Showing posts with label BLD. Show all posts
Showing posts with label BLD. Show all posts

Wednesday, December 14, 2011

14/12 Chứng khoán Woori CBV sẽ bị rút giấy phép?

Thứ 4, 14/12/2011, 12:1 


Đại diện Sở Lao động thương binh và xã hội Hà Nội có thể xem xét việc đề nghị UBCK rút giấy phép của Công ty nếu CTCK Woori CBV cố tình không chấp hành quyết định xử lý vi phạm.
Ngày 13/12, Thanh tra Sở Lao động Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH) Hà Nội đã tổ chức cuộc họp về việc thực hiện kết luận thanh tra tại CTCK Woori CBV. Tuy nhiên, đại điện Woori CBV tiếp tục tỏ thái độ không hợp tác, không ký biên bản cuộc họp.

Friday, October 21, 2011

21/10 Ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý


Cập nhật ngày: 21/10/2011

Trong phiên khai mạc Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa XIII hôm nay, 20/10, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trình bày báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế-xã hội năm 2011, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 2012 và 5 năm 2011-1015. Mục tiêu tổng quát của năm 2012 là ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh…
Những quyết sách kịp thời, đúng đắn, được sự ủng hộ của toàn dân  

Friday, September 30, 2011

30/09 “Không có chuyện Hàn Quốc ngừng tiếp nhận lao động Việt”

VŨ QUỲNH
30/09/2011 08:28 (GMT+7)
Hãng Thông tấn AFP ngày 29/9 đã dẫn lời một quan chức của Bộ Lao động Hàn Quốc nói rằng, Hàn Quốc đã tạm ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam. 

Lý do mà vị quan chức này đưa ra chính là do số lượng lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng nhưng không chịu về nước đang ở mức cao. 

Cụ thể, sẽ có hơn 4.100 lao động Việt Nam sang Hàn Quốc lao động từ năm 2004 và 2005 phải về nước trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 8/2011 do hết hạn thị thực. Thế nhưng tính đến nay mới chỉ có khoảng 2.200 lao động về nước. Có nghĩa là gần 50%  lao động Việt Nam bỏ trốn.

Friday, September 23, 2011

23/09 Xuất khẩu lao động: Tìm giải pháp mới cho chuyện cũ

VŨ QUỲNH
23/09/2011 21:36 (GMT+7)
pictureHàn Quốc không phải là thị trường duy nhất có số lượng lao động Việt bỏ trốn dẫn đầu.
Khi thị trường tiếp nhận lao động tiềm năng Hàn Quốc có nguy cơ đóng cửa đối với lao động Việt Nam thì câu chuyện “lao động bỏ trốn” mới được cơ quan quản lý và các địa phương đưa ra bàn thảo. 

Trong khi đó, thực trạng lao động Việt bỏ trốn, sống bất hợp pháp ở nước ngoài là câu chuyện không mới, không chỉ xảy ra với thị trường Hàn Quốc.

Trốn đã thành lệ?

Tuesday, September 20, 2011

20/09 Chỉ 5,7% doanh nghiệp có dịch vụ trông trẻ


▪  NAM ANH
08:47 (GMT+7) - Thứ Ba, 20/9/2011

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quan tâm đang đề nghị nâng mức nghỉ thai sản từ 4 tháng lên 6 tháng và sẽ được quy định rõ trong bộ Luật Lao động sửa đổi.

Tại hội thảo lấy ý kiến về chính sách thai sản 6 tháng trong dự thảo bộ Luật Lao động sửa đổi do Vụ Pháp chế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức ngày 19/9, nhiều ý kiến cho rằng, hiện tại hầu khắp các khu công nghiệp, khu chế xuất trên cả nước, tình trạng không có nhà trẻ khiến nhiều lao động sau khi hết thời gian nghỉ sinh 4 tháng theo qui định hiện hành thì vẫn phải tiếp tục xin nghỉ không lương để ở nhà chăm con.  

Kết quả điều tra của Ban Nữ công Tổng liên đoàn lao động Việt Nam về nghỉ thai sản và nuôi con bằng sữa mẹ của lao động nữ tại một số khu công nghiệp lớn, sử dụng nhiều lao động nữ của 12 tỉnh, thành phố trên cả nước cũng cho thấy, hiện mới có 5,7% doanh nghiệp có dịch vụ trông trẻ, nhưng 97,2% không nhận trông trẻ dưới 4 tháng tuổi… 

Theo bà Nguyễn Thu Hồng, Phó ban Nữ công, trong khi mức thu nhập của công nhân còn thấp thì việc thiếu chỗ gửi trẻ, thiếu người trông trẻ, đặc biệt là khoản tiền để gửi con chính là áp lực dồn lên họ sau khi sinh con. 

