Showing posts with label Hue. Show all posts
Showing posts with label Hue. Show all posts

Sunday, February 19, 2012

Hình ảnh Huế xưa



Thu Phong sưu tầm
  
Phần nhạc đệm ~ Hò Mái Nhì ~ Vân Khánh ca
Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
ai ngồi ai câu, ai sầu, ai thảm,
ai thương ai cảm, ai nhớ ai trông,
 thuyền ai thấp thoáng trên sông,
đã đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non…
Huế nhìn từ cao

Monday, September 26, 2011

26/09 Không bảo thủ: “Quen mắt thì răng trắng lại đẹp hơn đen”



Bài viết được đăng lúc 10:48:21 AM, 26.09.2011
Phan Kế Bính - Ảnh: vietthuc.org
THI THOẠI

       Nhân 90 năm ngày mất Phan Kế Bính (1921– 2011)

Phan Kế Bính hiệu là Bưu Văn, bút danh Liên Hồ Tử, người làng Thụy Khuê (làng Bưởi), huyện Hoàng Long, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội, thọ 46 tuổi (1875 - 1921).

Năm 1906, 31 tuổi, ông thi Hương, đỗ cử nhân Hán học nhưng không ra làm quan mà sớm bước chân vào làng báo từ năm 1907, cộng tác với Đăng cổ tùng báo,Lục tỉnh tân văn... phụ trách các phần Hán văn, dịch thuật, biên khảo. Ông là nhân vật trọng yếu trong ban biên tập “Đông Dương tạp chí”, chuyên giới thiệu tư tưởng, văn hóa, văn học Việt Nam và Trung Quốc. Từ đó, ông liên tục hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, báo chí. Kể từ khi thi đỗ cử nhân Hán học đến khi qua đời, tuy chỉ có 15 năm nhưng ông đã để lại cho hậu thế một di sản văn hóa lớn. Từ năm 1907, ông đã hoàn thành bản dịch bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của Trung Quốc “Tam quốc diễn nghĩa”, tiếp đó là các bản dịch “Đại Nam điển lệ toát yếu” (1915 - 1916),  Đại Nam nhất thống chí” (1916), “Việt Nam khai quốc chí truyện” (1917), “Đại Nam liệt truyện tiền biên, chính biên” (1918 - 1919). Ông là tác giả của sách truyện ký “Nam Hải dị nhân” (1909), “Hưng Đạo Đại Vương truyện” (1912), sách nghiên cứu “Văn học Việt Hán văn khảo” (1918). Đặc biệt, cuốn sách nghiên cứu “Việt Nam phong tục” (1915) đã đưa ông vào hàng các nhà văn hóa học sớm nhất Việt Nam.

Chỉ một chuyện ông viết sách Việt Nam phong tục đề cập đến văn minh nước nhà nhưng lại cổ súy cho đàn bà để răng trắng vào năm 1915 thì đã thấy ông thật là một con người đổi mới: “Đàn ông răng trắng thì chẳng sao, chớ đàn bà nhà tử tế bây giờ mà răng trắng thì coi khí ngộ một đôi chút. Nhưng lâu dần cũng phải quen mắt, có lẽ quen mắt rồi thì trắng lại đẹp hơn đen nhiều.”
Cách ông dẫn dắt vấn đề như thế là phong thái chủ đạo trong cuốn Việt Nam phong tục, đó là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, không đơn thuần miêu tả, dễ dàng nhận ra ở đó một thái độ khoa học, thẳng thắn mà khoan hòa. Trước khi bảo vệ hay đả phá một vấn đề nào đó thì ông luôn trình bày thật cặn kẽ cho người đọc hiểu thật kỹ, sau đó mới đưa ra ý kiến riêng, tình lí chỉnh chu, không bao giờ bàn đến một vấn đề gì mà tỏ ra chưa hiểu đến nơi đến chốn. Điều đó thật khác xa với những kẻ chạy đua thời cuộc, công kích để tỏ ra ta đây là tiến bộ nhưng thực chất lại vô trách nhiệm. Việt Nam đầu thế kỷ XX, người ta sống với rất nhiều tệ đoan, lớn nhất là các tục lệ “xôi thịt”, “một miếng giữa làng” mà tranh giành chút sĩ diện hảo. Lại thêm chuộng hình thức đạo đức giả, ma chay thì con cái đua nhau khóc lóc, thuê cả người ngoài về kêu gào lăn lộn để làng nước nghe thấy nhằm tỏ ra mình là con nhà hiếu thảo. Ông đả phá thẳng thừng những tệ đoan đó, như trong cách ông bàn đến đồng bóng: “Than ôi, đạo phù thủy cũng là đạo đồng cốt; còn thịnh hành ngày nào thì dân trí còn ngu dốt ngày ấy.”  Mấy năm gần đây các nhà xuất bản đều in lại đến hàng vạn bản cuốn Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, phần nào đáp ứng nhu cầu “phú quí sinh lễ nghĩa” của công chúng, bên cạnh đó cuốn sách cũng giúp cho công chúng suy cổ mà chiêm nghiệm, xem cái gì hay thì giữ, dở thì không theo.

Một việc khác, trong cuốn Việt Nam phong tục, tác giả cũng có những kiến giải súc tích về việc buôn bán. Ông chỉ ra rằng việc buôn bán của ta không được thịnh vượng bằng các nước khác là bởi: một là không coi trọng nghề buôn bán, phần nhiều chỉ nô nức về đường công danh. Hai là vì bản tính nhút nhát không dám đi xa, cái gì cũng chờ người ta mang đến tận nơi rồi mua tranh bán cướp với nhau. Ba là không có lòng thành thật, của thì một nhưng nói thách lên mười, “nhờ cái sơ ý của người ta mà kiếm ăn”, tính đoàn kết phường hội không có, mở hội này hội khác công việc chưa thành đã đem lòng ngờ vực nhau, nghi người ăn bớt, sinh ra chán, hội mau tan. Bốn là không có lòng kiên nhẫn, buôn bán động hơi thấy lỗ vốn một chút hoặc hơi vấp váp điều gì thì ngã lòng ngay. Năm là vì ưa phù hoa, lấy sĩ diện với ngoài, “buôn bán hơi được khá khá phát tài, đã vội đổi ngay bộ dáng cũ, cửa nhà trang hoàng rực rỡ, quần nọ áo kia, xe xe ngựa ngựa, coi ra dáng đại phú gia rồi. Chí khí nông nổi như vậy thì tích lũy làm sao cho nên một vốn lớn…”
Và ông đau đáu: “Ít lâu nay đã có người hiểu cách buôn bán là trọng, lập nên công này, việc khác cũng đã ra tuồng và cũng đã được hưởng những lợi quyền sung sướng ở trong việc buôn bán. Song nghìn người mới có được một vài người, chớ phần nhiều vì vẫn u u mê mê như trước mà dẫu có muốn mở mang cũng không có lòng thành tín và lòng kiên nhẫn để cho nên một cuộc hay.

