng Gà. Chợ Cửa Nam là một chợ lớn của Thăng Long – Hà Nội, vì Cửa Nam (thời Lê là Cửa Đại Hưng) là nơi ra vào chính của vua chúa, quan lại và “tất cả những ai có việc phải đi đến Hoàng Thành”.

Chợ Cửa Nam 
Hai bên bờ sông Tô Lịch cũng là nơi họp chợ đông đúc, buôn bán tấp nập. Các chợ mọc lên hai bên bờ sông Tô, một số là chợ đặc sản, như các chợ Gạo (đầu cửa sông Tô), chợ Hàng Cá. Chợ cầu Đông (quãng ngã tư Hàng Đường – Chợ Gạo ngày nay) là một chợ bên bờ sông Tô, nổi tiếng của kinh thành, đã đi vào nhiều câu ca dao. Chợ Bạch Mã (tên gọi khác của chợ Cửa Đông) liên sát đó (quãng phố Hàng Buồm ngày nay), họp sát bờ sông Tô, trên bến dưới thuyền, hoạt động buôn bán rất tấp nập, đặc biệt là các phú thương Hoa Kiều.
Phạm Đình Hổ nhớ lại quang cảnh chợ phiên Bạch Mã cuối thể kỷ XVIII: “… Là một chợ buôn bán tấp nập huyên náo. Những quân trộm cắp hay thừa cơ cướp giật, có khi thò tay vào túi người ta móc lấy hết cả. Có khi chúng cố ý làm chợ ồn ào, đổ xô nhau mà chạy để rồi cắp bọc quần áo người ta hoặc khuân đồ vật hàng hóa”. 
Ngoài những nơi kể trên (cửa ô, cửa thành, bờ sông) còn phải kể đến một số lượng lớn các chợ lưu động, không tên của Thăng Long – Hà Nội, ở đó những người buôn bán rong, vặt vãnh, đã dọc theo các đường phố, những ngã ba, ngã tư, những khoảng đất trống, tóm lại là ở tất cả mọi nơi có người qua lại, ngồi bán hàng không cần hàng quán. Đây là cảnh một chợ loại đó và những năm 80 của thế kỷ XIX: “Việc thành lập một cái chợ không tốn kém gì cả, mà chỉ cần đến thời tiết tốt. Người nông dân ngồi ngay xuống đất, trên đường phố, hàng hóa để trong một vuông vải hay trong một cái làn, thậm trí trên đất bụi, nếu như họ không sợ làm hư hỏng loại hàng đó”.
Thời gian họp chợ: ở Thăng Long, việc chợ họp theo chu kỳ có lẽ đã có từ lâu lắm. Trần Cương Trung (sứ Trung Quốc sang Việt Nam đời Trần) đã có nhận xét là: “chợ cứ 2 ngày họp một lần”.
Tuy nhiên, khi xét cụ thể về thời gian họp chợ ở Thăng Long – Hà Nội thì các ý kiến không thống nhất. Dampier cho rằng: “Ở Kẻ Chợ, chợ họp trong tất cả mọi ngày”. Trong khi đó A.Rhodes, Baron, và Marini lại chép là “chợ ở Kẻ Chợ mỗi tháng có 2 phiên” (ngày rằm và mùng một). Còn Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút thì cho rằng ở Kinh kỳ “phiên chợ là các ngày 1, 6, 11, 14, 15, 21, 26, 30” (một tháng 8 phiên).

