Showing posts with label USA. Show all posts
Showing posts with label USA. Show all posts

Friday, August 26, 2011

26/08 MỸ CHUYỂN TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC VỀ Á CHÂU VIỆTNAM NẰM Ở ĐẦU SÓNG NGỌN GIÓ


MỸ CHUYỂN TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC VỀ Á CHÂU VIỆTNAM NẰM Ở ĐẦU SÓNG NGỌN GIÓ
LÝ ĐẠI NGUYÊN
Phát biểu về quan điểm của chính quyền Obama, trợ lý ngoại trưởng Mỹ đặc trách về Châu Á Thái Bình Dương, ông Kurt Campbell, trong khuôn khổ cuộc Đối Thoại Lãnh Đạo Mỹ - Úc vào cuối tuần qua, ngày 15/08/2011, tại Perth, đã nói rằng: 
"Một trong những thách thức quan trọng nhất của chính sách đối ngoại của Hoakỳ là phải tập trung nỗ lực thiết lập chính sách lâu dài tại Á Châu, thay vì chỉ lo đối đầu với những cản lực tại Trung Đông". Ông giải thích: "Hoakỳ không chủ trương xem nhẹ Trung Đông, nhưng quan điểm chiếm đa số hiện nay tại Washington là Hoa kỳ quyết tâm dấn thân vào vùng châu Á". Trong bối cảnh đó ông nói: "Hoa kỳ đã tăng cường đối thoại với Trung quốc, nhưng không phải chỉ quan hệ với Bắckinh là quan trọng nhất". Ông nhấn mạnh đến: "chiến lược củng cố hợp tác mật thiết với đồng minh chiến lược Úc, phục hồi quan hệ với Hiệp Hội Asean và các quốc gia thành viên chủ chốt của Đông Nam Á như Indonesia, Singapore và Việt nam cũng như Philippines". Ông cũng bác bỏ ý kiến cho rằng Hoa kỳ đang suy thoái. Cuối cùng ông nhận định về: "Các vụ Trung quốc uy hiếp tàu thuyền các nước trong khu vực trong đó có Nhật bản, Việt nam, và cả tàu Mỹ". Trợ lý ngoại trưởng, Kurt Campbell cho đây là: "Chính sách đối ngoại áp đặt quyền lực của Trung quốc không thể chối cãi, mà mọi người đều thấy Bắc kinh thực hiện tại Biển Đông, cũng như tại nhiều nơi khác trên thế giới".

Từ tổng thống, ngoại trưởng, bộ trường quốc phòng Mỹ, 2 năm trở lại đây, đã luân phiên khẳng định "Hoa kỳ đã trở lại Á châu", nay, đến trợ lý ngoại trưởng đặc trách về Đông Á và Thái Bình Dương, nhân vật trực tiếp thi hành chính sách của chánh phủ Mỹ tại khu vực đã nói rõ về: "quan điểm chiếm đa số hiện nay của Washington quyết tâm dấn thân vào vùng Á châu". Trong khi đó Trung cộng thực hiện một cuộc tập trận lớn trên bộ, vào ngày 10/08/11, chưa biết ngày kết thúc, tại khu vực tự trị dân tôc Choang ở Quảng Tây, nằm sát biên giới Việt nam. Một số diễn đàn của Việt nam lấy tin từ các blogger Trung cộng về cuộc di chuyển binh lính tới tỉnh Quảng Tây giáp ranh với Việt nam đã diễn ra từ hôm 04/08/11, với khối lượng binh lính khổng lồ bao gồm, pháo binh, bộ binh, xe thiết giáp thuộc nhiều quân khu. Các blogger Trung cộng nói tới kế hoạch tấn công Việt nam vào cuối năm 2011. Thậm chí còn nói đây là lệnh của bộ trưởng quốc phòng Trung quốc, Lê Quang Liệt, thuộc trường phái cứng rắn đã ký. Ngày 11/08/11, bộ tư lệnh Biên Phòng Việt cộng, trung tướng Trần Hoa, đã họp với 12 tỉnh biên giới phía Bắc nhằm thúc đẩy công tác bảo vệ chủ quyền biên giới.

