Showing posts with label opinion. Show all posts
Showing posts with label opinion. Show all posts

Saturday, March 24, 2012

Nói Lái Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Việt Nam

From: Trang Bui <mytrangbui@yahoo; 

Trích đăng từ

Nói Lái Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Việt Nam


Theo định nghĩa chung chung của một số nhà Ngôn ngữ học thì Nói lái là nói bằng cách giao hoán âm đầu vần và thanh điệu hoặc trật tự của hai âm tiết để tạo thành nghĩa khác hẳn và cho rằng đây là một trong những đặc trưng của tiếng Việt, nhằm mục đích đố chữ, bông đùa, chơi chữ hay châm biếm. Thí dụ như "lộng kiếng" nói lái thành "liệng cống" hay "đầu tiên" thành "tiền đâu", "đơn giản" thành "đang giỡn"…

Có người còn cho rằng Nói lái là một đặc điểm độc đáo của tiếng Việt mà các ngôn ngữ khác không có, khi nói lái người ta phải chọn một nhóm hai hoặc ba tiếng rồi hoán vị các phụ âm hoặc các thanh của những tiếng đó cho nhau. Chẳng hạn như "Vũ như Cẩn" thành "vẫn như cũ" hay "Nguyễn y Vân" thành "vẫn y nguyên" hoặc "bảng đỏ sao vàng" thành "bỏ Đảng sang giàu"…

Friday, February 17, 2012

Đa chiều nhận định kinh tế đầu năm


ĐOÀN TRẦN
17/02/2012 09:44 (GMT+7)
pictureVẫn còn quá sớm để nhìn nhận bức tranh kinh tế năm 2012 sẽ diễn biến theo chiều hướng tích cực hay là ngược lại - Ảnh: Reuters.
E-mailBản để inCỡ chữChia sẻ:facebooktwittergooglerss
Bình luận về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu năm, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Lê Đăng Doanh cho rằng cần phải nhìn thẳng vào sự thật: Việt Nam đã thấm sâu hơn những ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và trong bối cảnh như vậy thì môi trường đầu tư của Việt Nam đã tỏ ra kém cạnh tranh hơn so với các nước trong khu vực.

Wednesday, January 4, 2012

Đầu năm 2012 nhìn lại


Khương Tử Dân

Năm  2011 đã chính thức cáo thoái khi pháo bông ở bầu trời New York bắt đầu nở rộ, chào đón năm “rồng” đang lộn nhào trên Biển Đông, báo hiệu cho một năm có nhiều sóng  gió lớn, có thể làm đắm nhiều chiếc tàu lạ, điển hình như tàu Vinalines của các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp CSVN Hà nội. Chiếc thương thuyền  lớn nhất Vinalines của đảng cướp mafia Hanội đã chìm ở vùng biển sâu của Philippines, chẳng có con lợn béo nào của đảng cầm quyền Ba Đình nhận một trách nhiệm nào cả. Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý chỉ dưạ trên giấy tờ, nhưng hoàn toàn vô trạch nhiệm, vì đó là lỗi của anh thuyền trưởng, và thủy thủ đoàn công nhân nô lệ. Nhà nước thật sự do Nguỹên Tấn Dũng, có trách nhiệm quản lý, nhưng hắn đã tuyên bố là hoàn toàn không chịu trách nhiệm, vì đã không có đề xuất một chỉ thị nào sai lầm cả. Hắn chỉ nói lếu láo hai lời, khi thì nhận trách nhiệm về vụ thất thoát thua lỗ của tập đoàn Vinasink, khi thì dứt khoát chẳng làm điều gì sai trái. Ba Dũng là tên gian xảo bất tường, hắn không biết hắn đã nói gì, hắn chỉ biết làm theo những gì chủ của hắn đã làm. Hắn ăn mặc theo kiểu mẫu, màu sắc của chủ, như tên đầy tớ gia nô, như khi hắn phải quỳ lạy Đới Bỉnh Quốc, và Tập Cận Bình. Hắn còn bắt trẻ em vô tội, mang khăn hoàn đỏ, phất cờ sáu sao vàng nghênh đón Tập Cận Bình, như đón một hoàn đế bắc triều đến kinh lý nam man CSVN Hà nội. Hắn như một tên đĩ đực, chẳng biết xấu hổ là gì, khi nhận 150 triệu mỹ kim trong vụ bauxite Tây Nguyên, trong khi đó Nông đức Mạnh, đứa con rơi của trùm khủng bố Hồ chí Minh nhận 300 triệu mỹ kim để Tầu cộng được làm chủ vùng chiến lược Tây nguyên. Đấy cũng là một loại móc nối, đi đêm, lòn trôn, bán nước để lấy tiền. Nguỹên Tấn Dũng và Nông Đức Mạnh là một loại điếm chảy, chỉ biết ninh hót, lòn trôn để làm thỏa mãn thái tử Tập Cận Bình sắp lên ngôi vua.


Wednesday, June 1, 2011

06/04/2009 Di sản đô thị: Xung đột giữa phát triển và bảo tồn


THỨ HAI, 06 THÁNG 4 2009 16:13 HOÀNG HƯỜNG / TUẦN VIỆT NAM

"Trong một thế giới hội nhập, biến đổi liên tục, việc gìn giữ những di sản cho thế hệ tương lai là một quan niệm rộng với tầm nhìn xa hơn. Khi nói đến cảnh quan đô thị không phải người ta đề cập đến một di sản hay một công trình kiến trúc cụ thể mà đó là dự án tổng thể cho cả đô thị” - Michael Turner.

Luôn gây tranh cãi  

Diễn đàn UNESCO - Trường đại học và di sản lần thứ 12với chủ đề “Cảnh quan của các đô thị lịch sử”  đang diễn ra tại Hà Nội (từ 5 – 10/4) thu hút nhiều học giả từ khắp thế giới. 
Ngày đầu tiên, các phát biểu và tham luận đều nêu lên vấn đề lớn nhất hiện nay là công tác bảo tồn di sản đô thị: sự xung đột giữa phát triển đô thị và bảo tồn di sản lịch sử - văn hóa.

Làm thế nào để cân bằng giữa phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng trong xu thế toàn cầu hóa nhưng vẫn giữ được cảnh quan, không gian văn hóa truyền thống của địa phương? Rõ ràng đây là vấn đề nan giải mà thành phố nào cũng đều gặp phải. 