Bà Hồng cho rằng, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng lao động nữ ở nhiều khu công nghiệp không trở lại làm việc sau thời gian nghỉ sinh.

Tại thôn Bầu, xã Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội, nơi có khu công nghiệp Thăng Long với hàng trăm doanh nghiệp lớn nhưng công nhân nơi đây cho biết, kiếm được một nhà trẻ để gửi con với họ là cực kỳ khó khăn. 

Giải pháp mà lao động ở đây lựa chọn là phải đón người nhà ở quê lên làm “ô sin” bất đắc dĩ, đợi cho đứa bé cứng cáp hơn một chút sẽ gửi về quê nhờ ông bà nuôi.

Tại Hưng Yên, đại diện Tổng công ty May Hưng Yên, đơn vị đang sử dụng 12.000 lao động, trong đó 70% là lao động nữ cũng đã nêu thực trạng lao động nữ thường nghỉ 5 tháng sau khi sinh con, nhưng sau đó vẫn phải xin nghỉ thêm không lương. 

Khảo sát của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cho thấy, trong thời gian nghỉ thai sản, có 81,5% nữ công nhân lao động được hưởng lương hoặc bảo hiểm xã hội từ 4 đến 5 tháng; Tuy nhiên, mức lương trong thời gian nghỉ thai sản còn quá thấp, chỉ từ 700 nghìn đồng đến 1, 2 triệu đồng/tháng. Vẫn còn 9% không được doanh nghiệp trả lương và bảo hiểm xã hội. 

Trong khi đó, Quỹ Bảo hiểm xã hội chế độ ốm đau, thai sản số hiện vẫn còn dư trên 7.100 tỷ đồng. 

Ông  Nguyễn Hùng Cường, Phó trưởng ban thực hiện chính sách, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ năm 2007 đến 2010, quỹ ốm đau và thai sản do người sử dụng lao động đóng bằng 3% quỹ lương đã thu được hơn 19,8 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, số tiền chi cho chế độ ốm đau, thai sản và dưỡng sức chỉ đạt 68,07%, trong đó chi cho trợ cấp sinh con và nuôi con chiếm 46%. Như vậy, số tiền dư quỹ đến cuối năm 2010 (kể cả lãi đầu tư) còn hơn 7,1 nghìn tỷ đồng, chiếm đến hơn 30%. 

Bảo hiểm xã hội Việt Nam tính toán, nếu giữ nguyên mức hưởng các chế độ thai sản theo quy định hiện hành, thì khi tăng thời gian thai sản lên 6 tháng, số tiền chi trả trợ cấp ốm đau và thai sản cũng chỉ đạt ở mức hơn 85% và đến năm 2030 số chi bằng 92% số thu. Như vậy, quỹ dự phòng vẫn còn 8%, quỹ vẫn đảm bảo ở mức an toàn. 

Vì vậy, cùng với việc đồng tình nâng chế độ thai sản lên 6 tháng, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng kiến nghị không tăng mức đóng của doanh nghiệp, nhưng tăng quyền lợi hưởng chế độ ốm đau, thai sản của người tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm cải thiện đời sống cho lao động nữ. 

Friday, July 8, 2011

08/07 Tranh cãi về bốn chủ đề bức xúc trong bình đẳng giới

Friday, June 3, 2011

16/05 Người Việt tại xưởng may “đen” ở Nga: Giải mã hành trình


picture
Người lao động Việt trong xưởng may "đen" tại Nga phải làm việc đến 15 giờ một ngày - Ảnh: TL.
▪  VŨ QUỲNH
13:30 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/5/2011

Lao động Việt Nam tại các xưởng may “đen” ở Nga chủ yếu là đi bằng visa du lịch rồi trốn ở lại. Với những trường hợp này, Cục Quản lý lao động ngoài nước không thể kiểm soát được.Đây là điều được ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) nhấn mạnh khi trao đổi với VnEconomy, sau khi bài viết “Chuyện khó tin về lao động Việt tại Nga” dẫn nguồn tin từ Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga cho biết hàng chục nghìn lao động Việt đã và đang bị bóc lột thậm tệ tại các xưởng may “đen” tại nước này.