Than ôi! Việc lí tài chung của một nước, trọng nhất là sự buôn bán. Đường buôn bán có thịnh thì nước mới thịnh, đường buôn bán mà suy thì nước cũng suy. Thử xem như các nước cường thịnh bây giờ nước nào không có tàu đi buôn đi nhiều nơi. Nước nào là nước không có hiệu buôn lập nhiều chốn, có đâu lại lạ như nước ta, không được một chuyến tàu nào xuất dương, một cửa hàng nào ở ngoại quốc, vậy mà cứ muốn vinh dự như các nước, thì vinh làm sao được?”
Những điều Phan Kế Bính nói cách đây gần thế kỷ, nhưng vẫn cứ là bài học mới mẻ dành cho các nhà doanh nghiệp hiện nay.

Nên nhớ cũng vào thời buổi đó, Tú Xương còn quặn thắt với sự thay đổi “ném bút lông đi, lấy bút chì”, “…Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”... Thế mới thấy tư tưởng của Phan Kế Bính là tân thời, là đổi mới rất sớm.

*

Là học giả uyên thâm, dĩ nhiên Phan Kế Bính quan tâm đến văn chương. Nhân kỷ niệm 90 năm ngày mất của ông, xin dẫn lại một bài viết ngắn, giọng văn thật trong sáng, ngõ hầu giúp bạn đọc yêu văn chương hiểu thêm về một con người có tư tưởng đổi mới cách đây đã gần một thế kỷ: 
Văn chương là gì?
Ta trông lên bầu trời trăng sao vằng vặc, sông Ngân hà lấp lánh, lúc cầu vồng mọc, khi áng mây bay, bóng ráng chiều hôm, cơn mưa buổi sớm, làm cho vui mắt ta, cái ấy gọi là văn chương của bầu trời.

Ta nhìn xem dưới đất, ngọn núi kia cao chót vót, khúc sông nọ chảy quanh co, chỗ rừng núi, nơi đầm lầy, cây cổ thụ um tùm, đám cỏ hoa sặc sỡ, nào thành nào quách, nào tháp nào chùa, nào đám đồn điền cây cối tốt tươi, nào chỗ thị thành lâu đài san sát, làm cho sướng mắt ta gọi là văn chương của trái đất.

Ta xem trong sách, nghe lời nghị luận của những bậc thánh hiền, xem các bài trước tác của các nhà văn sĩ, câu văn, giọng nói, khúc hát, điệu ca, êm như tiếng đàn tiếng địch, vang như tiếng sáo tiếng chuông, làm cho vui tai ta, sướng dạ ta, gọi là văn chương của loài người.

Văn là gì? Văn là vẻ đẹp. Chương là gì? Chương là vẻ sáng. Lời nói của người ta tựa như có vẻ đẹp, vẻ sáng cho nên gọi là văn chương.”
T.T
(271/09-11)

26/09 Bước đầu tìm hiểu văn học Thừa Thiên - Huế



Bài viết được đăng lúc 11:02:20 AM, 26.09.2011
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm - Ảnh: TL
NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Tìm hiểu diện mạo văn học một vùng đất là tìm hiểu những vấn đề gì?

Theo tôi, chính là tìm hiểu đội ngũ tác giả và tác phẩm của chính vùng đất ấy trong tương quan với đời sống văn học cả nước. Sở dĩ phải đặt vấn đề như vậy vì khó có thể cô lập một tác giả là của riêng của vùng đất này mà không thể là của một vùng đất khác hay của cả nước. Ví dụ: Tố Hữu, có một thời kỳ, ông là tác giả của Huế (Từ ấy) nhưng sau đó, là tác giả cả nước. Ngược lại, nhiều người làm thơ về Huế nhưng không phải tác giả của Thừa Thiên - Huế. Đúng ra, chỉ nên coi một người là tác giả của một vùng đất, khi họ có một thời gian gắn bó, “ăn chịu”, tập nhiễm “văn chương nết đất” của xứ sở ấy, rồi từ đó, góp phần làm nên máu thịt của một vùng văn học.

Nhưng diện mạo văn học không chỉ là tác giả - tác phẩm, cho dù đó là nhân tố chủ yếu nhất, mà còn cần tính đến công chúng văn học, thị trường văn học, mối quan hệ văn học và giới cầm quyền, việc giảng dạy, phổ biến văn học, hệ thống thông tin, xuất bản văn học, thư viện và ấn loát sách báo, các thư xã và hội đoàn văn học, các cơ quan nghiên cứu văn học và văn hóa, các Mạnh Thường Quân văn học…, nói chung là không gian văn hóa trên mảnh đất ấy.

Chỉ trong một không gian văn hóa cụ thể như vậy mới có thể nói đến một đời sống văn học thực sự. Đó là chưa nói đến mối quan hệ gần gũi của văn học với chính trị, nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo… vốn bao quanh và không ngừng tác động lên đời sống văn học.
*

Nếu coi Thừa Thiên - Huế trở về với sông núi Đại Việt là bắt đầu từ năm 1306, thì theo tiêu chí văn học trên, Thừa Thiên - Huế thực sự có một đời sống văn học có thể kể từ năm 1600, nghĩa là vào thời điểm Nguyễn Hoàng trở lại Thừa Thiên - Huế lần thứ hai với quyết tâm tách khỏi Bắc Hà, lập vùng cát cứ mới cho họ Nguyễn. Nhà sử học Trần Trọng Kim nhận định “Từ đấy trở đi, Nam Bắc phân biệt” (Việt Nam sử lược). Chính đời sống văn hóa tinh thần của giải đất Thuận Quảng sau năm 1600 đã định hình và khu biệt nhất định với văn học Thăng Long là cơ sở hình thành đời sống văn học ở Thừa Thiên - Huế cả về đội ngũ, chủ đề, bút pháp và tầm ảnh hưởng của nó. Trước năm 1600 không phải tại xứ Thuận Hóa không có thơ văn, nhưng những tên tuổi như Trương Hán Siêu, Nguyễn Phi Khanh, Đặng Tất, Đặng Dung, Bùi Dục Tài, Dương Văn An… trong các thời Trần, Hồ, Lê, Mạc chưa đủ làm nên một đời sống văn học, nhiều lắm chỉ gợi lên một số trang viết về một vùng biên viễn xa xôi, không ổn định.

Sau chuyến trở về lịch sử của Nguyễn Hoàng, và tiếp đó với quá trình sinh cơ lập nghiệp của 9 đời chúa Nguyễn, xứ Đàng Trong từ chỗ chỉ là vùng Thuận Quảng, sau hơn một thế kỷ, đã vươn dài đến toàn cõi Nam Bộ, mở rộng địa bàn sinh tụ của cả dân tộc.