Trung cộng thấy việc dương oai diễu võ trên Biển Đông đã để cho thế giới nhìn rõ bản mặt cậy mạnh hiếp yếu, cưỡng tình, đoạt lý, bất chấp công ước LHQ, chỉ làm lợi cho Hoa kỳ danh chính, ngôn thuận trở lại Á châu, khiến cho các nước Đông Nam Á và Á châu, cùng toàn dư luận thế giới đều đứng về phía Mỹ. Ngay tên đồng chí đàn em Việt cộng vốn tỏ ra tận tụy với kế hoạch tàm thực Việt nam của Trung cộng, cũng chuẩn bị quay gót chạy theo Mỹ. Cụ thể là báo chí lề phải của Việt cộng đang rộ lên phong trào tố cáo tình trạng công nhân Trung quốc đang làm việc không giấy phép ở nhiều công trình do các hãng thầu Trung cộng tại Việt nam. Trương Tấn Sang tân chủ tịch nhà nước Việt cộng, khẳng định "Việt nam không chủ trương cho Trung quốc khai thác bôxít ở Tây Nguyên". "Khi công trình xây dựng hoàn tất, công nhân Trung quốc sẽ rút về nước". "và việc để cho lao động Trung quốc làm việc trái phép ở Việt nam là do cơ quan quản lý điạ phương lỏng lẻo trong kiểm tra và kiểm soát". 

Thực tế thì điạ phương không dám đụng tới lông chân của các vị con trời này. Vì từ tổng bí thư, đến bộ chính trị, chính phủ, trung ương đảng Việt cộng đều đã quỳ mọp dưới chân các lãnh tụ Bắc kinh, luôn miệng hô lớn 16 chữ vàng, 4 tốt, thì cấp dưới kẻ nào dám dại dột kiểm tra, kiểm soát các vị chúa Tầu nữa. 
Nhưng cuộc biểu tình của người dân Hànội ngày 14/08/11 vừa qua đã xuất hiện nhiều khẩu hiệu mới như: "Yêu nước là quyền thiêng liêng của mọi người Việt nam". "Tổ quốc Việt nam là của 90 triệu người Việt nam, không riêng của bất kỳ ai, bất cứ nhóm người nào". "Nhân dân có quyền được biết, được bàn về việc nước". Phản đối Trung quốc đặt giàn khoan tại Biển Đông". Đặc biệt hơn hết, đánh thẳng vào tử huyệt của kế hoạch tằm ăn dâu của Trung cộng là đòi: "Trục xuất lao động bất hợp pháp Trung quốc - hiện đang có 1.3 triệu lao động Trung quốc tại Việt nam". Đây mới chính là tiết lộ động trời gây kinh ngạc cho toàn dân và toàn thế giới về âm mưu đồng hoá Việt nam của người Trung quốc, phải do chính nội bộ Việt cộng xì ra thì người biểu tình mới biết. Đây mới chính là lý cớ Trung cộng phải động binh trên đất liền nhằm đe dọa đánh Việt nam một lần nữa.

Vây liệu Trung cộng có đánh Việt nam trong dịp này hay không? Nếu Trung cộng quyết đánh Việt nam là vi phạm Hiệp Ước Thượng Hải Mỹ-Tầu 1972, ký giữa tổng thống Mỹ, Richard Nixon và Chu Ân Lai, thủ tướng Trung quốc ngày 28/02/1972. Trong đó Trung quốc cam kết: "Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ phải được đối xử bình đẳng". "Những quốc gia lớn không được gây tổn thương đau khổ cho những nước nhỏ". Trung quốc không bao giờ là một siêu cường". 
"Trung quốc chống lại quyền lực bá chủ và quyền chính trị dưới bất cứ hình thức nào". Nay mà Trung cộng đánh Việt nam là trắng trợn gây tổn thương đau khổ cho một nước nhỏ. Tức là vi phạm hiệp ước ký với Mỹ. Chính phủ và Quốc Hội Hoa kỳ không thể làm ngơ. Sở dĩ năm 1979, Đặng Tiểu Bình xua quân tràn sang biên giới Việt nam, chỉ dám tuyên bố "dậy cho Việt nam một bài học" trong vòng 1 tháng, mà trước đó họ Đặng đã phải sang Mỹ thăm dò phản ứng của chính giới Hoa kỳ. Lúc bấy giờ, Việtcộng đang là đàn em của Liên xô, kẻ địch của Mỹ, nên phía Mỹ không tỏ dấu hiệu phản đối. Nay thì ngược lại ngày 05/08/11, Mỹ đã lập tức phái Tư Lệnh Hạm Đội 7, phó đô đốc Scott Van Buskirk đến thăm Hà nội trong 2 ngày. Rồi cho hàng không mẫu hạm nguyên tử khổng lồ USS George Washington vào vùng lãnh hải quốc tế, ngoài khơi Việt nam. Ngày 13/08/11 mời quan chức Việtcộng lên thăm, nhằm trấn an Việtcộng trước sự hù dọa của Trung cộng. Trước đó một ngày 12/08, chiếc hàng không mẫu hạm nguyên tử khổng lồ khác, USS Ronald Reagan đã ghé thăm cảng Hồng kông, giữa lúc Trung cộng cho chạy thử chiếc hàng không mẫu hạm tân trang cuả họ. Đây là cơ hội cho mọi người có dịp so sánh, giữa 2 loại hàng không mẫu hạm của Mỹ với Trung quốc. Và cũng để nhắn với Trung cộng là đừng có chơi dại, đụng đầu với Mỹ trong lúc này. Nhất là đừng theo vết xe đổ của quân phiệt Nhật hồi 1941, tiến quân vào Đông Dương, rồi bị Mỹ hủy bỏ quy chế tối huệ quốc để rơi vào chiến tranh Mỹ-Nhật, đưa tới thảm bại về phía Quân Phiệt Nhật. Chắc Hồ Cẩm Đào sắp mãn nhiệm, họ Hồ chẳng dại gì đụng đầu với Mỹ, nên phó tổng thống Mỹ, Joe Biden đang có chuyến viếng thăm Trungcộng, cố tình gặp Tập Cận Bình, người kế nhiệm Hồ Cẩm Đào để xem nhân vật này có còn trung thành với Hiệp Ước Thượng Hải 1972 nữa hay không? Nhưng cho dù Trung cộng chống, hay hoà với Mỹ, thì Vìệt nam vẫn bị nằm ở vị thế đầu sóng, ngọn gió. Nếu Việt nam không sớm có Dân Chủ thực sự để huy động nội lực dân tộc của toàn dân, tạo thế chủ động tương tác với quốc tế, thì vẫn chỉ là quân bài thí của các thế lực quốc tế mà thôi.
LÝ ĐẠI NGUYÊN