Kiến trúc sư, Chủ tịch UBND TP Hà Nội, Nguyễn Thế Thảo nói: “Hà Nội là một trong những thành phố đang phát triển mạnh mẽ, có không gian thiên nhiên gắn bó hài hòa, dù trải qua bao biến thiên vẫn giữ được trong mình những di sản quý. Trong quá trình phát triển Hà Nội vẫn cố gắng bảo tồn đô thị với ba nội dung chính: cảnh quan, chức năng và hình ảnh”.

Giáo sư Michael Turner đến từ Học viện Nghệ thuật và Thiết kế Bezalel, Tây Ban Nha cho rằng, bảo tồn đô thị lịch sử là đề tài tranh cãi của tất cả các trung tâm đô thị trên thế giới bởi sự đụng độ giữa xưa và nay.

Trong một thế giới hội nhập, biến đổi liên tục như hiện nay, việc gìn giữ những di sản cho thế hệ tương lai là một quan niệm rộng với tầm nhìn xa hơn. Khi nói đến cảnh quan đô thị không phải người ta đề cập đến một di sản hay một công trình kiến trúc cụ thể mà đó là dự án tổng thể cho cả đô thị”, GS Michael Turner nói.


Bằng chứng ấn tượng 
Tiến sĩ Ron Van Oers, chuyên viên của Trung tâm di sản quốc tế UNESCO đưa ra những dẫn chứng khá ấn tượng.

Thành phố Viên (Áo) được đưa vào danh sách di sản thế giới năm 2001. Thành phố này bao gồm nhiều công trình kiến trúc cổ, và một quần thể 4 cái tháp ở khu trung tâm rất nổi tiếng. Sau khi được đưa vào danh sách, các kiến trúc sư đã đề xuất tạo ra xung quanh khu tháp này một “vùng đệm” không để những công trình mới xâm hại cảnh quan. Nhưng việc này đã nảy ra những cuộc tranh cãi lớn. Cuối cùng TP Viên đã lựa chọn một công ty kiến trúc để kiến tạo khu vực này, thể hiện khu vực xung quanh như một phố Viên cổ. Vấn đề này hiện vẫn đang là đề tài tranh cãi.

Cologne Cathedral (CHLB Đức)  

Thêm một trường hợp khác, năm 2004 Nhà thờ Cologne Cathedral (Đức) - di sản thế giới, có niên đại hơn 800 năm bị đưa vào danh sách nguy hiểm bởi cảnh quan xung quanh đã có quá nhiều nhà cao tầng được xây dựng. Trước sức ép này, đã có những ý kiến đề nghị đưa Nhà thờ Cologne Cathedral ra khỏi danh sách Di sản thế giới, để địa phương có thể thoải mái xây cao ốc.

Tuy nhiên sau khi tranh cãi và cân nhắc giữa lợi ích kinh tế và văn hóa, năm 2006, chính quyền địa phương đã lập ngay kế hoạch bảo vệ di sản với Quy định giới hạn các tòa nhà xây dựng trong khu vực quanh Nhà thơ, và Cologne Cathedral đã được đưa ra khỏi danh sách nguy hiểm.

Tương tự như vậy, đền Taj Mahal (Ấn Độ) là công trình đầu tiên gần như thỏa mãn toàn bộ các tiêu chí của UNESCO cũng từng đứng trước khả năng phải lựa chọn. Phía trước nhà thờ này có một khu vườn và quần thể kiến trúc cổ. Năm 2003, chính quyền địa phương đã lên kế hoạch xây một trung tâm thương mại lớn tại khu vực đó. Tuy nhiên sau đó dưới sức ép của UNESCO và dư luận, kế hoạch này phải dừng lại vì nó phá vỡ cảnh quan khu vực đền Taj Mahal.

Đền Taj Mahal (Ấn Độ)

Hay như Cung điện Potala (Trung Quốc) được chọn là Di sản thế giới năm 1994 cũng vậy. Trong quá trình đô thị hóa, cảnh quan đô thị khu vực cung điện này cũng đã từng bị đe dọa. Nhưng sau đó, chính quyền Trung Quốc nhận ra rằng Potala không chỉ là một di sản mà là một phần cảnh quan văn hóa của đất nước. Chính phủ Trung Quốc đã chấp nhận phá hủy toàn bộ những công trình xây dựng mới trong khu vực để bảo toàn cảnh quan cổ trong khu vực.

Trở thành Di sản thế giới năm 1988. Trong suốt thập kỷ qua, khu vực tháp London vẫn là một đô thị nóng, luôn muốn bùng nổ xây dựng bất cứ lúc nào. Hiện đã có 14 tòa nhà cao tầng đang trong quá trình xây dựng, cùng 94 dự án khác đang chờ chực. Những cuộc xung đột vẫn đang xảy ra quyết liệt, chưa có ai nắm được quyền quyết định cuối cùng: những nhà bảo tồn hay nhà đầu tư.


Châu Á: Nền di sản truyền thống hay thuộc địa?
Giáo sư William Logan, từ Trường Đại học Deakin, Melbourne, Úc mang đến hội thảo những quan điểm khác nhau về di sản trong vùng Châu Á, lục địa già nhất nhưng có khối lượng di sản phong phú.

Trải dài trong lịch sử, Châu Á, trong đó có Việt Nam đã bị nhiều nền văn hóa thuộc địa. Đã có nhiều tranh cãi về vấn đề di sản truyền thống bản địa, và di sản do những nước xâm chiếm xây dựng và để lại, trong đó có nền văn hóa Châu Âu.

Cung điện Potala (Trung Quốc) 

Việt Nam, Lào, Thái Lan, Hàn Quốc… là những quốc gia chịu ảnh hưởng bởi nhiều nền văn hóa, và cũng là những nước có tỷ lệ tăng trưởng dân số nhanh, tốc độ đô thị hóa bùng nổ. Những đô thị phát triển đang mở ra thu hút đầu tư từ bên ngoài vào nhanh chóng đã tạo ra xung đột trong kết cấu văn hóa địa phương và văn hóa du nhập, đặc biệt tại các đô thị có nhiều di sản.

Thêm nữa, đô thị di sản là những nơi có ngành công nghiệp du lịch phát triển mạnh cũng tạo ra sự đồng hóa văn hóa, tác động trực tiếp đến cảnh quan và văn hóa tín ngưỡng địa phương. Toàn cầu hóa cũng là một yếu tố làm biến mất dần những bản sắc truyền thống. Tại một số thành phố người dân đã từng đấu tranh nhằm giữ gìn những bản sắc văn hóa riêng của họ. 