Văn học Thừa Thiên - Huế ra đời cùng với quá trình hình thành thế đứng chính trị của chúa Nguyễn: lấy “Bắc cự Nam tiến” để sống còn, quyết liệt mưu sinh nhằm “vạn đại dung thân” và kiên trì tích lũy để xây dựng một vùng đất mới cả về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, sẵn sàng chấp nhận các sắc tộc, tôn giáo và lối sống khác biệt, rộng mở về nội trị (đón nhận Đào Duy Từ) chú trọng ngoại giao (chấp nhận người Hoa nhập cư, mở rộng thương cảng Hội An và Biên Hòa Gia Định), về khách quan là cổ vũ cho khát vọng sáng nghiệp của các thế hệ người Việt Nam và các nghệ sĩ của họ. Người ta không ngạc nhiên khi hàng loạt tài năng xứ Bắc đã lần lượt đến Huế mong góp phần cho sự phát triển mới của đất nước: từ Đào Duy Từ, Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhiệm, cho đến Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Văn Siêu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Khuyến, Phan Huy Chú, sau đó là Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền và tiếp đó là giới văn hóa, văn nhân hiện đại…, hình thành nên trung tâm văn học Thuận Hóa - một trong ba trung tâm văn hóa và văn học của cả nước.

Có thể nói trong buổi đầu của nó, văn học Thừa Thiên - Huế vừa bảo tồn những truyền thống văn học Lý Trần Lê trên nền tảng ý thức hệ Nho giáo và chủ nghĩa yêu nước cố hữu, vừa năng động tiến tới những giá trị mới trong thời cận đại giữa khung cảnh giao lưu Đông Nam Á và phương Tây đang mở ra (1).

Chính sự tiếp biến mạnh mẽ, không ngừng ở Đàng Trong đã làm cho Thừa Thiên - Huế nhanh chóng trở thành một thủ phủ vững mạnh, giàu sức sống cả về kinh tế và văn hóa của toàn xứ. Tại đây, sau 175 năm gần như cắt đứt với Bắc Hà đã định hình một không gian văn học mới mà Lê Quí Đôn - một đại diện của “áo mão triều đình”, khi đến đây làm hiệp trấn, đã tiếp quản một thư khố khá đồ sộ của chúa Nguyễn bỏ lại để lấy tư liệu biên soạn bộ “Phủ biên tạp lục” (Những ghi chép về việc vỗ yên vùng biên trấn) ít nhiều mang tính kiểm kê tài sản đất Nam Hà vừa thu được, đã phải ngạc nhiên thốt lên“hạt giống văn chương của cả một phương vẫn dằng dặc không dứt, thật là đáng khen lắm”. Và để chứng minh cho nhận định đó, Lê Quí Đôn cũng đã chép lại ít nhiều thơ văn của 5 tác giả: Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Quang Tiền, Nguyễn Đăng Thịnh, Mạc Thiên Tứ, Ngô Thế Lân. Tuy nhiên ông cũng đã bỏ qua không ít tác giả quan trọng của Đàng Trong mà trong đó phải kể đến ba người rất sáng giá là Đào Duy Từ - tác giả của những bài vãn nôm và có thể là tác giả tiên khu của các pho tuồng Đàng Trong nổi tiếng; Nguyễn Khoa Chiêm, tác giả “Nam Triều công nghiệp diễn chí”, một trong hai bộ tiểu thuyết chương hồi đầu tiên của nước ta và Phạm Lam Anh với tập thơ“Chiến cổ đường thi tập” mà theo bình luận đương thời thì tài năng không kém gì Hồ Xuân Hương cả. Rõ ràng Lê Quí Đôn vẫn không thoát khỏi thiên kiến vùng miền trong đánh giá văn học Đàng Trong. Bản thân chữ “Phủ biên” (vỗ yên vùng biên viễn) cũng đã ít nhiều cho thấy sắc thái chính trị của công trình nghiên cứu khá quan trọng này.
*

Tìm hiểu văn học Thừa Thiên - Huế không thể không tính đến quá trình vận động và biến đổi của Thừa Thiên - Huế trong lịch sử. Hơn 400 năm qua, địa bàn Thừa Thiên - Huế đã có 3 lần được sắp xếp lại đã tác động rõ rệt đến tầm vóc và vai trò của đời sống văn học của nó.

1Thừa Thiên - Huế là thủ phủ của xứ Đàng Trong (Từ 1600 đến 1801) bao gồm thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn (Nguyễn Huệ). Đặc điểm của thời kỳ này là:

Nổ ra chiến tranh Trịnh - Nguyễn trong 45 năm, dẫn đến chia cắt hai miền; tiếp đó là cuộc nổi dậy của Tây Sơn xóa bỏ cát cứ Trịnh Nguyễn, nhưng không bao lâu nhà Tây Sơn cũng sụp đổ, trả lại vương quyền cho các vua Nguyễn. Không thể tưởng tượng nỗi lầm than, khổ cực của nhân dân đến như thế nào. Tuy nhiên trên vùng đất mới cũng có những thời kỳ ổn định khá dài, tiềm lực nông nghiệp của đồng bằng Nam Bộ bổ sung cho kinh tế hàng hóa và thương mại phát triển, giao lưu hàng hóa giữa Đàng Trong và các nước khu vực tăng nhanh, theo đó giao lưu văn hóa, sinh hoạt tôn giáo khá nhộn nhịp. Lê Quí Đôn nhận xét: “Thuận Hóa được bình yên đã lâu, công tư đều dồi dào, mặc dùng tươi đẹp… Binh sĩ đều ngồi chiếu mây, dựa quả tựa hoa, ôm lò hương cổ, hãm chè hảo hạng, uống chén sứ bịt bạc và nhổ ống nhổ thau, đĩa bát ăn uống thì không cái gì là không phải hàng Bắc, một bữa cơm ba bát lớn. Đàn bà, con gái đều mặc áo the, là và hàng hoa, thêu hoa ở cổ tròn. Coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực”(2). Nhận xét đó giúp ta thấy sinh hoạt lối sống ở Thuận Hóa đã mang tính thị dân rõ rệt. Điều đáng chú ý là cơ hội nâng cao mức sống đã đến với binh sĩ và phụ nữ bình dân. Xu hướng tiêu dùng không dừng lại ở bền chắc, no đủ mà đã có phần “ăn ngon, mặc đẹp” thậm chí xa xỉ, chắc chắn ít nhiều liên hệ với tiêu dùng và lối sống nước ngoài. Xu hướng “Cư Nho mộ Thích” lan tràn trong quan lại và người có học. Chúa Nguyễn Phúc Chu cho mời hòa thượng Trung Quốc qua Thuận Hóa giảng đạo. Diễn xướng dân gian phát triển. Đền thờ mẫu mở ra nhiều nơi. Tuy giới quân nhân giữ vai trò cao nhưng nho sinh cũng được kính trọng. Thơ văn được in, khắc trên di tích và đồ dùng hàng ngày. Người Đàng Trong tâm tình phác thực, chuộng lối nghe - nhìn, văn chương thích gợi điều đạo lý hơn trau chuốt từ ngữ, nhưng cũng giàu những xúc cảm chân thành, mạnh mẽ. Văn học Thừa Thiên - Huế đã mang sắc thái đó.

2Thừa Thiên - Huế là kinh đô cả nước, là điểm hội tụ quốc gia kéo dài trong gần 145 năm của Triều Nguyễn, mặc dầu trong 60 năm cuối cùng, dưới ách thống trị của Pháp, vương triều Nguyễn chỉ còn mang tính biểu trưng, giúp rập cho nền cai trị của chủ nghĩa thực dân.