.

__,_._,___



----- Forwarded Message -----
From: Tran Ho <TranHo1@yahoo.com>
To: vbHouston dalat <vobihouston@yahoogroups.com>; chinhnghia Viet <ChinhNghiaViet@yahoogroups.com>; Huyet Hoa <HUYETHOA@yahoogroups.com>
Sent: Friday, August 26, 2011 12:11 PM
Subject: [HUYET-HOA] MỸ CHUYỂN TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC VỀ Á CHÂU VIỆTNAM NẰM Ở ĐẦU SÓNG NGỌN GIÓ








26/08 Chiến trường của thế kỷ 21 sẽ diễn ra trên biển


Chiến trường của thế kỷ 21 sẽ diễn ra trên biển

Châu Âu là cảnh tượng trên đất liền còn Đông Á là một cảnh biển. Ở đó có sự khác biệt cơ bản giữa thế kỷ 20 và 21.

Những khu vực giao tranh nhất của toàn cầu trong thế kỷ trước diễn ra trên các vùng đất khô của châu Âu, đặc biệt là ở những miền đất bằng phẳng ở các biên giới phía đông và tây nước Đức. Nhưng trải qua nhiều thập niên, trục nhân khẩu học và kinh tế của Trái Đất đã dịch chuyển về phía cuối lục địa Á Âu, nơi hàng hải chiếm ưu thế trong các không gian giữa những trung tâm dân cư lớn.
Bởi cách giảng giải địa lý học và thiết lập những ưu tiên, nên diễn biến tự nhiên của Đông Á được lý giải là một thế kỷ của hải quân - hải quân ở đây được định nghĩa trong phạm vi rộng bao gồm cả đội hình chiến đấu trên không cũng như trên biển và ngày càng trở nên phức tạp. Vì sao vậy? Ví như Trung Quốc, đặc biệt khi giờ đây các vùng biên giới đất liền được đảm bảo hơn bao giờ hết kể từ thời nhà Thanh cuối thế kỷ 18, đã lao vào cuộc mở rộng sức mạnh hải quân không thể phủ nhận. Đó là sức mạnh biển mà Trung Quốc sẽ xóa bỏ được tâm lý hai thế kỷ bị nước ngoài "làm mưa làm gió" trên lãnh thổ của mình - buộc tất cả các nước xung quanh phản ứng.
Những dính líu quân sự trên đất liền và trên biển là rất khác nhau, với các ảnh hưởng chủ yếu tới các chiến lược lớn cần thiết để chiến thắng hoặc né tránh chúng. Chiến tranh trên đất liền liên quan tới dân thường, nên nhân quyền trở thành yếu tố quan trọng trong nghiên cứu chiến tranh. Cách tiếp cận với một cuộc xung đột trên biển giản đơn hơn, nhằm giảm thiểu hậu quả chiến tranh theo tính toán số học, tương phản rõ rết với những cuộc chiến trí tuệ góp phần định nghĩa các cuộc xung đột trước.