Giáo sư William Logan cũng bày tỏ sự quan tâm về Hà Nội, thành phố chịu ảnh hưởng nhiều cả văn hóa Trung Quốc và Châu Âu, chủ yếu là Pháp. Ông đã phân tích kỹ những trường hợp xây dựng và công trình kiến trúc mang tính xung đột văn hóa và cảnh quan như những công trình cao tầng quanh Bờ Hồ, tượng đài Lý Thái Tổ, các kiến trúc Pháp và những công trình Việt Nam tiêu biểu như Chùa Một Cột, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Văn Miếu Quốc Tử Giám…

Ông nhấn mạnh Hà Nội là một thủ đô quốc gia, mang nhiều tầng nấc di sản, lịch sử của cả dân tộc Việt Nam, và là thành phố có giá trị toàn cầu. Ông lưu ý quy hoạch phát triển phải được đặt ra ở những chiến lược có tâm, trong đó cần cân nhắc kỹ đến những di sản quý mà Hà Nội hiện có.

Hoàng Hường

01/07/2009 Về mạng lưới chợ Hà Nội xưa và nay


THỨ TƯ, 01 THÁNG 7 2009 14:18 NGUYỄN VINH PHÚC


Hà Nội xưa gọi là Kẻ Chợ, có nghĩa là vào thời đó Hà Nội – chính tên là Thăng Long – là nới hội tụ các ngành nghề, là nơi họp chợ, đáp ứng nhu cầu của Kinh đô là thị trường to nhất nước ta ngày ấy. Mà chợ Thăng Long thì bao gồm một mạng lưới thương nghiệp lớn nhỏ rải rác khắp đô thanh. Mật độ chợ dày đặc nhất là chốn mà nay ta gọi “khu phố cổ”. Chợ ở Hà Nội cổ đã xuất hiện từ rất sớm. Năm 1035, Vua nhà Lý “mở chợ Tây nhai với hành lang dài” (ở vào quãng chợ Ngọc Hà). Cũng thời gian nay, “Vua Thái Tông cho mở chợ về Cửa Đông (quãng phố Hàng Buồm ngày nay), hàng quán chen chúc sát đến bên đền Bạch Mã, rất huyên náo”.

Chợ Đồng Xuân 
Trong thế kỷ XVII – XVIII, mạng lưới chợ ở Thăng Long đã phát triển mạnh mẽ. Vì là nơi đô hội, tụ tập đông người, có nhiều phố xá nên mật độ các chợ ở đây dầy đặc hơn ở các nơi khác, nhất là tại khu 36 phố phường buôn bán tập trung. Riêng các chợ lớn ở Thăng Long có nộp thuws da trâu, Phan Huy Chú đã kể ra 8 chợ. Đó là các “chợ Cửa Đông, chợ Cửa Nam, chợ Huyện, chợ Đình Ngang, chợ Bà Đá, chợ Văn Cử, chợ Bác Cử và chợ Ong Nước”. Đến thế kỷ XIX, Đại Nam thống nhất chí ghi thêm các chợ Mới (quãng phố Hàng Chiếu), chợ Đông Thành (quãng phố Hàng Vải – hàng Gà), chợ Yên Thọ (Ô Cầu Dền), chợ Yên Thái (Bưởi).
Địa điểm họp chợ - cũng như ở các địa phương khác, các chợ ở Thăng Long – Hà Nội thường được lập nên ở những nơi công cộng, thuận tiện cho việc giao thông đi lại, trao đổi buôn bán, nhìn chung chợ thường được họp ở các cửa ô, cửa thành và bờ sông, bờ kênh.
Cửa ô là nơi dân chúng thuộc các làng xã phụ cận mang hàng hóa vào Kinh thành trao đổi với khối dân chúng nội thị.
Cửa thành là nơi ra vào, trao đổi thường xuyên giữa khối quan liêu – quân sĩ trong hoàng thành và khối bình dân ngoài phố xá. Hàng ngày, các gia nhân, nha lại của vua quan đã ra ngoài thành mua sắm một khối lượng lớn các thức ăn, vật phẩm cần thiêt. Vì thế chính ở cạnh các của thành, đã sớm xuất hiện các khu chợ đông đúc, sầm uất. Chợ Cửa thành xưa nhất của Thăng Long có khả năng là chợ Cửa Tây, thành lập từ đời Lý. Chợ Cửa Đông cũng là một chợ cổ và sầm uất, vì cửa Đông Môn (thời Lý Trần là của Đông Hoa) trực tiếp ăn thông ra khu vực buôn bán của Kinh thành (ở vào quãng Hàng Đường – Hàng Buồm bấy giờ). Thời nhà Nguyễn, Hàng Vải, Hàng Gà có chợ bán thực phẩm có tên là Hàng Gà. Chợ Cửa Nam là một chợ lớn của Thăng Long – Hà Nội, vì Cửa Nam (thời Lê là Cửa Đại Hưng) là nơi ra vào chính của vua chúa, quan lại và “tất cả những ai có việc phải đi đến Hoàng Thành”.

Chợ Cửa Nam 
Hai bên bờ sông Tô Lịch cũng là nơi họp chợ đông đúc, buôn bán tấp nập. Các chợ mọc lên hai bên bờ sông Tô, một số là chợ đặc sản, như các chợ Gạo (đầu cửa sông Tô), chợ Hàng Cá. Chợ cầu Đông (quãng ngã tư Hàng Đường – Chợ Gạo ngày nay) là một chợ bên bờ sông Tô, nổi tiếng của kinh thành, đã đi vào nhiều câu ca dao. Chợ Bạch Mã (tên gọi khác của chợ Cửa Đông) liên sát đó (quãng phố Hàng Buồm ngày nay), họp sát bờ sông Tô, trên bến dưới thuyền, hoạt động buôn bán rất tấp nập, đặc biệt là các phú thương Hoa Kiều.
Phạm Đình Hổ nhớ lại quang cảnh chợ phiên Bạch Mã cuối thể kỷ XVIII: “… Là một chợ buôn bán tấp nập huyên náo. Những quân trộm cắp hay thừa cơ cướp giật, có khi thò tay vào túi người ta móc lấy hết cả. Có khi chúng cố ý làm chợ ồn ào, đổ xô nhau mà chạy để rồi cắp bọc quần áo người ta hoặc khuân đồ vật hàng hóa”. 
Ngoài những nơi kể trên (cửa ô, cửa thành, bờ sông) còn phải kể đến một số lượng lớn các chợ lưu động, không tên của Thăng Long – Hà Nội, ở đó những người buôn bán rong, vặt vãnh, đã dọc theo các đường phố, những ngã ba, ngã tư, những khoảng đất trống, tóm lại là ở tất cả mọi nơi có người qua lại, ngồi bán hàng không cần hàng quán. Đây là cảnh một chợ loại đó và những năm 80 của thế kỷ XIX: “Việc thành lập một cái chợ không tốn kém gì cả, mà chỉ cần đến thời tiết tốt. Người nông dân ngồi ngay xuống đất, trên đường phố, hàng hóa để trong một vuông vải hay trong một cái làn, thậm trí trên đất bụi, nếu như họ không sợ làm hư hỏng loại hàng đó”.
Thời gian họp chợ: ở Thăng Long, việc chợ họp theo chu kỳ có lẽ đã có từ lâu lắm. Trần Cương Trung (sứ Trung Quốc sang Việt Nam đời Trần) đã có nhận xét là: “chợ cứ 2 ngày họp một lần”.
Tuy nhiên, khi xét cụ thể về thời gian họp chợ ở Thăng Long – Hà Nội thì các ý kiến không thống nhất. Dampier cho rằng: “Ở Kẻ Chợ, chợ họp trong tất cả mọi ngày”. Trong khi đó A.Rhodes, Baron, và Marini lại chép là “chợ ở Kẻ Chợ mỗi tháng có 2 phiên” (ngày rằm và mùng một). Còn Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút thì cho rằng ở Kinh kỳ “phiên chợ là các ngày 1, 6, 11, 14, 15, 21, 26, 30” (một tháng 8 phiên).