Phố Hàng Bạc 
Các mặt hàng buôn bán: chợ ở Thăng Long – Hà Nội là một loại chợ lớn trong toàn quốc, cho nên số lượng các mặt hàng buôn bán cũng rất lớn và phong phú. Hầu như tất cả mặt hàng trong và ngoài nước đều bầy bán ở đây.
Hàng nông sản: Do vị trí thuận lợi, đầu mối của các trục giao thông thủy bộ, do mật độ dân cư đông đảo và sự có mặt thường trực của một bộ máy hành chính – quân sự to lớn với những nhu cầu tiêu thụ hàng ngày của nó, một khối lợn nông sản khổng lồ từ các địa phương lân cận đã đổ về các chợ ở Thăng Long – Hà Nội để rồi được bán buôn bán lẻ trực tiếp cho người tiêu thụ. Đó là gạo, nông hải sản, thực phẩm, rau quả…
Hàng thủ công nghiệp: So với các mặt hàng nông sản thì hàng thủ công nghiệp không chỉ bầy bán tại các chợ mà còn bán nhiều tại các phố dành riêng cho từng mặt hàng, như các phố Hàng Đào bán tơ lụa, Hàng Ngang bán xiêm áo, Hàng Bạc bán đồ trang sức, kim hoàn, Hàng Đồng bán đồ đồng, phó Hài Tượng bán giầy dép, phố Bát Sứ bán đồ sứ… Tuy nhiên, đối với quảng đại quần chúng bình dân và nhất là đối với những người nông dân các vùng phụ cận kéo về Kẻ Chợ - Hà Nội trong các ngày phiên chợ thị họ vẫn thích mua trực tiếp các loại hàng đó ở ngay tại chợ, nó tiện lợi và cũng có thể giá rẻ hơn. Trước hết đó là các dụng cụ hàng ngày của người nông dân như cầy cuốc, nối niêu bát đĩa, các loại hàng vải vóc thông dụng mà quần chúng gọi là hàng tấm, các loại thuốc men cần dùng. Một số chợ buôn bán tập trung các mặt hàng đặc sản như chợ Hàng Tơ ở Hàng Đào buôn bán tơ lụa, chợ Bưởi chuyên bán các loại giấy sản xuất ở Yên Thái, Hồ Khẩu.
Phương thức mua bán: ở Việt Nam trung đại, từ lâu chợ vẫn là một nơi trao đổi tiếp xúc toàn diện giữa các cộng đồng người của các vùng lân cận, về các mặt kinh tê, văn hóa, lối sống và thông tin đại chúng. Ở Thăng Long – Hà Nội, chợ không những là một nơi trao đổi và tiếp xúc giữa các tầng lớp người trong phạm vi nội bộ đô thị và chủ yếu là một trung tâm trao đổi tiếp xúc giữa Kẻ Chợ và các vùng phụ cận. Nó là một sự đối ngoại thường trực, toàn diện giữa thành thị và nông thôn.
Nông dân các vùng phụ cận mang sản vật nông nghiệp hoặc thủ công nghiệp của mình vào bán tại các chợ, rồi dùng tiền đó mua sắm một ít các vật dụng cần thiết cho công việc sản xuất vào đời sống hàng ngày. Ở chợ Thăng Long – Hà Nội còn có một loại người buôn bán chuyên nghiệp, bán hàng trong các lều quán dựng sẵn, nhưng phần lớn cũng chỉ là những người buôn bán nhỏ hoặc trung bình.
Đa số những người đi chợ mua bán tại các chợ ở Thăng Long – Hà Nội là giới phụ nữa. Các lái buồn và giáo sĩ phương Tây khi đến Việt Nam đều nhận xét là phụ nữ Việt nam nói chung và phụ nữ Kẻ Chợ nói riêng đã có một “năng khiếu đặc biệt” về buôn bán. Marini đến Kẻ Chợ có nhận xét là: “những người phụ nữ ở đây mải mê với thương mại và họ không ngừng bận rộn về việc bán, mua”. Du khách Trung Quốc Phan Đỉnh Khuê đến Kẻ Chợ năm 1688 thì cho là “việc buôn bán ở Kẻ Chợ bao giờ cũng do giới phụ nữ đảm nhiệm”. Cuối thể kỷ XIX, Dumoutier quan sát tỉ mỉ hơn những phiên chợ ở Hà Nội, thấy là “cứ trong 100 người đi chợ, người ta đếm được 84 người đàn bà con gái”.
  • Ảnh bên : Phương án cải tạo chợ Hàng Da 
Đến thời Pháp thuộc, các chợ vẫn được duy trì, xây dựng cầu chợ hẳn hoi, để gom các chợ nhỏ vào thành một chợ lớn. Như chợ Đồng Xuân làm năm 1896 là gồm các chợ Bạch Mã, chợ Cầu Đông. Chợ Hàng Da và là gom các chợ Hàng Gà, chợ Đông Thành Thị. Chợ Mơ là gom các chợ Yên Thọ (Ô Cầu Dền) chợ Trung Hiện, Chợ Cửa Nam là gom các chợ Cửa Nam, Đình Ngang, Ong Nước… cũng thời này có thêm loại chợ Đuổi. Số là các chợ lớn cứ sẩm tối, là Khán chợ đuổi hết người ra khỏi khuôn việc chợ để khóa cổng. Những người bị đuổi này liền tụ tập ở gần đó. Vả lại dân ngheo cũng nhiều người lúc ấy mới đi làm về, cũng tìm tới chợ Đuổi để mua hàng. Ban đầu họ họp ở đầu Chợ Đuổi (tức phố Tuệ Tĩnh nay) sau do thành phố mở mang, lính cấm dồn  chợ về chỗ ngoại ô Vân Hồ. Ngày nay các chợ cũ vẫn hoạt động, song dân chúng muốn mua bán thuận tiện nên sinh ra các thứ chợ cóc bên vỉa hè, họp chớp nhoáng và buổi tan tầm (có nơi chợ cóc mà họp cả ngày). Chung tôi cho rằng sự tồn tại chợ cóc là một hình ảnh không văn minh, mang tính tiểu nông manh mún. Song giải quyết không dễ, vì những người bán hàng ở đây đại bộ phận là dân nghèo ngoại ô, triệt để phá chợ cóc thì ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của họ (thực tế là thành phố đã nhiều phen dẹp chợ cóc song chỉ độ 1, 2 ngày đâu lại hoàn đấy). Lại thêm thời gian của người mua, đa số là công nhân viên, đi làm về, sà vào vỉa hè mua mớ rau, con cá cũng rất tiện, đỡ phải gửi xe lích kích, tốn tiền. Cách ngôn Pháp có câu: La civilisation se voit sur la route (văn minh thể hiện trên đường phố) thì rõ Hà Nội chưa văn minh. Đó là một vấn nạn.
Tôi còn một ý nghĩ nữa về việc cải tạo nâng cao tầng các chợ như Cửa Nam, Hàng Da. Quãng chợ toàn là đương hẹp, phố phường đông đúc quá rồi. Nay các chợ đó thành văn phòng, siêu thị, xe cộ ra vào rầm rập suốt ngày thì ở ngã tư Nguyễn Khuyến – Lê Duẩn – Hai Bà Trưng – Cửa Nam sự đi lại sẽ ra sao? Cả ngã tư Nguyễn Quang Bích – Đường Thành – Hàng Da cũng ăm ắp ô tô ra vào siêu thị văn phòng và cả vào chợ Hàng Da mới thì giao thông sẽ ra sao? Tôi chưa hình dung nổi.
Nguyễn Vinh Phúc 
(Bài tham luận tại Hội thảo "Hà Nội : thành phố thân thiện và sống tốt cho cộng đồng" (Hanoi : a Livable City for all) diễn ra trong hai ngày 1-2/7/2009) 