Ở thời điểm trị vì của những ông vua đầu tiên, vương triều Nguyễn thực sự có công trong sự nghiệp thống nhất và ổn định quốc gia sau một chặng dài chia cắt và mở nước đầy rối ren, biến động. Việt Nam trở thành quốc gia lớn ở Đông Nam Á, có hai vùng châu thổ giàu có, chính thức xác lập chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, thống nhất hành chính và luật pháp. Nhà sử học Trần Văn Giàu cho rằng: “Sự thống nhất về chính trị thúc đẩy sự phát triển về văn hóa rất nhiều”(3). Ngoài bộ máy thế quyền, mỗi làng xã trong cả nước đều có những vị thành hoàng bổn thổ được triều đình phong cấp ngôi vị làm người dẫn dắt tinh thần cho cộng đồng làng xóm. Một năm sau ngày lên ngôi, Gia Long cho mở Quốc Tử Giám tại Huế. Minh Mạng tổ chức thi Hội và lập Duyệt Thị Đường - nhà hát đầu tiên của triều đình để giữ gìn các chuẩn mực nghệ thuật trình diễn. Cuối đời, ông còn cho mở trường Tứ Dịch quán để dạy tiếng Xiêm, tiếng Pháp. Những bộ sử, bộ dư địa chí quan trọng được khởi thảo để hệ thống hóa lịch sử và địa lý dân tộc, xóa bỏ những khoảng trắng mơ hồ. Huế trở thành điểm hội tụ nhân tài ở cả hai miền. Tiếng nói chữ viết của dân tộc có một bước vận động mạnh mẽ, tiến nhanh từ chữ Hán, đến chữ Nôm rồi đến chữ Quốc ngữ qua thể thức hành chính, khoa cử và văn chương học thuật. Trong khi các bài thơ cổ điển được khắc họa dưới mái các cung điện thì ngoài dân gian, nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật của công chúng tăng nhanh kéo theo sự phát triển của hội hè, gánh hát, tuồng tích, chuyện vè dân gian và những phương thức truyền bá sách vở hiện đại qua các trào lưu văn thân, Cần Vương, Duy Tân kể cả việc du nhập sách vở từ Hồng Công, Thượng Hải. Đáng chú ý là sự có mặt của người Pháp ở Đông Dương đã gây nên những biến đổi sâu xa trong lòng xã hội Việt Nam theo trào lưu canh tân, Âu hóa, gieo mầm nhân văn, dân chủ, độc lập, tự do, hóa giải một bước sức chi phối của văn hóa Trung Hoa để tiếp cận văn minh và tiến bộ của thế giới hiện đại. Trong bối cảnh đó cuộc tìm kiếm lý tưởng của những người cộng sản, đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc đã được nhân dân chấp nhận, nhanh chóng tập hợp toàn dân đứng lên đuổi Pháp giành lại nền độc lập, xóa bỏ chủ nghĩa phong kiến lâu đời ở nước ta.

Đây là thời kỳ văn học Thừa Thiên - Huế mang tính đại diện rõ rệt cho văn học và văn hóa cả nước, vừa đông đảo về đội ngũ, vừa phong phú về thể tài, đa dạng về chủ đề, phong cách, sôi nổi những tìm kiếm mới, xuất hiện nhiều tài năng, nhiều cống hiến.

3Từ năm 1945 trở lại đây, Huế trở thành tỉnh lỵ một tỉnh, nhưng vẫn giữ vị trí một trung tâm văn hóa, hình ảnh một cố đô lịch sử.

65 năm qua, với vị trí thành phố văn hóa - lịch sử, nơi có đội ngũ nhân sĩ và trí thức nhiều thế hệ, có hệ thống các trường đại học, trung học và trường nghệ thuật, một hệ thống di sản vật thể và phi vật thể được thế giới và quốc gia công nhận, những ngành nghề truyền thống khéo tay, mặc dù không còn vai trò trung tâm đất nước, Huế vẫn giữ được vị trí tiêu biểu cho xu hướng chính trị tinh thần và cốt cách văn hóa dân tộc đối với cả nước. Theo dõi phong trào đô thị Huế trước năm 1975 dễ nhận ra tiếng nói quan trọng của giới trí thức và sinh viên Huế đối với dư luận trong nước và quốc tế.

Những người viết văn, nghiên cứu và giảng dạy văn học ở Thừa Thiên - Huế trong những năm tháng đó được tập hợp từ nhiều nguồn: những tác giả thế hệ chống Pháp, thế hệ chống Mỹ, những nhà văn gắn bó với đời sống đô thị và phong trào đấu tranh đô thị, những nhà văn cầm bút sau ngày đất nước thống nhất. Dấu ấn rõ nét nhất ở các nhà văn Thừa Thiên - Huế từ 1945 trở lại đây là sự gần gũi của họ về ngôn ngữ tiếng Việt trong biểu đạt và tính xã hội trong chủ đề sáng tạo cho dù họ có thể rất khác nhau về chính kiến và quan niệm sống.

Một đội ngũ như thế là thực sự đa dạng, tạo được dáng vẻ riêng, không phải nơi nào cũng có được. Tuy nhiên trong sự đa dạng đó, do hoàn cảnh lịch sử, một số tác giả sống và viết trong lòng đô thị (chẳng hạn Bửu Kế, Túy Hồng, Đỗ Tốn, Nguyễn Thị Hoàng, Phan Nhất Nam, Trụ Vũ,…) chưa bao giờ được thống kê và đánh giá đầy đủ.
*

Một số đặc điểm làm nên vẻ riêng vốn có của văn học Thừa Thiên - Huế:

- Ra đời trong khung cảnh đất nước chia cắt rồi trở thành một trung tâm của văn học trung đại, văn học thừa Thiên - Huế gắn bó với dòng chảy lớn của nền văn học quốc gia cả về ý thức hệ và những định hướng lớn: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân văn, khát vọng thể hiện nhân cách và dân chủ, không ngừng đổi mới ngôn ngữ sáng tạo. Nó có vinh dự và may mắn tập hợp một đội ngũ tác giả rộng rãi mà nhiều người là đỉnh cao của văn chương Việt Nam trong từng thời kỳ: Nguyễn Du, Nguyễn Cư Trinh, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Đào Tấn, Miên Thẩm, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Tố Hữu, Hải Triều, Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Thanh Tịnh, Lưu Trọng Lư, Trần Thanh Mại,… tạo nên phong khí và sức ảnh hưởng nhiều mặt đến văn học trung đại và cận - hiện đại của nước nhà. Nó góp phần hình thành chất “Huế” tuy khó xác định nhưng không phải không rõ nét trong không gian văn hóa Huế. Tuy nhiên do nhiều biến động lịch sử và ách cai trị nặng nề của chủ nghĩa thực dân, một thị trường báo chí và văn chương hạn hẹp, nhiều tác giả ở Huế cũng chỉ có mặt với “giải đất hẹp” một thời gian, rồi cũng đi xa để kiếm sống và phát huy nghề nghiệp. Tình hình đó tiếp tục diễn biến cho đến ngày nay.