Phố Hàng Bạc 
Các mặt hàng buôn bán: chợ ở Thăng Long – Hà Nội là một loại chợ lớn trong toàn quốc, cho nên số lượng các mặt hàng buôn bán cũng rất lớn và phong phú. Hầu như tất cả mặt hàng trong và ngoài nước đều bầy bán ở đây.
Hàng nông sản: Do vị trí thuận lợi, đầu mối của các trục giao thông thủy bộ, do mật độ dân cư đông đảo và sự có mặt thường trực của một bộ máy hành chính – quân sự to lớn với những nhu cầu tiêu thụ hàng ngày của nó, một khối lợn nông sản khổng lồ từ các địa phương lân cận đã đổ về các chợ ở Thăng Long – Hà Nội để rồi được bán buôn bán lẻ trực tiếp cho người tiêu thụ. Đó là gạo, nông hải sản, thực phẩm, rau quả…
Hàng thủ công nghiệp: So với các mặt hàng nông sản thì hàng thủ công nghiệp không chỉ bầy bán tại các chợ mà còn bán nhiều tại các phố dành riêng cho từng mặt hàng, như các phố Hàng Đào bán tơ lụa, Hàng Ngang bán xiêm áo, Hàng Bạc bán đồ trang sức, kim hoàn, Hàng Đồng bán đồ đồng, phó Hài Tượng bán giầy dép, phố Bát Sứ bán đồ sứ… Tuy nhiên, đối với quảng đại quần chúng bình dân và nhất là đối với những người nông dân các vùng phụ cận kéo về Kẻ Chợ - Hà Nội trong các ngày phiên chợ thị họ vẫn thích mua trực tiếp các loại hàng đó ở ngay tại chợ, nó tiện lợi và cũng có thể giá rẻ hơn. Trước hết đó là các dụng cụ hàng ngày của người nông dân như cầy cuốc, nối niêu bát đĩa, các loại hàng vải vóc thông dụng mà quần chúng gọi là hàng tấm, các loại thuốc men cần dùng. Một số chợ buôn bán tập trung các mặt hàng đặc sản như chợ Hàng Tơ ở Hàng Đào buôn bán tơ lụa, chợ Bưởi chuyên bán các loại giấy sản xuất ở Yên Thái, Hồ Khẩu.
Phương thức mua bán: ở Việt Nam trung đại, từ lâu chợ vẫn là một nơi trao đổi tiếp xúc toàn diện giữa các cộng đồng người của các vùng lân cận, về các mặt kinh tê, văn hóa, lối sống và thông tin đại chúng. Ở Thăng Long – Hà Nội, chợ không những là một nơi trao đổi và tiếp xúc giữa các tầng lớp người trong phạm vi nội bộ đô thị và chủ yếu là một trung tâm trao đổi tiếp xúc giữa Kẻ Chợ và các vùng phụ cận. Nó là một sự đối ngoại thường trực, toàn diện giữa thành thị và nông thôn.
Nông dân các vùng phụ cận mang sản vật nông nghiệp hoặc thủ công nghiệp của mình vào bán tại các chợ, rồi dùng tiền đó mua sắm một ít các vật dụng cần thiết cho công việc sản xuất vào đời sống hàng ngày. Ở chợ Thăng Long – Hà Nội còn có một loại người buôn bán chuyên nghiệp, bán hàng trong các lều quán dựng sẵn, nhưng phần lớn cũng chỉ là những người buôn bán nhỏ hoặc trung bình.
Đa số những người đi chợ mua bán tại các chợ ở Thăng Long – Hà Nội là giới phụ nữa. Các lái buồn và giáo sĩ phương Tây khi đến Việt Nam đều nhận xét là phụ nữ Việt nam nói chung và phụ nữ Kẻ Chợ nói riêng đã có một “năng khiếu đặc biệt” về buôn bán. Marini đến Kẻ Chợ có nhận xét là: “những người phụ nữ ở đây mải mê với thương mại và họ không ngừng bận rộn về việc bán, mua”. Du khách Trung Quốc Phan Đỉnh Khuê đến Kẻ Chợ năm 1688 thì cho là “việc buôn bán ở Kẻ Chợ bao giờ cũng do giới phụ nữ đảm nhiệm”. Cuối thể kỷ XIX, Dumoutier quan sát tỉ mỉ hơn những phiên chợ ở Hà Nội, thấy là “cứ trong 100 người đi chợ, người ta đếm được 84 người đàn bà con gái”.
  • Ảnh bên : Phương án cải tạo chợ Hàng Da 
Đến thời Pháp thuộc, các chợ vẫn được duy trì, xây dựng cầu chợ hẳn hoi, để gom các chợ nhỏ vào thành một chợ lớn. Như chợ Đồng Xuân làm năm 1896 là gồm các chợ Bạch Mã, chợ Cầu Đông. Chợ Hàng Da và là gom các chợ Hàng Gà, chợ Đông Thành Thị. Chợ Mơ là gom các chợ Yên Thọ (Ô Cầu Dền) chợ Trung Hiện, Chợ Cửa Nam là gom các chợ Cửa Nam, Đình Ngang, Ong Nước… cũng thời này có thêm loại chợ Đuổi. Số là các chợ lớn cứ sẩm tối, là Khán chợ đuổi hết người ra khỏi khuôn việc chợ để khóa cổng. Những người bị đuổi này liền tụ tập ở gần đó. Vả lại dân ngheo cũng nhiều người lúc ấy mới đi làm về, cũng tìm tới chợ Đuổi để mua hàng. Ban đầu họ họp ở đầu Chợ Đuổi (tức phố Tuệ Tĩnh nay) sau do thành phố mở mang, lính cấm dồn  chợ về chỗ ngoại ô Vân Hồ. Ngày nay các chợ cũ vẫn hoạt động, song dân chúng muốn mua bán thuận tiện nên sinh ra các thứ chợ cóc bên vỉa hè, họp chớp nhoáng và buổi tan tầm (có nơi chợ cóc mà họp cả ngày). Chung tôi cho rằng sự tồn tại chợ cóc là một hình ảnh không văn minh, mang tính tiểu nông manh mún. Song giải quyết không dễ, vì những người bán hàng ở đây đại bộ phận là dân nghèo ngoại ô, triệt để phá chợ cóc thì ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của họ (thực tế là thành phố đã nhiều phen dẹp chợ cóc song chỉ độ 1, 2 ngày đâu lại hoàn đấy). Lại thêm thời gian của người mua, đa số là công nhân viên, đi làm về, sà vào vỉa hè mua mớ rau, con cá cũng rất tiện, đỡ phải gửi xe lích kích, tốn tiền. Cách ngôn Pháp có câu: La civilisation se voit sur la route (văn minh thể hiện trên đường phố) thì rõ Hà Nội chưa văn minh. Đó là một vấn nạn.
Tôi còn một ý nghĩ nữa về việc cải tạo nâng cao tầng các chợ như Cửa Nam, Hàng Da. Quãng chợ toàn là đương hẹp, phố phường đông đúc quá rồi. Nay các chợ đó thành văn phòng, siêu thị, xe cộ ra vào rầm rập suốt ngày thì ở ngã tư Nguyễn Khuyến – Lê Duẩn – Hai Bà Trưng – Cửa Nam sự đi lại sẽ ra sao? Cả ngã tư Nguyễn Quang Bích – Đường Thành – Hàng Da cũng ăm ắp ô tô ra vào siêu thị văn phòng và cả vào chợ Hàng Da mới thì giao thông sẽ ra sao? Tôi chưa hình dung nổi.
Nguyễn Vinh Phúc 
(Bài tham luận tại Hội thảo "Hà Nội : thành phố thân thiện và sống tốt cho cộng đồng" (Hanoi : a Livable City for all) diễn ra trong hai ngày 1-2/7/2009) 