29/10/2010 Dự án xóa nhà trên kênh rạch ở TP.HCM chậm tiến độ vì vắng bóng nhà đầu tư


THỨ SÁU, 29 THÁNG 1 2010 10:06 PHÁP LUẬT TPHCM

Các dự án không thu hút được nhà đầu tư do TP.HCM chưa có chính sách hỗ trợ cụ thể. Một nhà đầu tư đã “rút quân” khi thấy rằng nếu tham gia dự án xóa nhà ven kênh thì phải... 80 năm nữa mới có lời.

Giữa năm 2006, TP.HCM đề ra kế hoạch di dời và tái định cư 15.000 hộ dân sống ven và trên kênh rạch. Đến nay kế hoạch này đã bước sang năm thứ tư nhưng việc triển khai vẫn gần như giậm chân tại chỗ.

Tiến độ di dời quá chậm

Với số lượng 10.600 căn, quận 8 là quận có số lượng nhà ven và trên kênh rạch đứng đầu TP.HCM Trong kế hoạch chỉnh trang đô thị giai đoạn 2008-2020, quận sẽ xóa sổ toàn bộ số nhà này. Trong đó, giai đoạn 2008-2010 giải tỏa 2.600 căn trên rạch Ụ Cây và bờ đông rạch Xóm Củi; giai đoạn 2010-2012 giải tỏa tiếp 2.500 căn ven các tuyến kênh Đôi, Ông Lớn, Tàu Hủ…
  • Ảnh bên : TP.HCM vẫn còn hàng ngàn căn nhà tạm trên và ven kênh rạch (Ảnh: H.TR.)
Tuy nhiên, đến nay kế hoạch trên của quận 8 vẫn chưa có chuyển biến đáng kể. Chuyển động mới nhất là vào cuối tháng 12-2009, theo chỉ đạo của UBND TP.HCM, Sở Xây dựng phối hợp UBND quận và Tổng công ty Địa ốc Sài Gòn lên phương án di dời 953 hộ tại rạch Ụ Cây. Các hộ đủ điều kiện tái định cư sẽ chuyển đến chung cư Tân Mỹ (quận 7), còn các hộ không đủ điều kiện được thuê nhà tại chung cư C1-C4 An Sương (quận 12). Ngày 22-1, các hộ này đã nhận được quyết định thu hồi đất của UBND quận 8.