- Đáng chú ý là sự xuất hiện khá tập trung các tác giả thuộc giai tầng quý tộc - quan lại của triều đình Huế hình thành nên một dòng văn học cung đìnhcó vị trí và sức ảnh hưởng nhất định đến đời sống văn học cả nước vào nửa cuối thế kỷ 19 cần được nghiên cứu và xác định. Đó là các ông Miênông Hồng, ông Ưng, lớp con - cháu - chắt của vua Minh Mạng, vốn được học hành chu đáo nhưng phần lớn không được đi thi (theo qui định) và ra làm quan, nhưng sống khá giả nhờ bổng lộc triều đình và quyền thừa kế. Trừ một số thoái hóa trong lối sống nhàn rỗi, phần đông giữ được phong độ của tầng lớp quý tộc triều đình, giữ gìn gia phong, học phong theo ý thức hệ nho gia chính thống, lại được khuyến khích của các ông vua hiếu học như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, họ đã tập hợp lại trong khuôn khổ gia tộc (Tôn Nhơn phủ), nhà trường (Quốc Tử Giám), thi xã (Mặc Vân thi xã) để cùng với các quan lại hay chữ trong triều thường xuyên xướng họa, phẩm bình, in ấn, lưu hành các thi tập, văn tập. Sinh hoạt văn học rộn ràng đến nỗi lôi cuốn cả các công chúa, hoàng nữ, nữ sử, cho đến giới tu hành cũng tham dự vào đời sống văn chương. Lật lại “Nguyễn Phúc tộc thế phả” cũng có thể đếm được vài chục người là các hoàng thân quốc thích có các văn tập, thi tập. Đáng kể nhất là anh em ruột nhà Tùng Thiện vương Miên Thẩm, Nguyệt Đình, Mai Am, Huệ Phố, rồi Tuy Lý vương Miên Trinh, Tương An quận vương Miên Bửu, Lạc Biên quận công Miên Khoan, Thọ Xuân vương Miên Định… cùng với các danh sĩ trong triều đình như Phan Đình Phùng, Nguyễn Hàm Ninh, Phan Thanh Giản, Cao Bá Quát, Trương Đăng Quế… làm nên danh tiếng một trào lưu văn học:

Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán - Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường 

Đón sứ giả Trung Quốc Lao Sùng Quang vào Huế dự lễ phong vương cho mình, Tự Đức không quên cho thu thập các trước tác quan trọng của Nguyễn Cư Trinh, Miên Thẩm, Miên Trinh làm bộ “Phong nhã thống biên” để giới thiệu cái hay cái đẹp của văn chương Việt vào thời điểm đó. Điều đáng chú ý là giới văn nhân cung đình Việt Nam dẫu xuất thân là quý tộc, nhưng vốn am hiểu sâu xa truyền thống thi ca Phương Đông và trách nhiệm kẻ sĩ, đã không dừng lại ở lối viết chúc tụng, thù tạc, hưởng lạc một bề mà trong nhiều trang viết cũng đã nghiêng xuống “thương sinh”, cám cảnh với nạn nước và thân phận cay đắng của kẻ sĩ bất phùng thời. Đó cũng là nét khả thủ của văn học cung đình Huế.

Thử đọc bài “Cảm sự” của Miên Thẩm (qua bản dịch Dư Lê):

I.

Tai ách liền năm đến,
Giặc cướp bao giờ an?
Sắc xuân buồn rười rượi
Tin Nam toàn khóc than.
Chỉ huy dũng khí nhỏ,
Thành lớn bỏ giặc tràn.
Xoay trời cầu vua thánh,
Việc nước rối muôn vàn.
II.

Ùn ùn dân bỏ xóm,
Ầm ầm sóng kình vang.
Nuôi quân, đất kiệt sức,
Mưu nước, trời hoang mang.
Mong sao sớm quyết định
Triều đình vốn giỏi dang
Giữa khuya trở gối dậy,
Nhìn bèo, lệ rơi khan!

Một giọng thơ thế sự bi phẫn như thế không thể coi thường được.

Hay một bài “Vị nông ngâm” (Ngâm vịnh nhà nông) của Minh Mạng (qua bản dịch Hải Trung):

Đêm đón mưa vui trận trận qua,/ Hạt tuôn từng đợt gió ngân nga
Hắt hiu giá rét mùa xanh lá/ Lõm bõm đồng sâu áo bạc tà
Mặc ấm ghi ơn người dệt vải/ Ăn no nhớ nghĩa kẻ đồng xa
Bao đời trọng nỗi gian nan ấy/ Chẳng lúc nào ngơi tiếng ngợi ca.
Đó không phải là tiếng nói của một ông vua, mà là tiếng lòng của một nhà thơ thực sự.

Điều đáng tiếc là trong bộ Tổng tập Văn học Việt Nam khá đồ sộ do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1993, những tác giả hoàng gia Nguyễn chỉ có ba người được đưa vào hợp tuyển là Miên Thẩm, Mai Am, Huệ Phố, còn hàng loạt các tác giả khác, kể cả Miên Trinh, Minh Mạng, Tự Đức cũng bị gạt ra, cho thấy dòng văn học cung đình này không được nghiên cứu và giới thiệu đúng như vai trò của nó. Đó là một thiệt thòi cho văn học Việt Nam.

- Một đặc điểm khác đáng chú ý của văn học Thừa Thiên - Huế là thể loại kịch bản sân khấu tuồng rất phong phú. Từ thời các chúa Nguyễn (thế kỷ 17,18) kịch bản tuồng đã được lưu hành. Đến thế kỷ 19 thì sân khấu tuồng định hình với một phong trào viết tuồng sôi nổi trong nho sinh và những nhà danh gia vọng tộc, nhiều văn bản tuồng trở thành tác phẩm cổ điển của văn học đất nước. Có thể nói cùng với quốc gia bước vào thời kỳ cường thịnh, bộ máy cung đình ngày càng chính quy, bề thế, sinh hoạt xã hội đạt đến mức dồi dào nhất định thì nhu cầu giải trí, trao đổi tinh thần qua nghệ thuật sân khấu chính thống đã trở thành nhu cầu tất yếu của vua quan, giới có học và dân chúng. Khi công chúng đã say mê thì sân khấu trở thành bộ mặt chính của nghệ thuật và viết kịch bản sân khấu trở thành sinh hoạt văn học thu hút nhất. Ở Đàng Trong và một phần Đàng Ngoài, sân khấu tuồng thu hút sự hưởng ứng sáng tác, biểu diễn, thưởng thức từ thành thị đến thôn quê, cả triều đình và chốn hương đảng. Đó là hiện tượng có một không hai của văn học Việt Nam vào thế kỷ 19. Ở Pháp cũng có một thời đại bùng nổ của văn học sân khấu với những đại diện nổi tiếng như Racine, Corneille, Molière… làm nên diện mạo quan trọng của văn chương Pháp. Ở ta văn học tuồng chưa được chú ý nghiên cứu, người ta chỉ coi đó là công việc riêng của giới làm sân khấu. Giáo sư Hoàng Châu Ký từng khắc khoải: “Nếu không phát hiện, nghiên cứu và đánh giá đầy đủ về văn học Tuồng trong văn học sử Việt Nam thì không những thiệt thòi cho bộ phận văn học này mà còn là thiếu sót đối với một mảng lớn của văn học miền Nam trước đây”(4).