Thế chiến II là cuộc đấu tranh đạo đức chống lại chủ nghĩa phát xít, hệ tư tưởng chịu trách nhiệm về cái chết của hàng chục triệu người không tham chiến. Những cuộc chiến khác xảy ra tiếp theo, rồi gần đây hơn cả một cuộc đấu tranh đạo đức chống lại những phần tử Hồi giáo cực đoan đã thu hút Mỹ tiến sâu vào vùng núi ở biên giới Afghanistan, nơi cách cư xử nhân đạo với hàng triệu dân thường là rất quan trọng với sự thành công của chiến tranh.
Trong mọi nỗ lực ấy, chiến tranh và chính sách ngoại giao trở thành chủ đề không chỉ của riêng binh lính và các nhà ngoại giao, mà còn là của những người theo chủ nghĩa nhân văn và trí tuệ. Thực tế là, chống nổi dậy đại diện cho sự kết hợp đỉnh cao giữa các sĩ quan mang quân phục và những chuyên gia nhân quyền. Đó là kết quả cuối cùng của chiến tranh mặt đất phát triển thành một cuộc chiến tổng lực trong thời hiện đại.
Đông Á, hay chính xác hơn là Tây Thái Bình Dương, đang nhanh chóng trở thành trung tâm mới của các hoạt động hải quân thế giới, đã báo trước một động lực khác biệt về căn bản. Nó dường như sẽ ít tạo ra tình huống khó xử về mặt đạo đức giống như những gì xảy ra trong thế kỷ 20 và đầu 21, với ngoại lệ là một cuộc chiến mặt đất trên bán đảo Triều Tiên. Tây Thái Bình Dương sẽ hoàn trả các vấn đề quân sự về địa hạt hẹp của các chuyên gia quốc phòng. Nó không đơn thuần là bởi chúng ta đang đối diện với một địa hạt hải quân, nơi dân thường không hiện diện. Nó còn là bởi bản chất của chính các quốc gia ở Đông Á, trong đó có Trung Quốc.
Cuộc tranh giành ưu thế ở Tây Thái Bình Dương sẽ không nhất thiết dính líu đến chiến tranh; phần lớn những gì xảy ra sẽ diễn ra khá lặng lẽ và trong không gian biển trống, ở một nhịp độ chậm, ổn định thích nghi với ưu thế sức mạnh quân sự và kinh tế mà các quốc gia có được trong suốt lịch sử.
Đông Á là khu vực rộng lớn, trải dài gần như từ Bắc Cực tới Nam Cực - từ quần đảo Kuril tới New Zealand và đặc trưng bởi những bờ biển và quần đảo cách biệt. Biển tự nó giống như một rào cản trước hành động xâm lược, hay ít nhất ở mức độ mà đất liền không có. Biển không giống như đất liền, có thể tạo ra những biên giới xác định rõ ràng và có khả năng giảm nguy cơ xung đột.
Ở đây tính tới yếu tố tốc độ. Thậm chí những tàu chiến nhanh nhất cũng di chuyển tương đối chậm, nên sẽ gảim bớt nguy cơ hiểu nhầm và tạo thêm nhiều thời gian cho các nhà ngoại giao để xem xét lại những quyết định. Các lực lượng hải quân và không quân đơn giản không thể chiếm giữ lãnh thổ theo cách làm của bộ binh. Vì các vùng biển bao quanh Đông Á - trung tâm sản xuất toàn cầu cũng như là nơi hoạt động mua sắm quân sự ngày càng tăng - nên thế kỷ 21 sẽ là cơ hội tốt hơn so với thế kỷ 20 để tránh những cuộc xung đột quân sự lớn.
Tất nhiên, Đông Á đã chứng kiến những cuộc đối đầu quân sự lớn trong thế kỷ 20, nơi biển không thể ngăn chặn: Chiến tranh Nga - Nhật; gần một nửa thế kỷ nội chiến ở Trung Quốc với sự sụp đổ dần dần của triều đại nhà Thanh; những cuộc chinh phục của đế quốc Nhật Bản và tiếp theo là Thế chiến II ở Thái Bình Dương; Chiến tranh Triều Tiên; kháng chiến chống Pháp và Mỹ ở Việt Nam... Thực tế là, đặc điểm địa lý của Đông Á với hàng hải là chủ yếu có rất ít ảnh hưởng tới những cuộc chiến này - với cốt lõi là những xung đột của thống nhất quốc gia hay đấu tranh giải phóng. Nhưng thời của những cuộc chiến ấy đã lùi xa. Các quân đội Đông Á, thay vì việc tập trung vào bộ binh trong nước công nghệ thấp, đang tập trung hướng ra bên ngoài với lực lượng hải quân và không quân công nghệ cao.
Nếu so sánh giữa Trung Quốc ngày nay với Đức vào đêm trước Thế chiến I sẽ có nhiều điểm khập khiễng. Đức là cường quốc trên đất liền, do vị trí địa lý của châu Âu còn Trung Quốc trước hết sẽ là cường quốc hải quân, do đặc điểm địa lý của Đông Á.
Còn tiếp
Tác giả Robert D. Kaplan là chuyên gia cao cấp thuộc Trung tâm An ninh Mỹ Mới, đồng thời là thành viên của Ủy ban Chính sách Quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ.
Nguyễn Huy dịch từ Forein policy