Tình hình này đã được báo cáo với các cơ quan chức năng Việt Nam từ năm 2008, nhưng theo ghi nhận từ chuyến công tác của Ủy ban Kinh tế Quốc hội hồi tháng Tư năm nay thì thực trạng “khổ sai” của hàng chục nghìn lao động Việt Nam dường như vẫn chưa được cải thiện.

Mặc dù Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga đã có những động thái, không ngoại trừ cả những cuộc gặp với những chủ xí nghiệp may “đen”, để tìm cách hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro cho lao động Việt.

Còn theo ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, từ năm 2009 đến nay, sau hàng loạt “sự cố” xảy ra với người lao động tại thị trường Nga như phải sống vạ vật, làm việc không được trả lương tại các xưởng may… các doanh nghiệp khai thác thị trường này không còn đưa lao động may sang nữa. Một số hợp đồng mà Cục thẩm định gần đây chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng, ông Quỳnh cho biết.

Trong khi đó, báo cáo của Ban công tác cộng đồng - Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga vẫn nhận định, trong năm 2010, số lượng các xí nghiệp may “đen” ngày càng tăng, câu kết với những phần tử biến chất trong bộ máy chính quyền địa phương lừa gạt người lao động từ Việt Nam sang ngày càng nhiều.

Theo như khẳng định của ông Quỳnh thì lao động Việt Nam tại các xưởng may “đen” ở Nga chủ yếu là đi bằng visa du lịch rồi trốn ở lại. Với những trường hợp này, Cục Quản lý lao động ngoài nước không thể kiểm soát được.

Còn theo Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga thì công nhân Việt Nam được đưa sang Nga lao động khi những đơn vị có nhu cầu sử dụng lao động đặt hàng những công ty có thể xin được hạn ngạch nhận lao động của cơ quan Di trú và cơ quan Việc làm Liên bang Nga.

Những công ty dịch vụ này sau khi xin được chỉ tiêu sẽ đặt hàng các công ty tuyển dụng lao động trong nước để những công ty này tuyển người.

Khi những công ty trong nước tuyển người xong, làm các thủ tục xin visa, xuất cảnh, mua vé máy bay và liên hệ với một công ty làm dịch vụ đưa đón tại sân bay Moskva.

Những công ty làm dịch vụ đón người tại sân bay sẽ đưa những công nhân này về những công ty xí nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động trong đó có cả các công ty, xí nghiệp hợp pháp và không hợp pháp (mà số người này đa số là về các xí nghiệp may không hợp pháp) vì phần lớn các công ty may hợp pháp đều có chỉ tiêu nhận lao động hàng năm và vì vậy họ tự làm trực tiếp với công ty trong nước mà không cần qua công ty trung gian.

“Tình trạng nêu trên đã dẫn đến những hậu quả xấu trong sử dụng lao động, đó là người lao động khi nhập cảnh vào Nga là hợp pháp nhưng khi đi về nơi lao động thì đã trở thành không hợp pháp”, báo cáo của Đại sứ quán nêu rõ.

Từ tình hình thực tế này, từ năm 2008,  Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga đã kiến nghị với các cơ quan trong nước tạm thời đình chỉ việc đưa lao động Việt Nam sang Liên bang Nga đối với những công ty tư nhân không có chức năng xuất khẩu lao động ra nước ngoài, kể cả việc sang lao động tự do như hiện nay.

Đồng thời, kiểm tra, rà soát tất cả những công ty, kể cả công ty nhà nước đưa người lao động sang Liên bang Nga không đúng quy định, để có hình thức xử lý thích đáng với những công ty hoạt động trái phép, có các hình thức đền bù bắt buộc cho những người đã bị lừa đưa đi lao động tại Nga (mà số lượng hiện nay lên đến hàng chục nghìn người).

Đối với những công ty nhà nước có chức năng xuất khẩu lao động thì phải có hợp đồng với các đối tác Nga, thông qua Cục quản lý lao động ngoài nước của Bộ Lao đông và thương binh xã hội, sau đó thông qua sự thẩm định của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga. Khi có đủ điều kiện về chỗ làm, ăn ở, sinh hoạt cho người lao động mới cho người lao động sang làm việc. 