Nếu kết hợp hai bài báo của bà Đạm Phương viết năm 1923 và 1924 về tuồng hát An Nam và bài báo 1922 của ông Nguyễn Khoa Tùng chồng bà về văn chương quốc âm thì hai ông bà đều đánh giá cao đời sống văn chương tuồng hát ở kinh đô Huế kể từ thời các chúa Nguyễn, đến thời Trung hưng của Nguyễn Ánh ở miền Nam và đặc biệt là giai đoạn các vua Nguyễn, kể từ khi Minh Mạng lên ngôi (1920): “Đến như các Đức ông hoàng thời mỗi ngài đều có đặt một vài pho tuồng hết thảy. Đức ông Diên Khánh soạn pho tuồng“An Biên”; đức ông Nam Sách soạn pho “Bình Yên”; đức ông Trấn Biên soạn pho “Tạc Khống”. Triều Tự Đức ngài ngự chế ra pho “Vạn bửu trình tường”, pho “Gia ngẫu”, pho “Hạc lâm”, pho “Hàm hòa”; các quan như cụ Đào Đăng Tấn có soạn pho “Tứ quốc lai vương”, “Tứ dân”, “Tứ thú”, “Diễn võ đình” v.v… Ấy kể đại khái mà nghe, những pho tuồng có danh tiếng, chớ như lấy số mục mà kể, thời ngót có trăm bộ”(5). Không những soạn tuồng mà họ còn bỏ tiền ra xây sân khấu, nuôi đội hát trong nhà, chiều chuộng đào kép đến nỗi Hoàng Quang, tác giả “Hoài Nam ca khúc” đã lên tiếng chỉ trích “Ngọc vàng con hát, lấm bùn thằng dân”.

Theo tôi, trên một phương diện khác, giọng văn trong ngôn ngữ sân khấu tuồng cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến giọng thơ tự do của các nhà thơ mới, nhất là các nhà thơ miền Trung vốn bắt nhạy ngôn ngữ tuồng.

Vì những lý do trên cần đẩy mạnh hơn nữa việc sưu tầm và phát triển văn học sân khấu tuồng Huế - một di sản lớn của miền Trung và cả nước.
*

- Một điểm cũng cần lưu ý là sự tôn trọng và mềm dẻo trong đối xử về văn hóa và văn học của nhà cầm quyền dưới thời các chúa Nguyễn và vua Nguyễn đã ít nhiều mở đường cho sự phát triển văn học Đàng Trong và sau đó là cả nước đạt tới những sắc thái mới.

Ở Trung Quốc, đây là thời kỳ cai trị của nhà Thanh, một thời đại nồng nặc các vụ án văn tự. Chỉ chung quanh hai chữ Minh và Thanh biết bao người chết oan! Ở nước ta, tại kinh thành Thuận Hóa, rất ít những vụ án văn tự xảy ra. Nghe nói Tự Đức dọa đánh đòn Nguyễn Du vì câu “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” khi viết về Từ Hải. Nhưng cũng chỉ dọa cho vui chứ không cấm Truyện Kiều. Trên ngàn bài thơ mà nhiều bài “dễ động chạm” của Cao Bá Quát, kể cả khi ông nổi loạn chống Tự Đức, bị giết, cũng không hề bị cấm đoán tiêu hủy vì vậy đến nay còn giữ được khá nhiều thơ văn ông. Thơ văn Phan Đình Phùng, Phan Thanh Giản, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp…, những người đều “có chuyện” với triều đình nhưng cũng không bị hủy hoại.

Đào Duy Từ không sống nổi với Đàng Ngoài nhưng đến Đàng Trong thì được trọng vọng. Hoạt động sân khấu Đàng Ngoài là nghề nghiệp của tầng lớp dưới phục vụ tầng lớp trên, con hát bao đời bị coi rẻ, nhưng sân khấu tuồng ở Huế lại là công việc ưa thích, sang trọng của vua quan và giới có tiền, có học. Người Đàng Trong mua các loại tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa khá sớm, phiên dịch rộng rãi cho mọi người xem, dịch Kinh Thánh cho tín đồ đọc, vì vậy các thể loại văn chương tự sự đến với báo chí và văn học miền Nam rất sớm, trong khi đó chúa Trịnh Đàng Ngoài ra nhiều sắc chỉ cấm đoán kể cả truyện nôm khuyết danh. Ở Huế, bên cạnh văn chương bác học dành cho người biết chữ, nhân dân thưởng thức văn học chủ yếu qua hình thức kể vè, Vân Tiên, Mụ Đội, Kinh Đô Thất Thủ…, không ít bài chế giễu vua quan, phê phán cung đình thối nát, chọc ghẹo cậu Tôn, cậu Ấm… Các câu ca dao, tiếu lâm cung đình, bình phẩm chính sự cũng nhiều nhưng cũng không thấy có biểu hiện gì bắt bớ, cấm đoán gay gắt. Ngôn ngữ thiền học đến với thơ văn Thừa Thiên - Huế khá sớm, kể từ thời Nguyễn Du, Miên Thẩm… làm nên vẻ đẹp riêng của văn chương đất thần kinh.

Tóm lại, sự quí trọng văn học và thái độ cởi mở đối với văn học nghệ thuật của nhà Nguyễn là điều đáng ghi nhận và nghiên cứu.


Với bốn đặc điểm trên có thể nói văn học Thừa Thiên - Huế từ rất sớm đã mang được tầm vóc xứng đáng và cốt cách khác biệt, riêng có của nó, làm nên dấu ấn và vẻ đẹp đóng góp vào đời sống văn chương đất nước. Vì những lẽ trên, theo tôi việc nghiên cứu có hệ thống về văn học Thừa Thiên - Huế, gắn với việc lưu niệm, giữ gìn hình ảnh hiện vật các văn nghệ sĩ Huế là điều đáng trông đợi.

N.K.Đ  
(271/09-11)


---------------
(1) Đọc thêm bài “Văn học Đàng Trong” của Cao Tự Thanh, trong “Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX, những vấn đề lí luận và lịch sử”, Trần Ngọc Vương chủ biên, Nxb Giáo dục, năm 2007, tr. 270 - 346.
(2) Phủ biên tạp lục, Lê Quí Đôn, Nxb Khoa học xã hội, 1977, tr.335.
(3) Địa chí Thừa Thiên - Huế (Phần lịch sử), Nxb Khoa học xã hội, 2005, tr.153.
(4) Tổng tập văn học Việt nam, tập 15A, Nxb Khoa học xã hội, 1994, tr.5
(5) Văn chương quốc âm, báo Hữu Thanh, số 20, ngày 15.5.1922.