.

__,_._,___


----- Forwarded Message -----
From: Tran Ho <TranHo1@yahoo.com>
To: vbHouston dalat <vobihouston@yahoogroups.com>; chinhnghia Viet <ChinhNghiaViet@yahoogroups.com>; Huyet Hoa <HUYETHOA@yahoogroups.com>
Sent: Friday, August 26, 2011 8:50 AM
Subject: [HUYET-HOA] Chiến trường của thế kỷ 21 sẽ diễn ra trên biển





Friday, June 24, 2011

23/06 Biển Đông: Động thái nhỏ có thành chuyện lớn?

Tác giả: HOÀNG PHƯƠNG
Hai ngày thảo luận về an ninh hàng hải ở Biển Đông, các học giả quốc tế đặt nhiều câu hỏi về khả năng của những xung đột nóng, và cuộc chạy đua vũ trang trên Biển Đông, khi các bên có xu hướng cứng rắn hơn.
Ai đang làm nổi sóng Biển Đông?
Các học giả Trung Quốc cho rằng chính Mỹ, và Việt Nam, Philippines gây căng thẳng ở Biển Đông. GS Tô Hạo nói rằng, phải có lí do gì mới xảy ra nhiều sự cố như vậy trên Biển Đông trong thời gian ngắn. Trung Quốc - Việt Nam từng hợp tác tốt trong quá khứ. Hẳn Việt Nam phải có hành động nào đó, và Trung Quốc đáp trả. (Việc đổ lỗi này không có gì mới, nếu nhìn vào những phát biểu chính thức của Trung Quốc sau các sự cố vừa qua - NV).
Một vị học giả khác cũng đến từ Trung Quốc thì cho rằng, chính Mỹ hậu thuẫn cho ASEAN nói riêng và Việt Nam nói chung trong việc nói cứng với nước này về Biển Đông.  Có viên chức của Đại sứ quán Trung Quốc còn đặt thẳng câu hỏi cho học giả Việt Nam: "Nếu Mỹ không đứng đằng sau lưng, thì các anh có phản ứng mạnh như thế không?" (Trong khi đó, TS Trần Trường Thủy nói rõ: việc Việt Nam công khai những hành động của Trung Quốc là muốn Trung Quốc nghĩ lại, thay đổi cách hành xử).
Góc nhìn này không nhận được sự chia sẻ của các học giả quốc tế. Câu hỏi "có ai ở đây ủng hộ quan điểm của Trung Quốc" được đáp lại bằng tràng cười học giả, không hơn. Các học giả thống nhất ở một điểm: Trung Quốc phải chịu trách nhiệm cho căng thẳng gia tăng.
Về việc các nước ASEAN kêu gọi Mỹ can dự ở biển Đông, TS Stein Tonnesson cho rằng "chuyện này hoàn toàn do lỗi của Trung Quốc, đặc biệt là do những hành vi của lực lượng hải giám nước này trong hai năm vừa rồi".
TNS John McCain tại buổi tiếp tân hội thảo. Ảnh: TT
TNS John McCain đã "nói thẳng" sự thật "không mấy vui vẻ": Một trong những lực lượng chính làm cho các căng thẳng trên biển Đông trầm trọng hơn, và làm cho giải pháp hòa bình của các tranh chấp này khó khăn hơn để đạt được, đó là hành vi hung hăng của Trung Quốc và việc đòi chủ quyền lãnh thổ vô căn cứ mà họ tìm cách theo đuổi.
Còn GS Carl Thayer thì cho rằng Trung Quốc đang "trả đũa" Việt Nam vì vai trò của nước này trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông năm 2010 trên tư cách chủ tịch ASEAN. Hành động của Trung Quốc ở Bãi Cỏ Rong nhằm mục đích thăm dò xem liệu Hiệp định an ninh chung Mỹ - Philippines có giá trị hay không đối với cụm đảo Kalayaan.
Về việc Trung Quốc lựa chọn thời điểm cuối tháng 5 và đầu tháng 6 ngay trước và sau thềm hội nghị an ninh lớn ở Shangri-La, các học giả cho rằng chủ đích của Trung Quốc là để đo phản ứng của các nước, đặc biệt là Mỹ, đối với các động thái gây hấn của mình. Trên góc độ nào đó, Trung Quốc đã cảm thấy mình có khả năng thách thức trật tự mà Mỹ đang kiểm soát.
Đâu mới là bộ mặt thật của Trung Quốc?