“Làm được như vậy, mới có thể quản lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động”, Đại sứ quán nhấn mạnh.

Ngày 9/5/2011, trả lời câu hỏi của VnEconomy về việc cả nước hiện có bao nhiêu doanh nghiệp được phép đưa lao động sang Nga, và Cục Quản lý lao động ngoài nước có nắm được cụ thể số lượng lao động đang làm việc tại Nga cũng như các đơn hàng và những hợp đồng mà những doanh nghiệp dịch vụ trong nước đã ký với đổi tác hay không, ông Quỳnh nói: “Cái này thì chúng tôi cần thời gian để tổng hợp”.

Còn theo một nguồn tin của VnEconomy thì “các đơn hàng được thực hiện tại thị trường Nga phần lớn được thực hiện thông qua người nhà sinh sống tại nước này. Doanh nghiệp và cơ quan quản lý cũng không có “điều kiện” để “mục sở thị”.

Tại một số bản báo cáo được phát hành từ 2008 đến nay, dù không né tránh tình trạng “nô lệ lao động”, song Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga vẫn đánh giá, nước này vẫn là thị trường xuất khẩu lao động tiềm năng của Việt Nam, nếu việc đưa công nhân Việt Nam sang Nga đi theo con đường có tổ chức.

“Hiệp định về lao động giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã được ký kết hồi tháng 10/2008, là nền tảng vững chắc cho việc phát triển thị trường lao động giữa Việt Nam và Liên bang Nga. Việc này sẽ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động nhàn rỗi của những thành phố lớn và các vùng nông thôn đang khan hiếm việc làm của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, văn bản của Đại sứ quán nêu rõ.

Tuy nhiên, theo ông Đào Công Hải, Phó cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, với những nước nào mà GDP đầu người dưới 10.000 USD, số lượng lao động bản địa thất nghiệp còn cao, thì rủi ro cho lao động sẽ lớn hơn. 

“Quan điểm của tôi là, tốt nhất là không nên đưa lao động của mình sang Nga làm việc”, ông Hải nhấn mạnh.

31/05 Cả nước đang có hơn 4,6 triệu hộ nghèo và cận nghèo


picture
Điện Biên là tỉnh có số hộ nghèo cao nhất nước, chiếm trên 50%.
▪  VŨ QUỲNH
08:39 (GMT+7) - Thứ Ba, 31/5/2011

Sáng 30/5, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chức công bố kết quả tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc năm 2010 theo chuẩn nghèo mới.

Theo đó, tổng số hộ nghèo cả nước là 3.055.566 hộ, hộ cận nghèo là 1.612.381 hộ (theo mức chuẩn nghèo mới, thu nhập của hộ gia đình nghèo là 400.000 đồng trở xuống ở nông thôn và 500.000 đồng trở xuống ở thành thị).

Theo kết quả điều tra, Đông Bắc là khu vực có số hộ nghèo lớn nhất cả nước, gồm 581.560 hộ, chiếm 19,3%; tiếp theo là khu vực Khu 4 cũ có 578.007 hộ, chiếm 18,92%.  Đông Nam Bộ là khu vực có hộ nghèo ít nhất, chỉ 77.802 hộ, chiếm 2,55%.

Trong tổng số 63 tỉnh, thành phố, Điện Biên là tỉnh có số hộ nghèo cao nhất nước, chiếm trên 50%; 3 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ trên 40% đến dưới 50% là Lai Châu, Lào Cai và Hà Giang.

5 tỉnh, thành phố tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% là Tp. HCM (0,01%),  Bình Dương (0,05%),  Đồng Nai (1,45%),  Bà Rịa- Vũng Tàu (4,35%) và Hà Nội (4,97%). Đây là những địa phương đã ban hành chuẩn nghèo riêng, cao hơn chuẩn nghèo quốc gia.

Kết quả điều tra cũng cho thấy, hiện cả nước vẫn còn 81 huyện nghèo thuộc 25 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%. 

Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Nguyễn Trọng Đàm cho biết, kết quả tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc là cơ sở thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội trong giai đoạn 2011-2015. 

Hàng năm, trên cơ sở kết quả điều tra mức sống hộ gia đình, Tổng cục Thống kê sẽ công bố tỷ lệ hộ nghèo của cả nước và từng địa phương, làm cơ sở hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, xã hội và phân bổ nguồn lực từ ngân sách Trung ương cho các địa phương.