Tuesday, August 16, 2011

16/08 Sớm đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương

07:18 | 16/08/2011
Thực hiện Kết luận 48 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020, đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, CHỦ TỊCH HĐND TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NGUYỄN NGỌC THIỆN cho biết, tại Kỳ họp thứ Hai HĐND Thừa Thiên Huế đã thảo luận và thống nhất 9 nhóm giải pháp quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu này.
- Chủ tịch đánh giá như thế nào về kết quả Kỳ họp thứ Hai của HĐND Thừa Thiên Huế Khóa VI?
Sau 2 ngày làm việc tích cực và khẩn trương, với tinh thần trách nhiệm cao của đại biểu, Kỳ họp thứ Hai, HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế Khóa VI đã thành công tốt đẹp. Ngoài tập trung xem xét kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT – XH, bảo đảm AN – QP 6 tháng đầu năm, quyết định 7 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu các tháng còn lại của năm, gồm: tập trung thực hiện Đề án xây dựng Thừa Thiên Huế thành thành phố trực thuộc Trung ương; tiếp tục các giải pháp tăng thu ngân sách, thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ; chỉ đạo phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh cải cách hành chính... HĐND còn quyết định nhiều nội dung quan trọng khác như: nhiệm vụ phát triển KT - XH 5 năm 2011 - 2015; đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em giai đoạn 2011 - 2016; quy định một số chế độ, định mức chi tiêu tài chính phục vụ hoạt động HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2011 - 2016; ban hành nội quy kỳ họp HĐND tỉnh Khóa VI, nhiệm kỳ 2011 - 2016... Phiên chất vấn và trả lời chất vấn cũng khá sôi động, tập trung vào những vấn đề bức xúc đông đảo cử tri và đại biểu quan tâm như: quản lý, tổ chức biểu diễn ca Huế, khai thác cát sạn trái phép, bảo đảm an sinh xã hội... Với tinh thần trách nhiệm, lãnh đạo ngành hữu quan đã thẳng thắn thừa nhận những bất cập liên quan và hứa nhiều giải pháp khắc phục.
- Thưa Chủ tịch, vừa qua Bộ chính trị đã có Kết luận 48 về xây dựng và phát triển Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020, tại kỳ họp này, HĐND tỉnh đã có những quyết định và giải pháp gì thực hiện mục tiêu này?
Thực hiện kết luận số 48 – KL/TW của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp tích cực. Sau 2 năm thực hiện Kết luận, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức do khủng hoảng kinh tế, lạm phát nhưng dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, sự giúp đỡ của các bộ, ngành Trung ương, Đảng bộ, quân và dân Thừa Thiên Huế đã nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu quan trọng, tạo thêm thế và lực mới, mở ra nhiều triển vọng để xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Theo chức năng, nhiệm vụ đã được quy định, HĐND tỉnh đã xem xét, ban hành nhiều nghị quyết làm cơ sở pháp lý để UBND tỉnh quyết định những giải pháp, biện pháp nhằm thực hiện thắng lợi Kết luận 48 của Bộ Chính trị. Tại kỳ họp này, sau khi tập trung bàn thảo HĐND đã ban hành nghị quyết về nhiệm vụ phát triển KT - XH 5 năm 2011 - 2015 với mục tiêu xuyên suốt đến năm 2015 là: phấn đấu xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là trung tâm của khu vực miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học và công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục - đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao; kinh tế phát triển vững chắc, dân chủ, kỷ cương, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; quốc phòng - an ninh được tăng cường, chính trị - xã hội ổn định.
Để thực hiện đạt mục tiêu này, HĐND tỉnh đã phát huy trí tuệ tập thể của đại biểu trong thảo luận, xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cần thực hiện gồm: huy động cao nhất các nguồn lực để xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng; chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy các lợi thế so sánh. Lấy phát triển công nghiệp làm động lực đóng góp cho tăng trưởng kinh tế; phát triển dịch vụ du lịch làm ngành kinh tế mũi nhọn; tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng để phát triển các doanh nghiệp, loại hình kinh tế; xây dựng Thừa Thiên Huế là trung tâm văn hóa - du lịch, trung tâm giáo dục - đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, trung tâm y tế chuyên sâu, trung tâm KHCN của khu vực miền Trung và cả nước; thực hiện đồng bộ các giải pháp tạo việc làm, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội; sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, trọng tâm là đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực...
- Bên cạnh phát triển kinh tế, các lĩnh vực xã hội cũng được HĐND đặc biệt quan tâm tại kỳ họp này?
Đúng vậy. Nhận thức tầm quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhiệm kỳ Khóa V, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết về “Đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em giai đoạn 2006 - 2010”, được các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện và đạt được kết quả trên nhiều mặt. Cụ thể: tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi giảm từ 21,2% năm 2006 xuống còn 16,6% năm 2010; tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi giảm từ 22%o năm 2005 xuống còn 10%o năm 2010; công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ...
Tuy nhiên, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vẫn còn gặp những khó khăn, hạn chế. Nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, cộng đồng và gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thế hệ tương lai của đất nước, tại kỳ họp này, HĐND tỉnh đã thông qua nghị quyết về đề án Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em giai đoạn 2011 - 2015, với nhiều giải pháp tích cực như: tăng cường đầu tư ngân sách để thực hiện đạt các mục tiêu đã đề ra. Ngoài ngân sách cân đối qua các ngành để thực hiện các mục tiêu về giáo dục, y tế, hàng năm phấn đấu bố trí từ 0,15% - 0,2% ngân sách chi thường xuyên bổ sung cho Sở Lao động, Thương binh và Xã hội để thực hiện một số mục tiêu, nhiệm vụ do ngành đảm nhận; kiện toàn, củng cố đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em các cấp, nhất là đối với cộng tác viên ở xã, phường, thị trấn; hỗ trợ phụ cấp cho cộng tác viên bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở thôn, bản, tổ dân phố...
- Nhiệm vụ đặt ra rất nặng nề, HĐND khóa mới sẽ cải tiến phương thức hoạt động như thế nào để hoàn thành trọng trách cử tri và nhân dân giao phó?
Để hoàn thành trọng trách cử tri và nhân dân giao phó, nhất là thực hiện Kết luận 48 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020, sớm đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, HĐND tỉnh sẽ thường xuyên bám sát các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ, Nghị quyết của Tỉnh ủy để thể chế hóa kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Phối hợp chặt chẽ với ủy ban MTTQ các cấp tăng cường giám sát việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của HĐND tỉnh, chú trọng công tác xử lý đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân. Giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh giữa hai kỳ họp, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý, điều hành ở địa phương... Đặc biệt, trên cơ sở kết quả và những bài học kinh nghiệm của HĐND tỉnh các khóa trước, HĐND tỉnh khóa VI sẽ tiếp tục cải tiến phương thức hoạt động để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo quy định. Nhất là tiếp tục đổi mới cách thức tổ chức kỳ họp: bố trí chương trình kỳ họp theo hướng hợp lý, khoa học; cải tiến phương thức điều hành theo hướng tăng thời gian thảo luận, giảm bớt thời gian trình bày báo cáo để bảo đảm chất lượng, tính khả thi các quyết sách. Đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, tập trung vào những vấn đề bức xúc mà cử tri và nhân dân quan tâm. Sau kỳ họp, HĐND sẽ tiếp tục giám sát các vấn đề mà đại biểu đã chất vấn tại kỳ họp trước và báo cáo HĐND tỉnh tại kỳ họp gần nhất về kết quả thực hiện nhằm tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND, đồng thời giúp chính quyền các cấp tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
- Xin cám ơn Chủ tịch!
Duy Phước thực hiện