Hiện nay, một mặt, giới lãnh đạo Bắc Kinh khi tiếp xúc với Mỹ (Tổng thống Obama vào tháng 1/2011 và Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates tại Shangri La) thể hiện quyết tâm kiềm chế, vì quan hệ chiến lược Mỹ - Trung. Mặt khác, Trung Quốc lại leo thang liên tục bằng các áp lực quân sự và phi quân sự lên Việt Nam và Philippines ở Biển Đông.
"Chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa lời nói và việc làm của Trung Quốc. Ngay sau những tuyên bố hòa bình của bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc ở Shangri-La chỉ vài ngày, tàu Trung Quốc lại tiếp tục cắt cáp tàu Viking 2", ông Quý chỉ rõ.
Giới học giả tại hội thảo đặt câu hỏi: Đâu mới là bộ mặt thật của Trung Quốc (real China)?
Liệu Bắc Kinh có thực sự chân thành, hay chỉ sử dụng những lời ngọt ngào ở cấp lãnh đạo chính trị để lừa phỉnh Mỹ và ASEAN tin rằng sự leo thang dọa dẫm sẽ chấm dứt?  Hay lãnh đạo nước này dùng quân sự để bắt các nước ASEAN yếu hơn nhượng bộ, và có lẽ, sau đó, sẽ là sự nhượng bộ từ Mỹ?
Vẫn không có câu trả lời rõ ràng cho những câu hỏi này, trong khi mối lo về các sự cố vẫn hiện hữu, khi tần suất các sự cố thời gian qua tăng đáng ngại.
Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục những hành động lấn át, thì tình hình Ðông Nam Á sẽ rất bất ổn, vì "bất cứ một động thái nhỏ nào cũng có thể biến thành chuyện lớn", TS Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam nói.
Cần tạo áp lực ngoại giao tổng hợp, tránh đối đầu
Theo GS Carl Thayer, cả Philippines và Việt Nam nên có các bước đi để tăng cường khả năng thực thi chủ quyền quốc gia ở vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước. Sự yếu kém của họ chỉ càng mời mọc Trung Quốc hành xử quyết đoán hơn.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là đối đầu bằng vũ lực với Trung Quốc. Bởi như lo ngại của không ít học giả, chủ nghĩa dân tộc lên cao ở Bắc Kinh và Hà Nội sẽ khiến leo thang mức độ tranh chấp, theo tính toán hoặc có thể, không chủ ý.
Hiện nay, Trung Quốc hăm dọa láng giềng, láng giềng hăm dọa lại. Thế nhưng, nếu Việt Nam cứng tới mức xảy ra xung đột nóng, Trung Quốc càng hưởng lợi nhiều, vị giáo sư người Úc này nói.
Theo ông, ASEAN và cộng đồng quốc tế phải đấu tranh về mặt ngoại giao với những hành xử quyết đoán mang tính hiếu chiến của Trung Quốc.
Cần tạo "áp lực ngoại giao tổng hợp" lên Trung Quốc trong hai hội nghị tới đây, ARF và Thượng đỉnh Đông Á để nước này tôn trọng cam kết của mình trong DOC.
Tàu hải giám Trung Quốc thường xuyên quấy nhiễu vùng biển thuộc chủ quyền các nước khác.
Trong khi bác bỏ khả năng chiến tranh, trao đổi tại hội thảo, GS Tô Hạo nhiều lần nhấn mạnh Việt Nam và Trung Quốc là anh em. Theo ông này, anh em thì cũng có khác biệt. Người anh lớn hơn, mạnh hơn, luôn muốn người em nghe lời mình còn người em lúc nào cũng bị áp lực ở dưới tầm che chở của anh, nên có tâm lí sợ anh là lẽ thường.
GS Carl Thayer lưu ý, Việt Nam cần hết sức cẩn trọng tính toán việc cứng rắn với Trung Quốc. Việt Nam phải học từ lịch sử của chính mình. Hơn ai hết, Việt Nam biết "quan hệ anh em" của hai nước vẫn xảy ra chiến tranh.