“Đặc biệt, thành tựu giảm nghèo của Việt nam thời gian qua được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm 2010”, ông Đàm nhấn mạnh.

Tuesday, May 31, 2011

31/05 Còn hơn 3 triệu hộ nghèo


Thứ Ba, 31/05/2011, 08:03 (GMT+7)
TT - Số hộ nghèo và cận nghèo đã giảm đi theo kết quả tổng điều tra về hộ nghèo và cận nghèo năm 2010 vừa được Bộ Lao động - thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH) cùng các bộ ngành liên quan và tổ chức quốc tế công bố ngày 30-5.
Trong khi đó, theo các chuyên gia, nếu chuẩn nghèo được tính vào đúng thời điểm lạm phát tăng cao mà chưa tính đến yếu tố trượt giá thì không đảm bảo tính thực tế.
Tỉ lệ hộ nghèo ở các vùng trong nước
Đồ họa: V.Cường - Ảnh: Châu Anh
Tỉ lệ hộ nghèo giảm 14,2%
Ông Ngô Trường Thi, phó cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội kiêm chánh văn phòng giảm nghèo (Bộ LĐ-TB&XH), cho biết theo chuẩn nghèo cũ, tỉ lệ hộ nghèo năm 2005 là 22% và cuối năm 2010 là 9,45%.  Theo con số vừa được công bố, VN hiện có 3.055.566 hộ nghèo (14,2%) và 1.612.381 hộ cận nghèo (7,53%)... Khu vực Tây Bắc vẫn là nơi có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất, trên 39% hộ nghèo.
Ngoài ra, có bốn địa phương có tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn rất cao, trên 40% là Điện Biên (50,01%), Lai Châu (trên 46%), Lào Cai (43%), Hà Giang (41,8%). Ngược lại có năm địa phương có tỉ lệ hộ nghèo dưới 5% là TP.HCM (0,01%), Bình Dương (0,05%), Đồng Nai (1,45%), Bà Rịa - Vũng Tàu (4,35%) và Hà Nội (4,97%). Có 32 tỉnh, TP tỉ lệ hộ nghèo dao động từ 5% đến dưới 20%...
Đến năm 2020, thu nhập bình quân hộ nghèo tăng 3,5 lần
Mục tiêu giảm nghèo của Chính phủ đến năm 2020: thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng 3,5 lần; tỉ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm, riêng các xã nghèo, huyện nghèo phải giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn. Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là về y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở. Người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới...
Trao đổi với Tuổi Trẻ, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Nguyễn Trọng Đàm cho biết kết quả tổng điều tra này chỉ căn cứ trên mức thu nhập của người dân tại thời điểm điều tra theo chuẩn nghèo mới của Chính phủ (thu nhập dưới 400.000 đồng/người/tháng đối với vùng nông thôn và dưới 500.000 đồng/người/tháng với khu vực thành thị). Do tình hình lạm phát tăng, giá cả leo thang nên sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến hộ nghèo.
Nhưng trong thời gian ngắn, không thể điều chỉnh chuẩn nghèo, nên chuẩn nghèo và tỉ lệ hộ nghèo vừa được công bố sẽ là cơ sở để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và các chính sách kinh tế - xã hội khác. Để thực hiện tốt hơn các chính sách giảm nghèo, ông Đàm khẳng định việc rà soát, điều tra, tổng hợp tỉ lệ hộ nghèo sẽ được cơ quan này cùng các địa phương, Tổng cục Thống kê thực hiện hằng năm.
“Sáu chính sách chung”
Cùng với kết quả điều tra hộ nghèo, Chính phủ đã có nghị quyết về định hướng giảm nghèo bền vững cho giai đoạn 2011-2020. Theo định hướng, giảm nghèo bền vững là một phần trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 nhằm cải thiện, từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Từ đó tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.
Ông Ngô Trường Thi cho biết định hướng giảm nghèo của Chính phủ sẽ tập trung vào đối tượng người nghèo, nhưng sẽ ưu tiên người nghèo là người dân tộc thiểu số, người cao tuổi, khuyết tật, phụ nữ và trẻ em. Địa bàn tập trung sẽ là các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển, hải đảo...
Trao đổi với báo chí về chính sách mới của Chính phủ, đại diện lãnh đạo Bộ LĐ-TB&XH, Ủy ban Dân tộc, Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội đều tán thành, ủng hộ chủ trương của Chính phủ với giải pháp cụ thể là “sáu chính sách chung, ba chính sách đặc thù”. Sáu chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung là: hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo; hỗ trợ về giáo dục và đào tạo; hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng; hỗ trợ nhà ở; hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý và hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa thông tin.