Wednesday, May 25, 2011

16/12 Lạm dụng các từ "tặc", "sạch" và "xanh"

Cập nhật lúc 09:49, Thứ năm, 16/12/2010 (GMT+7)
Ðã có thời gian trên báo chí, người ta sử dụng từ tặc (giặc) một cách vô tội vạ. Bắt đầu: lâm tặc (kẻ chặt phá rừng như giặc), đến cẩu tặc (kẻ bắt trộm chó), ngư tặc (đánh cá bằng điện, chất nổ), vàng tặc (kẻ khai thác vàng), cát tặc, đất tặc, kim tặc (dùng kim đâm phụ nữ)... Việc lạm dụng từ tặc như thế là không đúng nữa, có khi không đúng từ. Tặc là chữ nho, thì đi theo nó phải chữ nho (lâm tặc: lâm là rừng) ghép một chữ nho với một chữ nôm (ví dụ cát tặc) là không đúng (phải gọi là sa tặc).

Gần đây trên báo chí lại xuất hiện, loạn từ sạch và xanh. Bắt đầu từ việc ăn thực phẩm bẩn bị ngộ độc, đường sá không có cây xanh, công viên cây xanh bị phá hoại.

Từ thực phẩm sạch đến rau sạch, thịt sạch, xe buýt sạch đến bàn tay sạch, lương tâm sạch (liêm khiết). Như vậy là việc dùng từ sạch cũng bị loạn.

Tương tự từ xanh thì cũng vậy. Ðầu tiên là nhiên liệu xanh, ý chỉ loại nhiên liệu không gây tổn hại tới môi trường, rồi môi trường xanh, du lịch xanh, đô thị xanh, giao thông xanh. Báo Tuổi Trẻ còn viết: hành quân xanh. Phát động thi ảnh lăng kính xanh, sản phẩm xanh, doanh nghiệp xanh, cách dùng từ như vậy là khó hiểu.

Nếu không được giải thích trước, thì người ta không biết hành quân xanh là gì. Hành quân đi trồng cây hay hành quân dưới hàng cây, ngụy trang bằng lá cây. Ảnh lăng kính xanh là sao chụp ảnh lành mạnh, hay chụp ảnh toàn mầu xanh cây lá?

Chữ xanh và sạch có thể dùng đổi chỗ cho nhau: nhiên liệu xanh, nhiên liệu sạch, môi trường xanh, môi trường sạch...

Tiếng Việt Nam ta giàu và phong phú, từ ngữ đủ để diễn đạt cụ thể sự vật, hiện tượng chứ không khái quát như một số tiếng nước ngoài. Tiếng Pháp: mang, vác, xách, khiêng, gánh, ôm, chở... đều là porter. Muốn nói rõ vác phải nói porter ở trên vai. Muốn nói khiêng phải dùng porter bằng hai vai hai người, treo vật ở giữa cái đòn. Với Việt Nam ta chỉ nói vác, khiêng là người ta hiểu. Cho nên không nên dùng quá nhiều một từ khái quát. Không nên nói nhiên liệu xanh, hoặc điện xanh mà nên nói điện sức gió, sức nước hay năng lượng mặt trời.

Cao Phi Yến

Wednesday, May 11, 2011

09/05 Bí quyết để Đà Nẵng trở thành “Thành phố đáng sống nhất Việt Nam”

Thứ Hai, 09/05/2011 - 16:05

Mặc dù chưa có bất cứ tổ chức nào công bố, nhưng theo nhiều chuyên gia và người dân trên cả nước nhận xét, Đà Nẵng hiện được đánh giá là “Thành phố đáng sống nhất Việt Nam”. Trong Hội nghị tổng kết năm 2010 của Hội Nhà báo Việt Nam mới đây, ông Nguyễn Bá Thanh - Bí thư Thành ủy thành phố Đà Nẵng đã “bật mí” những bí quyết giúp Đà Nẵng đạt được danh hiệu đáng tự hào này.
Một góc Đà Nẵng lộng lẫy và quyến rũ

Để có được những thành tựu như ngày hôm nay, ngoài những giải pháp chung đã được nhiều tỉnh thành trên cả nước áp dụng, Đà Nẵng còn có những “chiêu” chưa hề có tiền lệ, góp phần phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ và tạo ra sự ổn định trong đời sống xã hội.