TS Trần Trường Thủy khẳng định, Việt Nam không muốn đứng ở phía đối đầu với Trung Quốc. Các học giả Việt Nam và ASEAN đều nhắc lại chủ trương theo đuổi giải pháp hòa bình trên Biển Đông, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực.
Luật sư Nguyễn Duy Chiến của Học viện Ngoại giao Việt Nam lại lưu ý: "Để giải quyết mâu thuẫn cần phải dựa trên những mâu thuẫn thật chứ không thể tạo ra mâu thuẫn giả để gây căng thẳng. Một số nước cố tình ngụy tạo mâu thuẫn giả ở vùng biển của nước khác".
Về phía Trung Quốc, TS Stein Tonneson cũng nhắn Giáo sư Tô Hạo: "Trong vòng 2 năm qua, Trung Quốc đã có thái độ hiếu chiến hơn với các nước láng giềng. Tôi buộc lòng phải quy trách nhiệm cho Bắc Kinh, và hy vọng là khi về nước, ông sẽ khuyên chính quyền ông nên xét kỹ lại chính sách sai lầm của mình, và cải thiện".
ASEAN đoàn kết đưa ra COC
Ông Dino Patti Djalal, Đại sứ Indonesia - nước chủ tịch ASEAN đương nhiệm, cho rằng: "Bt c điu gì xy ra đu nh hưởng đến toàn b khu vc, đến toàn b các nước khác trong ASEAN". Cách giải quyết tốt nhất, theo ông, ASEAN phải tiếp tục xây dựng niềm tin.
Đó cũng là một trong ba nhân tố cấu thành của Tuyên bố chung của các bên về ứng xử trên biển Đông (DOC) và tiến đến xây dựng Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên biển Đông (COC).
Hiện nay, một DOC không có tính ràng buộc pháp lý đã không ngăn được căng thẳng gia tăng trên Biển Đông.
Tiến sĩ Peter Dutton cho rằng không bao giờ thiếu những ý tưởng để giải quyết vấn đề, mà chỉ thiếu ý chí chính trị. Ông nói: "Các bên đu phi có nhượng b v chính tr, nếu không s dn đến vic nước mnh hơn s làm nhng gì có th làm và nước nh làm điu phi làm".
Theo ông Dino, COC hiện chỉ còn vướng một, hai điều và Indonesia sẽ cố thúc đẩy việc tiến tới ký kết COC. Việc ký COC sẽ giúp tình hình biển Đông diễn biến theo chiều hướng dễ nắm bắt và có thể kiểm soát được.
Một số người lạc quan, COC có thể ra đời vào dịp kỉ niệm 10 năm DOC. Thế nhưng, Gs Carl Thayer cho rằng, điều đó khó xảy ra trừ khi ASEAN duy trì được sự thống nhất, cố kết và cùng ở một điểm. Nhưng rõ ràng, có những thành viên ASEAN khá nhát, rụt rè.
"Chính các thành viên ASEAN cần xây dựng Hiệp định về các quy tắc ứng xử trên Biển Đông, và sau khi thông qua, có thể để mở cho các quốc gia không thành viên", GS Carl Thayer gợi ý.
Theo ông, các nước khác cần ủng hộ ASEAN trong nỗ lực đạt thỏa thuận về COC.
Đồng thời, theo TS Đặng Đình Quý, các bên cần thúc đẩy hợp tác về biển và quân sự dưới hình thức tuần tra chung, diễn tập chung với sự tham gia của Trung Quốc, ASEAN và các nước có liên quan; đồng thời các bên cần công khai, minh bạch, giảm mua sắm vũ khí và thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin.
Cơ chế "gác tranh chấp, cùng khai thác" không hiệu quả
Hầu hết các học giả đều nhận định rằng cơ chế “khai thác chung” đã không phát huy tác dụng, bởi các bên không thống nhất với nhau trong việc xác định đâu là khu vực tranh chấp, đâu là khu vực không có tranh chấp. Chuyên gia của VN và Philippines có cách tiếp cận khá giống nhau về việc nên xác định đâu là vùng biển, đảo tranh chấp và đâu là những vùng không có tranh chấp để có thể tiến hành khai thác chung. Theo ông Đặng Đình Quý, cách phân loại này sẽ “tạo môi trường an toàn cho các công ty dầu mỏ” cũng như là “hợp tác về hàng hải và quân sự để xây dựng niềm tin”.