Đặc biệt sẽ có chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù để hộ nghèo, người nghèo dân tộc thiểu số, người nghèo sinh sống ở huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được hưởng các chính sách ưu tiên như: tăng cường đầu tư, ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng các huyện, xã nghèo.
Phát biểu tại lễ công bố, ông Hà Hùng - phó chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc - cho rằng nghị quyết mới đã có những đột phá, rõ ràng và cụ thể hơn với cách tiếp cận và xử lý “đa chiều”, bền vững. “Việc xóa đói giảm nghèo không chỉ nằm ở vấn đề thu nhập mà tới đây nếu người dân có mức thu nhập vượt chuẩn nghèo nhưng hạ tầng cơ sở, giáo dục, dịch vụ xã hội ở địa bàn đó vẫn chưa vượt chuẩn thì người dân, hộ dân đó vẫn chưa thể gọi là hết nghèo” - ông Hà Hùng giải thích.
Đại diện Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc tại VN cho rằng điểm đột phá trong định hướng giảm nghèo của VN là tập trung tối đa cho các huyện nghèo, vùng miền núi, biên giới. Định hướng đã chuyển từ các chương trình riêng lẻ, chắp vá sang một hệ thống chính sách giảm nghèo mang tính thường xuyên và toàn diện hơn. Đặc biệt, định hướng của Chính phủ đã thống nhất một chương trình giảm nghèo hài hòa, toàn diện.
ĐỨC BÌNH
* Ông Đặng Như Lợi (phó chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội):
Chuẩn nghèo phải được điều chỉnh hằng năm
Chuẩn nghèo phải lấy cái gốc, đảm bảo mức sống thực tế của người nghèo gồm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu mà ít nhất người nghèo phải có. Còn toàn bộ các mức sống thực tế mà biểu hiện bằng tiền để tính ra mức chuẩn thì đó chỉ là chuẩn trên danh nghĩa.
Không thể dùng cái chuẩn là danh nghĩa (tính ra bằng tiền) tại một thời điểm để quy định cho cả giai đoạn, mà không tính đến yếu tố trượt giá thì cái chuẩn nghèo đó không phản ánh thực chất của giảm nghèo. Bởi cái đó chỉ đảm bảo về danh nghĩa, vì mức sống thực tế của người nghèo không đảm bảo. Chuẩn nghèo phải đảm bảo như tiền lương tối thiểu cần phải điều chỉnh hằng năm khi trượt giá tăng, khi mức sống thực tế của người nghèo không được đảm bảo.
Nếu chuẩn nghèo được tính vào đúng thời điểm khi bùng nổ giá mà chưa tính yếu tố trượt giá thì không đảm bảo tính thực tế. Vì thế, chuẩn nghèo phải được điều chỉnh hằng năm theo chỉ số giá tăng lên.Đ.Bình
* PGS.TS Đặng Ngọc Dinh (viện trưởng Viện Những vấn đề phát triển):
Số hộ nghèo chỉ mang tính ước lệ
Thật khó để có thể bình luận về số lượng hộ nghèo và cận nghèo vừa được công bố theo chuẩn mới, vì con số đó chỉ mang tính ước lệ. Việc quy định chuẩn nghèo phụ thuộc nhiều yếu tố, chẳng hạn như khả năng của Chính phủ và cộng đồng trong việc giúp đỡ những người nghèo, phụ thuộc vào mức sống trung bình của dân cư ở các khu vực khác nhau...
Trên thực tế, phạm vi và đối tượng nghèo rất khác nếu chúng ta nhìn vào gói hàng hóa hằng ngày và nhìn ở các khu vực khác nhau. Chẳng hạn ở Hà Nội, nếu thu nhập 500.000 đồng/tháng thì cuộc sống quả là quá khó khăn, nhưng ở miền núi, vùng sâu thì thậm chí mức thu nhập 400.000 đồng/tháng lại là niềm mơ ước của nhiều người.
Hoặc mức sống thực tế giữa một người có thu nhập 500.000 đồng nhưng đã có nhà cửa và một công nhân 1,2 triệu đồng nhưng phải thuê nhà thì chưa chắc ai khổ hơn ai. Tôi muốn đề cập đến hàng chục vạn công nhân từ nông thôn ra thành thị làm việc trong các khu công nghiệp, với mức thu nhập 1,2-1,5 triệu đồng/tháng khó có thể nói là họ không nghèo.
L.K. ghi

Tuesday, February 15, 2011

02/02 Chương trình giảm nghèo Quốc gia bước sang giai đoạn mới

(02/02/2011-04:23:00 PM)

Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, sau 5 năm nỗ lực thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo của Chinh phủ, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm 2010.