Chậm nhất đến ngày 30-4, quận sẽ di dời xong 953 trên tổng số hơn 2.000 căn hộ trong dự án rạch Ụ Cây thuộc địa bàn các phường 9, 10, 11. Số còn lại sẽ được di dời trong giai đoạn hai, từ 2010 đến 2015” - ông Trương Hạ Long, Trưởng phòng Quản lý đô thị quận 8, cho biết.

Tình hình di dời nhà ven và trên kênh rạch tại quận Bình Thạnh cũng không khá hơn quận 8. Ông Dương Hồng Thắng, Phó phòng Quản lý đô thị quận Bình Thạnh, nói: “Bình Thạnh mới chỉ di dời được 235 hộ thuộc dự án cải tạo hệ thống thoát nước rạch Phan Văn Hân và dự án chống sạt lở kênh Thanh Đa, đạt 8% kế hoạch”. Trong khi đó, theo kế hoạch thì đến cuối năm 2010 quận phải di dời xong hơn 3.000 hộ ven và trên kênh rạch.

Nhà đầu tư “ngó lơ”
Nên sớm có chính sách thu hút đầu tư

Nếu muốn đẩy nhanh tiến độ di dời, TP.HCM nên sớm ban hành chính sách cụ thể sao cho các nhà đầu tư thấy được sự an toàn và lợi ích khi đầu tư vào các dự án xã hội hóa như thế này

Ông Dương Hồng Thắng, Phó phòng Quản lý đô thị quận Bình Thạnh  
Nguyên nhân chính khiến dự án di dời, giải tỏa nhà ven và trên kênh rạch của TP.HCM chậm tiến độ là do thiếu vốn. Ban đầu thành phố cấp ngân sách để thực hiện các dự án, đến năm 2008, thành phố cắt nguồn vốn ngân sách và chủ trương xã hội hóa các dự án này. Tuy nhiên, thành phố lại quá chậm chạp trong việc ban hành chính sách cụ thể để khuyến khích các chủ đầu tư tham gia thực hiện dự án.

Chủ trương xã hội hóa các dự án chỉnh trang đô thị của TP.HCM là đúng đắn. Tuy nhiên, khó khăn xuất hiện là vì các chủ đầu tư nhận thấy không có hiệu quả về kinh tế. Chi phí giải phóng mặt bằng rất lớn trong khi TP.HCM lại chưa có chính sách hỗ trợ cụ thể cho nhà đầu tư nên họ ngại ngần tham gia các dự án dạng này cũng là điều dễ hiểu” - ông Thắng nhận định.

Tuy nhiên, nếu nói các nhà đầu tư hoàn toàn không thiết tha với các dự án chỉnh trang đô thị trên địa bàn TP.HCM cũng chưa hẳn đúng.

Theo báo cáo của các quận, đã có một số nhà đầu tư đề xuất xây dựng công trình này, công trình kia nhưng cuối cùng đành phải bỏ cuộc chỉ vì TP.HCM chưa có phương án hỗ trợ cụ thể.

Theo ông Long, tại quận 8 có một nhà đầu tư đã kiên nhẫn theo dự án xóa nhà ven và trên kênh rạch gần ba năm trời. Tuy nhiên, sau khi tính toán kỹ, thấy rằng nếu đầu tư dự án thì phải gần 80 năm sau mới có lời, nhà đầu tư này đã nhanh chóng “rút quân”.

>> TPHCM: Khó giải tỏa nhà ven kênh 

09/07/2009 Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng: Nguy cơ biến thành… phố


THỨ NĂM, 09 THÁNG 7 2009 11:21 BAOXAYDUNG.VN

Theo thiết kế, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (còn gọi là QL5B) sẽ là con đường hiện đại mang tầm cỡ quốc tế, khắc phục được những hạn chế của QL5A hiện nay. Tuy nhiên, dự án vừa mới khởi công thì  quy hoạch phát triển công nghiệp hai bên đường đoạn qua tỉnh Hưng Yên đã được lấp kín. Rất có thể QL5B cũng sẽ lặp lại vết xe đổ của QL5A, nghĩa là đường cao tốc bị biến thành… phố.