Ông Henry S.Bensurto, tổng thư ký Ủy ban các vấn đề biển và đại dương thuộc Bộ Ngoại giao Philippines, cho biết nước này đang hoàn tất đề xuất về việc chia lô các khu biển để hình thành vùng biển hòa bình, hữu nghị. Theo phương án này, các vùng biển sẽ được chia ra làm các khu vực đang tranh chấp, khu vực chồng lấn có thể áp dụng “lưỡng chế độ” để cùng khai thác cũng như các khu vực không còn tranh chấp.
Mỹ ở đâu khi Trung Quốc tạo sự cố trên Biển Đông
Về phía Mỹ, bà Bonner Glaser, Giám đốc Ban Trung Quốc của CSIS cho hay, kế hoạch của Mỹ trong năm 2011 là thể hiện bức tranh hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc. Cả hai nước đều là thành viên của khu vực, có thể hợp tác với nhau. Đáng tiếc thay, các sự cố xảy ra liên tục. Có lẽ, Mỹ cần phải xem lại kế hoạch của mình.
Theo bà Bonner, hiện nay, nhiều nước muốn Mỹ phải đứng lên, một lần nữa cảnh báo Trung Quốc về những hành động hiếu chiến của mình, dù cũng có người nhấn mạnh, Mỹ - Trung cần hợp tác nhiều hơn.
GS Tô Hạo của Trung Quốc thì cho rằng, việc Mỹ tham gia một cách tích cực để giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông cũng được Trung Quốc chào đón. Tuy nhiên "nhng can thip ca M có nhiu khi không tích cc  ĐNA và đó là lý do vì sao Trung Quc không chào đón nhng can thip này".
Để  Biển  Đông không nổi sóng đòi hỏi các nước phải hành xử thiện chí và tôn trọng lẫn nhau.
Thế nhưng, TS Marvin Ott từ ĐH John Hopkins lại lo: "Khi mt Trung Quc hung hãn đang phi đi din vi mt quc gia duy nht có th lên tiếng mnh nht đ chng li tham vng ca h, mà Mỹ không khuyên được Trung Quc, thì tôi nghĩ chúng ta có mt vn đ ln, và tương lai tht u ám".
Theo ông, Trung Quốc "từng xem như Biển Ðông là ao nhà của mình từ năm 1949," và giờ đây trách nhiệm lớn nhất của Mỹ là tìm cách để tránh chiến tranh, duy trì ổn định thế giới.
TS Trần Trường Thủy, Học viện Ngoại giao Việt Nam chỉ ra một thực tế, năm 2002, không phải ngẫu nhiên Trung Quốc tham gia Tuyên bố của các bên về các nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông, giúp khu vực có được gần thập kỉ tương đối ổn định. Thời điểm đó, Mỹ tuyên bố Đông Nam Á là mặt trận thứ 2 trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ, khiến Trung Quốc xích lại gần, thân thiện hơn với Đông Nam Á.
Mới đây, tại ARF tháng 7/2010, sau khi 13 nước nêu vấn đề Biển Đông tại Hội nghị, và ủng hộ việc thực hiện DOC, sớm ra đời COC, và Mỹ tuyên bố lợi ích quốc gia ở Biển Đông, Trung Quốc áp dụng chính sách mềm hơn sau đó. Việc bắt ngư dân đòi tiền chuộc ít hơn, và Trung Quốc cũng ít dọa các tàu và công ty nước ngoài hợp tác với láng giềng. Trung Quốc cũng quay lại bàn đàm phán cùng ASEAN để bàn về DOC và hướng tới COC, dù những hành động có vẻ thiện chí này không diễn ra được bao lâu.
"Dù Mỹ không nói sẽ không tuyên bố ủng hộ cụ thể chủ quyền của ai, Mỹ cần lên tiếng rõ quan điểm của mình về việc Trung Quốc dựa vào đáy biển để đòi chủ quyền. Không nên để sự lập lờ, thiếu rõ ràng như hiện tại", ông Henry S. Bensurto, Tổng thư ký Ủy ban các vấn đề biển và đại dương thuộc Bộ Ngoại giao Philippines nói.
"Chính Mỹ được hưởng lợi lớn nhất nhờ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đó là duy trì bởi quyền lực và sự lãnh đạo của Mỹ. Chúng ta từ bỏ vai trò đó là nguy hiểm cho thế giới và cho chính nước Mỹ", TNS John McCain nói.