Cây đậu tương ở xã Khai Trung, huyện Lục Yên giúp người
dân nơi đây không chỉ xóa đói giảm nghèo mà còn làm giàu lên


Chương trình giảm nghèo Quốc gia đạt thành quả bước đầu

Có thể nói Chương trình Giảm nghèo Quốc gia đã góp phần làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn miền núi, cải thiện đời sống đồng bào vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đến nay cả nước có 15 tỉnh, thành phố tỷ lệ hộ nghèo dưới 5%, trong đó có 5 tỉnh, thành phố có tỷ lệ hộ nghèo dưới 1% và không còn hộ nghèo theo chuẩn quốc gia là TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương.

Đối với 62 huyện nghèo, sau 2 năm thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, tỷ lệ hộ nghèo trung bình đã giảm từ 47% (năm 2008) xuống còn khoảng 37% (vào cuối năm 2010), bình quân giảm 5%/năm, đạt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 40% như Nghị quyết 30a đề ra.
Các con số trên minh chứng cho những nỗ lực không ngừng suốt 5 năm qua trong công cuộc giảm nghèo.

Từ 2006 – 2010, khoảng 6,2 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn với mức vay bình quân 7 – 8 triệu đồng/lượt/hộ, đạt 103,3% kế hoạch năm. 30.000 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật được triển khai. 150 ngàn lao động nghèo được dạy nghề miễn phí.

2.500 công trình hạ tầng phục vụ sản xuất được đầu tư ở 273 xã đặc biệt khó khăn, bãi ngang ven biển, hải đảo. 52 triệu lượt người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế. 500 ngàn hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Uỷ ban Dân tộc, Ủy ban các vấn đề Xã hội của Quốc hội và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), kết quả giảm nghèo thời gian qua chưa thực sự bền vững, khả năng tái nghèo còn cao do thu nhập bình quân của người dân các xã đặc biệt khó khăn chỉ 4,6 triệu đồng/năm, bằng 1/6 mức bình quân chung cả nước.

Chuẩn nghèo mới và nỗ lực cao hơn để xóa nghèo

Để tiếp tục thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trên cả nước, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015.

Theo đó, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống; Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống; Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng;
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.

Nếu tính theo chuẩn mới (thu nhập 400.000 đồng/người/tháng), tỷ lệ hộ nghèo ở các xã này sẽ tăng lên đến 60%, với 1,4 triệu hộ và khoảng 6,3 triệu người nghèo. Nhiều xã ở Tây Bắc, tây Nghệ An, tây Thanh Hóa, tỷ lệ hộ nghèo lên tới 80- 85%. Vì vậy, cần xây dựng một Chương trình Giảm nghèo quốc gia mang tính toàn diện và bền vững, theo hướng phân cấp và trao quyền tự chủ cho địa phương trong quá trình giải ngân triển khai các dự án phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân.

Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng - Trưởng Ban Chỉ đạo Chương trình Giảm nghèo quốc gia cho rằng, “5- 10 năm tới, phải tạo ra bước đột phá trong công tác giảm nghèo”.

“Đây là cuộc đầu tư cả tâm lực, trí lực, tình cảm và trách nhiệm của Đảng, của cả hệ thống chính trị cho 15- 16 triệu đồng bào còn ở mức đáy của thu nhập xã hội. Cấp ủy, chính quyền địa phương cần chủ động trong việc triển khai các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước để làm sao chúng ta tạo được một bước chuyển nhanh hơn, vững chắc hơn về Chương trình Giảm nghèo. Dứt khoát phải tạo ra được sự ổn định của đất nước, để chênh lệch giàu nghèo đỡ giãn ra hơn. Chúng ta thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI cũng là để thực hiện 5 năm đầu tiên của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước giai đoạn 2010 -2020”, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nói.