Những chuyện “hổng” giống ai

Nhắc đến Đà Nẵng là người ta thường nghĩ ngay đến chương trình “5 không, 3 có”, đã làm nên thương hiệu và bản sắc riêng của Đà Nẵng trong suốt những năm qua. 5 không - đó là không có hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma túy trong cộng đồng, không có giết người cướp của. Sau 5 năm tích cực triển khai kể từ năm 2000, kết quả đạt được thật là mỹ mãn.
Rất nhiều cây cầu ở Đà Nẵng không chỉ là nơi đi lại mà còn là một công trình nghệ thuật, nơi tham quan du lịch
Từ cuối năm 2000, Đà Nẵng đã hoàn thành mục tiêu không có hộ đói; cuối năm 2004, cơ bản hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo, trong 2 năm 2001 và 2002 hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ đến người cuối cùng trong độ tuổi 6-35, tập trung 1.537 lượt người lang thang xin ăn vào Trung tâm Bảo trợ xã hội, giải quyết cho 14.570 lượt đối tượng xã hội được hưởng chế độ trợ cấp cứu trợ thường xuyên, giải quyết cứu trợ đột xuất cho 101.964 lượt người gặp khó khăn, hoạn nạn. Về tội phạm ma túy, từ năm 2001 đến 2005, Công an thành phố đã bắt và xử lý 245 vụ, gồm 705 đối tượng, kiềm chế được sự gia tăng tội phạm về ma túy.
Sau "5 không", Đà Nẵng “dấn” thêm bước nữa đó là triển khai chương trình "3 có" - Có nhà ở, có việc làm, có nếp sống văn hóa, văn minh đô thị. Do triển khai tích cực và có cách làm hiệu quả mà bình quân hằng năm Đà Nẵng đã giải quyết công ăn việc làm cho 30 - 32 nghìn lao động, hơn 9.000 căn hộ được dành cho những người thiếu chỗ ở. Trong khi đó, "Thành phố môi trường", một đề án mới đang được triển khai cũng có thể coi là hướng phát triển của việc xây dựng nếp sống văn hóa - văn minh đô thị.
Đà Nẵng luôn cầu thị và tiếp thu những ý kiến của các chuyên gia để xây dựng Đà Nẵng thành một thành phố văn minh, hiện đại
Tuy nhiên, một việc khá nổi tiếng, đã đem lại bộ mặt khang trang và hiện đại cho Đà Nẵng mà ai cũng biết, nhưng lại chưa địa phương nào làm được đó là vấn đề giải phóng mặt bằng để làm đường. Không như các thành phố khác, khi giải phóng mặt bằng để làm đường, Đà Nẵng thường lấy vào 2 bên đường mới một khoảng không từ 30 đến 50 mét và sau đó quy hoạch bán đấu giá. Việc này theo ông Thanh không chỉ tạo ra những con đường khang trang, sạch đẹp do việc xây dựng đồng bộ, tránh được nhà siêu mỏng, siêu méo, mà nó còn tạo ra nguồn vốn lớn từ chính quỹ đất này do đường sá khang trang, rộng rãi nên giá đất tại những khu vực này cũng đã tăng lên rất nhanh. Không chỉ dừng lại tại đó mà việc đấu giá những lô đất hai bên đường mới cũng sẽ tránh được việc lợi dụng biết trước quy hoạch để mua đất bên trong chờ ra mặt đường.
Đường phố Đà Nẵng hấp dẫn về đêm
Một việc khác cũng chưa từng có tiền lệ đó là xây dựng bệnh viện ung thư và bệnh viện phụ nữ. Đối với bệnh viện ung thư thì ở Hà Nội hay TP Hồ Chí Minh đã có nhưng đó là tiền do ngân sách nhà nước xấy dựng, còn ở Đà Nẵng là do các nhà hảo tâm trong và ngoài nước đóng góp. “Tôi chính là trưởng ban vận động quyên góp xây dựng nên bệnh viện này. Do thấy chúng tôi làm việc này là vì cái tâm nên đã có không ít cá nhân trong và ngoài nước hết lòng ủng hộ. Chúng tôi cũng đã quyên góp được hàng trăm tỷ đồng xây dựng nên một bệnh viện cho những người ung thư với hơn 500 giường bệnh và sắp tới sẽ đưa vào khánh thành. Đối với bệnh viện phụ nữ thì đây có lẽ là nơi khám chữa bệnh đầu tiên trên cả nước duy nhất chỉ dành cho phụ nữ. Tất cả chị em bị ung thư sẽ được chữa trị miễn phí”, ông Thanh cho biết.
Đối với vấn đề thu hút nhân tài, tránh chảy máu chất xám, Đà Nẵng cũng có những “chiêu” tỏ ra rất cao tay đó là thành lập ra một trường trung học chuyên Lê Quý Đôn. Tất cả những em theo học ở đây đếu phải trải qua cuộc thi tuyển đầu vào gắt gao, không có chuyện nhờ vả, chạy vạy hay xin xỏ. Khi ra trường em nào xuất sắc sẽ được cho đi học tiếp ở nước ngoài, em nào giỏi học đại học trong nước và tất cả đều được thành phố tài trợ kinh phí ăn học sau đó quay về được bố trí công việc phù hợp và đặc biệt phải cống hiến cho thành phố ít nhất là 7 năm. Theo ông Thanh giải thích là trong thời gian làm việc tại Đà Nẵng thì họ đã gắn bó với Đà Nẵng, gắn bó với công việc và đặc biệt là họ sẽ xây dựng gia đình và sinh con đẻ cái. Đó chính là nguyên nhân giữ người tài ở lại với Đà Nẵng và tại sao Đà Nẵng không bị chảy máu chất xám trong thời gian qua.
Ngày càng có nhiều du khách muốn đến với Đà Nẵng

Không chỉ tự ý làm mà chính quyền Đà Nẵng còn rất tôn trọng ý kiến của các chuyên gia, các nhà chuyên môn trong việc định hướng quy hoạch và phát triển Đà Nẵng trong những năm tiếp theo. Điển hình của việc cầu thị này là mới đây thôi thành phố đã mời các chuyên gia đầu ngành của mọi lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, quy hoạch… đến dự hội thảo bàn về “Ý tưởng xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố ngang tầm với các thành phố hiện đại Châu Á và thế giới”. Tại cuộc hội thảo Đà Nẵng đã nhận được những góp ý rất chân tình, thiết thực và quý báu từ các nhà chuyên môn, các chuyên gia để biến Đà Nẵng thành một thành phố văn minh và hiện đại trong khu vực.