QL5B đoạn đi qua tỉnh Hưng Yên có chiều dài 26km. Theo quy hoạch ban đầu của tỉnh Hưng Yên, ngoại trừ 450ha đất dành cho phát triển công nghiệp có từ trước ở xã Vĩnh Khúc, huyện Văn Giang là nằm ven QL5B, phần còn lại hầu hết đều đi qua các cánh đồng của 2 huyện Yên Mỹ và Ân Thi. Nghĩa là đất dành cho thi công đường là đất “sạch, không vướng vào các KCN hay công trình công cộng phục vụ dân sinh nào. Thế nhưng thực tế hiện nay, quy hoạch 2 bên QL5B đoạn qua tỉnh Hưng Yên đã gần như kín. Tỉnh đã dành ra khoảng 2.000ha đất để phát triển thêm 7 khu, cụm công nghiệp dọc theo đoạn đường như ở huyện Yên Mỹ cụm xã Trung Hưng 200ha, xã Lý Thường Kiệt 400ha. Ở huyện Ân Thi, xã Tân Phúc 300ha, xã Bãi Sậy 450ha. Hay như ở huyện Khoái Châu, xã Tân Dân 200ha, xã Dân Tiến 250ha… Điều đáng nói là trong bản quy hoạch trên có những cụm công nghiệp bám sát QL5B như cụm các xã Tân Dân, Lý Thường Kiệt, Bãi Sậy, Tân Phúc.
Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó giám đốc Sở Xây dựng Hưng Yên thì việc xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng sẽ tạo điều kiện cho giao thông đi lại thuận lợi và thu hút đầu tư vào địa bàn, thúc đẩy phát triển KT-XH, nên rất nhiều DN có nguyện vọng muốn được đầu tư xây dựng ven QL5B.

Trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Thanh Quán, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên cho biết: Việc tỉnh Hưng Yên dành khoảng 2.000ha đất để phát triển công nghiệp cho chủ đầu tư dọc QL5B là nằm trong chủ trương chung, tỉnh Hưng Yên không tự ý làm. Thêm nữa, các DN đều có nguyện vọng muốn được đầu tư ven con đường này nên tỉnh cũng phải tạo điều kiện.

Nếu các khu, cụm công nghiệp trên đi vào hoạt động, chắc chắn sẽ thu hút hàng chục nghìn lao động đến sinh sống và làm việc. Nhu cầu nhà ở, đi lại, vận chuyển cũng theo đó mà tăng lên. Chưa kể đến các dịch vụ văn hóa, vui chơi giải trí, hạ tầng cơ sở… việc mở thêm đường ngang ngõ tắt phục vụ đi lại cho DN và người dân là khó tránh khỏi. Nếu DN và người dân nào cũng muốn bám đường thì không những gây mất trật tự an toàn giao thông mà chẳng mấy chốc QL5B sẽ biến thành… phố. Nếu không có quy hoạch giao thông riêng biệt với tuyến đường cao tốc này ở các khu, cụm công nghiệp thì chắc chắn, QL5B sẽ đi theo vết xe đổ của QL5A. Và như thế, quy hoạch ban đầu của tuyến cao tốc này không chỉ bị phá vỡ. Một chuyên gia trong lĩnh vực này nhận định: Việc cấp đất cho phát triển công nghiệp phải theo quy hoạch và theo kế hoạch sử dụng đất. Nếu tỉnh nào cũng “chiều” nhà đầu tư, cấp đất ven đường cao tốc để phát triển công nghiệp, thì sẽ phá vỡ quy hoạch chung của toàn tuyến và khi đó, đường cao tốc sẽ không đáp ứng được các tiêu chí của nó.

Thêm nữa, việc lấy đất nông nghiệp ở những nơi chuyên cấy lúa, trồng rau màu cho năng suất cao, hệ thống thủy lợi đã được đầu tư như ở Hưng Yên có thể gây khó khăn cho nông dân. 2.000ha đất “bờ xôi ruộng mật” là một con số không hề nhỏ đối với một tỉnh mà nông nghiệp vẫn là ngành nghề chính. Và mặc dù các KCN ở Hưng Yên đã tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động, nhưng không có nghĩa nông dân nào mất đất cũng tìm được việc làm mới.

Nếu công tác quy hoạch không tính đến các yếu tố như đã nói ở trên thì rất có thể, mục tiêu xây dựng một tuyến đường cao tốc mang tầm cỡ quốc tế sẽ khó mà đạt được.
Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng dài 105km, là đường cao tốc đầu tiên của Việt Nam xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế. Toàn tuyến có chiều rộng mặt cắt ngang bình quân 100m, mặt đường rộng từ 32,5 - 35m với 6 làn xe chạy theo tốc độ thiết kế lên tới 120km/h, 2 làn dừng xe khẩn cấp, dải phân cách cứng ở giữa, dải cây xanh hai bên cùng với một số đường gom ở những chỗ cần thiết. Các loại xe ôtô có tốc độ thiết kế dưới 60km/giờ và xe máy không được đi vào đường này. Toàn tuyến có 6 điểm giao cắt với các quốc lộ đều liên thông khác mức, ngoài ra còn có các cầu vượt hoặc cống chui đường dân sinh.  

Vân Anh