Với những bài học kinh nghiệm trong thời gian qua, dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, Nghị định về công tác dân tộc và Chương trình 135 giai đoạn 3 sắp được Chính phủ ban hành sẽ tạo sức bật mạnh mẽ cho công tác giảm nghèo quốc gia, nhằm giảm 1/3 số hộ nghèo, tăng thu nhập bình quân đầu người khu vực này lên bằng 1/3 bình quân cả nước.

Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: “Tiếp tục tạo cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, phúc lợi xã hội. Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo theo chuẩn mới phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn khác. Khuyến khích người dân làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên, giảm tỉ lệ hộ nghèo bình quân 2 - 3%/năm, hạn chế phân hoá giàu nghèo”.




Công Trí
Cổng thông tin điện tử Chính phủ

Thursday, October 28, 2010

27/10 Dự thảo Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em

5:50 PM, 27/10/2010

(Chinhphu.vn) –Thực hiện Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 1/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã dự thảo Chương trình hành động quốc gia (CTHĐQG) vì trẻ em giai đoạn 2011-2020.

Mọi trẻ em đều có quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục một cách tốt nhấtTheo dự thảo này, Chương trình được triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc, có sự ưu tiên nguồn lực cho 12 địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nhất, thu ngân sách không đủ chi là Trà Vinh, Sóc Trăng, Ninh Thuận, Quảng Nam, Đăk Nông, Kon Tum, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lai Châu, Điện Biên và Lào Cai.

Chương trình hướng đến đối tượng trẻ em dưới 16 tuổi và có mở rộng đến nhóm trẻ em dưới 18 tuổi có hoàn cảnh đặc biệt. Chương trình dự kiến được thực hiện với tổng kinh phí 1.250 tỷ đồng.
Mục tiêu của Chương trình là tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em và thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của trẻ em. Bảo đảm cho mọi trẻ em đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (BVCSGD) một cách tốt nhất;...

6 hoạt động chủ yếu

Dự thảo Chương trình hành động quốc gia (CTHĐQG) vì trẻ em giai đoạn 2011-2020 bao gồm 6 hoạt động chủ yếu.

Thứ nhất, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông vận động chính sách, vận động xã hội và chuyển đổi hành vi thực hiện quyền trẻ em và các mục tiêu vì trẻ em.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống phát lý có liên quan đến việc thực hiện Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, nhất là Luật Bảo BVCSGD trẻ em.

Thứ ba, hoàn thiện hệ thống chính sách phúc lợi xã hội dành cho trẻ em, nhất là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em nghèo, trẻ em sống trong các gia đình thu nhập thấp và trẻ em dân tộc thiểu số cư trú ở các địa bàn khó khăn.

Thứ tư, xây dựng và thực hiện các chương trình BVCSGD trẻ em.

Thứ năm, xây dựng và nhân rộng các mô hình bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị tổn thương ở các vùng miền.

Thứ sáu, tiếp tục nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành mà nhiệm vụ của họ có liên quan đến BVCSGD trẻ em, thực hiện các quyền của trẻ em.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, hiện tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên tổng số trẻ em nước ta vẫn ở mức cao và có xu hướng gia tăng, cụ thể năm 2001 là có khoảng 1,4 triệu em chiếm 5,5% tổng số trẻ em, năm 2010 tăng lên 1,54 triệu chiếm tỷ lệ trên 6%.

Hàng năm có từ 1.000 đến 1.400 em bị xâm hại tình dục, 2.000 đến 3.900 em bị bạo lực, 12.000 đến 18.000 người chưa thành niên vi phạm pháp luật, trong đó có khoảng 15% phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Theo kết quả nghiên cứu về nghèo trẻ em giữa Unicef và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2007 - 2008, Việt Nam có tới 28% trẻ em sống trong tình trạng nghèo vào năm 2007 dựa theo cách tiếp cận đa chiều về nghèo trẻ em bao gồm: nghèo về dinh dưỡng; nghèo về chăm sóc sức khỏe; nghèo về giáo dục; nghèo về nhà ở; nghèo về nước sạch; nghèo về vệ sinh môi trường; nghèo về vui chơi, giải trí và nghèo về bảo trợ xã hội.

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo Quyết định phê duyệt Chương trình và góp ý.

Cổng TTĐT Chính phủ