Hay như một việc mà không phải địa phương nào cũng làm được đó là tổ chức cuộc thi pháo hoa Quốc tế. Đây là một hoạt động văn hóa đặc sắc được tổ chức định kỳ 2 năm một lần và đến nay đã trở thành sự kiện văn hóa giải trí gắn liền với thương hiệu của Đà Nẵng và đã thu hút được rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng. Đây cũng là dịp để Đà Nẵng thúc đẩy việc quảng bá phát triển kinh tế thông qua các hoạt động du lịch.

“Nói không” với tệ nạn

Trong khi Hà Nội, TP Hồ Chí Minh hay các đô thị lớn trên toàn quốc đang phải “vật vã” với tệ nạn đua xe trái phép và coi đó là vấn đề nan giải và chưa tìm ra cách giải quyết triệt để, thì đối với Đà Nẵng chuyện này lại trở thành chuyện nhỏ. Ông Thanh tâm sự “Chúng tôi không phải thức khuya, thức đêm để ngăn chặn nạn đua xe. Với Đà Nẵng, nếu đua xe sẽ bị tịch thu phương tiện bán và xung công quỹ để ủng hộ người nghèo, không có chuyện phạt, gọi điện hay nhờ vả xin xỏ. Đã nhiều lần Quốc hội chất vấn tôi và cho rằng Đà Nẵng làm sai luật, nhưng tôi đặt câu hỏi lại các đại biểu là đã có luật nào cho phép đua xe?. Đua xe không chỉ gây nguy hiểm cho kẻ đua mà còn gây nguy hại cho những người xung quanh nên chúng tôi sẽ tiếp tục làm mạnh tay và đến cùng. Và thế là Đà Nẵng đã từ lâu không bao giờ có tệ nạn đua xe”.

Với người nghiện ma túy, khi phát hiện Đà Nẵng kiên quyết đưa đi tập trung cai nghiện mà không để ngoài xã hội nên đã tránh được nhiều tệ nạn, móc túi, cướp giật và đặc biệt là cướp của giết người. Không những thế, chính quyền Đà Nẵng còn treo thưởng cho những ai phát hiện ra người nghiện hút chích ngoài đường sẽ được thưởng tiền. Nhưng hình như kể từ khi đề ra quy định này vẫn chưa có ai được thưởng bởi dù người dân “lọ mọ” đến mấy thì cũng khó có ai phát hiện ra người nghiện ngoài đường.

Với vấn đề bạo hành trong gia đình, Đà Nẵng đã có sáng kiến có một không hai đó là đích thân Bí thư thành ủy ký giấy mời và đứng ra gặp hơn 130 ông chồng hay đánh vợ đến để khuyên nhủ. Sau khi được đích thân Bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh ân cần tâm sự và khuyên nhủ thì tất cả các ông chồng trên đều tự nguyện ký vào cam kết sẽ không đánh vợ nữa. Bên cạnh đó các bà vợ hay bị chồng ngược đãi cũng được các cấp hội phụ nữ thành phố tư vấn cách ứng xử làm thế nào để giữ được hạnh phúc gia đình. Nhờ có những chính sách đặc biệt đó mà việc bạo hành trong gia đình tại Đà Nẵng đã giảm rõ rệt, dịp Tết vừa qua đã có gần 100 ông chồng được thành phố mời đến tặng bằng khen và thưởng tiền với mức 500 ngàn đồng/người.

Một việc làm khá khó và vô cùng tế nhị đó là giáo dục trẻ em chậm tiến thì cách làm của Đà Nẵng cũng khá độc đáo đó là đưa các em tới thăm trại giáo dưỡng, thăm nhà giam phạm nhân lớn tuổi và cuối cùng là cho các em đi du lịch cáp treo tại Bà Nà. Theo ông Thanh giải thích đó là thành phố muốn các em chứng kiến cảnh phải tù túng vất vả trong tù khi phạm tội và cuộc sống tự do vui tươi ở ngoài, nhằm động viên các em hãy sống tốt để có thể hưởng thụ cuộc sống vui tươi ở ngoài đời. Việc giáo dục này đã phát huy rõ rệt và tỷ lệ trẻ em phạm tội ở Đà Nẵng hiện thấp nhất trong cả nước.

Và còn rất nhiều chuyện khác biệt đã tạo nên một Đà Nẵng văn minh, hiện đại, xanh sạch đẹp như ngày hôm nay mà ông Thanh cho rằng đó chỉ là “ba cái chuyện lẻ tẻ”. Nhưng với những việc làm đặc biệt kể trên cùng với những chính sách “hổng giống ai” như: không tuyển công chức học tại chức, không thu tiền gửi xe trong các bệnh viện, không cho bán hàng bên bờ biển, vận động thành công Nhà nước và nhân dân cùng làm các công trình công cộng, đối thoại định kỳ với các tổ chức tôn giáo, đi tiên phong giải quyết nhà ở cho đối tượng có thu nhập thấp hay kiên quyết từ chối 2 dự án lớn về sản xuất thép và giấy để quyết tâm trờ thành thành phố xanh sạnh đẹp, vì môi trường... cùng biết bao việc làm có ý nghĩa khác không thể kể hết ra đây, thì “ba cái chuyện lẻ tẻ” đó xứng đáng được nhiều địa phương trong cả nước học tập để sao cho mỗi người dân khi nói về quê hương của mình đều ánh lên vẻ tự hào như Đà Nẵng đã làm được ngày hôm nay.

Tiến Dũng



Ý kiến bạn đọc

  • Bùi Thu Hiền 5/9/2011 9:50:54 PM

    buithuhien0909@yahoo.com

    Giá mà lãnh đạo trên khắp các tỉnh thành trong cả nước có suy nghĩ sống vì thành phố thân yêu của mình như ông Nguyễn Bá Thanh thì nước Việt Nam chả mấy mà bằng bạn bằng bè. Ước gì !

11/05 Quan điểm chống lạm phát của lãi suất ở đâu?

Thứ Tư, 11/05/2011 | 08:57

Phản hồi: 0

Nhiều người dân đang chọn tiền đồng làm phương tiện cất giữ tài sản vì so sánh giữa các kênh đầu tư vàng, ngoại tệ, bất động sản, chứng khoán, tiền đồng đang có giá nhờ lãi suất cao. Ưu thế lãi suất của tiền đồng liệu có kéo dài?

4 tháng: Lãi suất thực chưa bằng một nửa lạm phát

Kỳ hạn tiết kiệm phổ biến được khách hàng lựa chọn ở các ngân hàng hiện nay là một tháng. Chỉ khoảng 30% số khách hàng gửi tiền chọn kỳ hạn ba tháng. Hiếm người gửi tiết kiệm sáu tháng trở lên.

Người gửi không muốn gửi dài vì có tâm lý ngóng chờ: Lãi suất có còn tăng? Giá vàng, USD có biến động? Gửi kỳ hạn ngắn khi cần có thể rút ra ứng phó linh hoạt. Ngân hàng không muốn áp dụng lãi suất cao kỳ hạn dài vì khả năng lãi suất có thể giảm cuối năm. Cả hai đều lo lợi ích trước mắt, ăn xổi ở thì.

Không thể trách người dân khi họ phải toan tính cho đồng tiền của mình như thế. Lạm phát bốn tháng đầu năm trung bình 2,4%/tháng, nhưng với trần lãi suất tiền đồng 14%/năm, tức 1,17%/tháng, lãi suất thực mà người gửi tiền có được đang âm. Không những âm mà còn âm trầm trọng. Lãi suất tiền gửi không bù được một nửa mức lạm phát bình quân mỗi tháng.

Cứ cho lạm phát cả năm là 15%, khoảng 0,675%/ tháng cho tám tháng còn lại, thì lãi suất thực cũng không thể dương. Do đó một kênh đầu tư nào đó có thể giữ giá trị tài sản, ngang bằng hoặc cao hơn lạm phát, sẽ được tìm đến. Giá nhà đất, giá cổ phiếu, giá đôla Mỹ đang giảm (so với tiền đồng). Nhìn qua nhìn lại, chỉ còn giá vàng vẫn đang tăng. Thế nên ngay cả khi ngân hàng chỉ giữ hộ vàng chứ không trả lãi suất, không ít người vẫn giữ vàng, gửi vàng ở ngân hàng. Xem ra nhất thời vàng vẫn là kênh trú ẩn an toàn!

Vẫn cơ chế hai lãi suất

Trong sổ tiết kiệm của khách hàng, cho dù ở kỳ hạn nào, lãi suất ghi cao nhất cũng chỉ 14%/năm. Trên thực tế lãi suất người gửi và ngân hàng thỏa thuận phổ biến ở 17% - 18%/năm, thậm chí 19% - 20%/năm cho những khoản tiền lớn hàng tỉ đồng. Cơ chế hai lãi suất vốn đã tồn tại từ nhiều tháng nay vẫn chưa thể nào chấm dứt.

Có nhiều lý do giải thích sự vượt trần của lãi suất huy động, song cái cốt lõi chính là ở chỗ vì sao chính sách tiền tệ đưa ra lại khiến các chủ thể liên quan phải “lách”? Hiện tượng “lách” không chỉ ở một tổ chức tín dụng, một khách hàng, mà hầu hết các ngân hàng và người gửi tiền đều “lách”. Đến mức người có 500 triệu đồng mà chấp nhận gửi tiền lãi suất 14%/năm bị cho là lạc hậu!

Trong khi đó, theo tinh thần của Nghị quyết 11, điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt tiền đồng phải linh hoạt, góp phần chống lạm phát. Sự linh hoạt ở đâu khi mà trên bảng điện tử của các ngân hàng, lãi suất tiết kiệm tiền đồng dàn hàng ngang, đồng loạt 14%/năm cho mọi kỳ hạn? Với trần lãi suất hiện hành, tiền đồng vẫn không được hút vào ngân hàng nhiều như mong muốn. Tiền vẫn trong lưu thông và vẫn là một trong những tác nhân gây lạm phát. Thử hỏi quan điểm chống lạm phát của lãi suất ở đâu?

Vì sao e ngại dự trữ bắt buộc?

Gió đã đổi chiều trên thị trường ngoại hối từ gần tháng nay, khi nguồn cung đôla Mỹ dồi dào và giá mua bán của các tổ chức tín dụng thấp hơn giá niêm yết của Sở Giao dịch NHNN. Thời điểm để NHNN mua ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại hối có lẽ không lúc nào tốt hơn lúc này. Thế nhưng NHNN vẫn chỉ mua vào ngoại tệ thận trọng, một cách nhỏ giọt vì e ngại phải “bơm” tiền đồng ra.

Liệu “khoanh tay” nhìn cung cầu ngoại tệ nghiêng về cung; trần lãi suất huy động bị “lách”; thanh khoản tiền đồng tại không ít ngân hàng căng thẳng có phải là góp phần kềm chế lạm phát lúc này? Chắc chắn là không! Khả năng tăng dự trữ bắt buộc tiền đồng đã được bỏ ngỏ thời gian qua để giải quyết vấn đề thanh khoản của các ngân hàng, song đến nay thanh khoản vẫn chưa hề được tháo gỡ. Việc tăng lãi suất thị trường mở, tái chiết khấu, tái cấp vốn ngang bằng trần lãi suất huy động không làm cho thanh khoản dịu đi. Thanh khoản và lãi suất cần một cách giải quyết dứt khoát và mạnh hơn.

Để đạt được mục đích rút bớt tiền trong lưu thông, để tiền chảy vào ngân hàng, biến các tổ chức tín dụng thành kênh trung chuyển hút tiền đồng, rào cản trần lãi suất huy động phải được dỡ bỏ.

Thay vào đó, có thể khống chế lãi suất cho vay. Song song cùng lúc NHNN có thể đưa tiền đồng ra mua ngoại tệ, đồng thời tăng dự trữ bắt buộc để cân bằng lượng tiền “bơm” ra. Các quốc gia trong khu vực, kể cả Trung Quốc, đã tăng dự trữ bắt buộc lên rất cao mặc dù lạm phát của họ thấp hơn đáng kể so với Việt Nam. Tại sao dự trữ bắt buộc – một công cụ chống lạm phát hiệu quả - được quốc tế áp dụng, còn ta thì không?

Lấy áp lực thanh khoản của các ngân hàng để biện minh cho việc không sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc đến nay đã không còn sức thuyết phục. Chính việc đưa tiền ra mua ngoại tệ và “giải phóng” lãi suất đầu vào sẽ tháo gỡ thanh khoản cho ngân hàng. Những động thái này cần phải được thực thi càng sớm càng tốt. Thị trường tiền tệ đang chuyển biến rất nhanh, mọi sự chậm trễ có thể phải trả giá đắt, nhất là khi dự trữ ngoại hối của chúng ta đã giảm nhiều so với vài năm trước.

Hải Lý

LAO ĐỘNG