Friday, July 8, 2011

08/07 Nghe hò nhớ Huế



Bài viết được đăng lúc 10:27:59 AM, 08.07.2009
Ảnh: TL
VÕ QUANG YẾN
                Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thương,
                Mái nhì man mác nước sông Hương.
                                                     Tố Hữu

Tôi sống lên ở quê ngoại, làng Mỹ Cang, phía bắc thành phố Huế chừng 40 cây số, trên bờ sông Ô Lâu, bốn mùa cuộn sóng xuôi dòng, tuỳ theo thời tiết, khi trong khi đục, phản ảnh mây trời, mưa nắng. Lớn lên một chút, trường huyện quá xa, anh em chúng tôi đi vô Huế học, chỉ Tết nhất, mùa nghỉ mới về đây thảnh thơi, vui đùa, gom góp những kỷ niệm êm đềm trước thời chinh chiến tàn phá quê xưa. Nghỉ hè, trời nóng, chúng tôi đánh trần ngủ ngay ngoài hiên. Có những đêm quá nóng, lại chuyện trò hào hứng, cũng khó lòng nhắm mắt. Thế rồi, không biết bắt đầu từ bao giờ, khoảng 2-3 giờ sáng, một giọng hò vọng lên trong đêm thâu. Tiếng hò theo đò từ xa lại gần rồi lại đi xa, không biết cô lái đò từ đâu đến và đi về đâu, cơ thể dẻo dang làm sao, mặt mũi duyên dáng đến mức nào. Chúng tôi chỉ nghe được lời thổn thức của cô ta, gởi gắm tâm tình vào sông, vào nước.

Biết ở đâu là cầu Ô Thước
Mênh mông nguyện ước, dưới nước trên trời.
Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi,
Khúc sông quạnh vắng, có người sầu riêng.


Câu hò xao xuyến, bay bổng, điệu hò chậm rãi, miên man, tiếng hò bâng khuâng, da diết, trong đêm thâu làm chạnh lòng hơn một người.Và cứ như thế, ba bốn hôm một lần, không có hẹn ước, định kỳ, chúng tôi lại được thưởng thức một vài câu hò mặn mà, trữ tình, vô tình kín đáo chia sẻ nỗi lòng của cô lái đò cô đơn. Lúc đầu chỉ để ý, dần dần từ để ý chúng tôi trở qua chờ đợi. Rồi có những đêm trăng sáng, trong cơn gió thoảng, chúng tôi tưởng như nghe tiếng mái chèo khua nước, đợt sóng vỗ mạn thuyền, nhưng tiếng hò thì tuyệt không, thế là mặc sức trằn trọc, thao thức không sao ngủ được. Hết hè, trở lại Huế vào trường học, chúng tôi phải tạm biệt cô lái đò, tạm quên những câu hò đầy tình cảm, thương nhớ của cô gái quê không quen, không biết, chỉ gặp nhau trong không trung, khí quyển, qua gió, mây, sóng, nước.

Người dân xứ Huế dễ rung động với đồng ruộng, sông nước, rừng rậm, cây ngàn. Vì vậy trong đời sống họ hay biểu lộ tâm tình qua những câu hò, điệu hát. Riêng chỉ câu hò đã có cả chục điệu. Trong công việc đồng áng khi đạp nước, đạp lúa, họ cố quên thời gian với những câu hò ô thiết tha, trầm bổng. Khi đập đất, đắp nền, họ trêu chọc nhau với những câu hò hụi lưu loát, linh hoạt. Khi làm đường, đắp đê, họ khuyến khích nhau qua điệu hò nện dồn dập, khẩn trương. Khi kéo bè, kéo gỗ, họ động viên nhau với những điệu hò kéo thác mạnh mẽ, khoẻ khoắn. Khi xay lúa, giã gạo, họ đố đáp nhau qua những câu hò giã gạo sôi động, hào hứng.

Cây chi trong rừng không lá,
Cá chi dưới biển không xương
Trai nam nhơn giải đặng, thiếp xin kết nghĩa tao khang với chàng...
Cây xương rồng trên rừng không lá,
Con sứa dưới biển là cá không xương,
Anh nay đà đối đặng, em phải kết nghĩa cương thường với anh
.

Ở nhà, hò ru con là điệu hò ngọt ngào, êm ái thường ngày mà bà mẹ nào cũng biết. Đứa con nhỏ nào mà không lớn lên với những bài học từ thuở dại thơ.
Ru con cho théc cho muồi,
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.
Trong số các điệu hò nầy, hai điệu được phổ biến rộng rãi có lẽ là hai điệu chèo đò, giống nhau trong câu hát, chỉ có khác nhau chút ít trong cách diễn tả. Hò mái nhì là điệu hò nổi tiếng nhất, buông lơi, man mác, thường được nghe trên dòng sông trầm lặng, độc diễn, nhưng cũng có khi đối đáp giữa hai người cùng nhau tâm sự, kẻ xướng, người xô, gởi lòng vào mây nước trong đêm vắng như hai nhân tình cùng nhau thỏ thẻ mối tình dưới trăng thanh.

Trai:      Em về ngược gió xang mưa
            Thuận buồm xuôi gió biệt mông xa chừng.
            Em về anh cũng muốn về theo
            Lên truông cát nóng lội đèo đá dăm.

Gái:      Cát nóng em đưa lưng em cõng
            Đá dăm em lượm sạch đường anh đi.


Gần gũi với hò mái nhì là hò mái đẩy, rắn rỏi, dồn nén, thường vang vọng trong khúc sông nước xiết hay ở đầm phá sóng to, gió lớn, người lái đò phải vững tay giữ chèo cho nên điệu hò bớt lơ lửng mà dứt khoát, chắc nịch.

Một mình cả chống cả chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen.
Cách ngân nga của điệu hò mái nhì, mái đẩy thật là đặc biệt, nhất là khi do một nghệ sĩ người Huế biểu diễn. Câu hò bắt đầu với những ò ơ à ơ dài dăng dẳng tưởng không khi nào ngớt. Rồi khi câu hò thật sự bắt đầu, mới được hai chữ lại còn ờ ơ à ơ, xem như người hò chần chừ không muốn đi ngay đến đích để người nghe thưởng thức tiếng ngân của mình. Ngày nay, như múa rối nước lên đường Nam tiến, hát cải lương lấn bước miền Bắc, ca hò Huế cùng bún bò, bánh bèo,... phân tán khắp đất nước, vượt biên ra cả nước ngoài. Các ca sĩ buộc phải biết hò, hát những bài ba miền nên thính giả được nghe những nghệ sĩ quê Bắc, quê Nam cũng ca, hò Huế. Ngay ở đoạn ò ơ à ơ đã thấy ngay chưa ổn. Nếu ca trù không thể diễn tả với một giọng khác giọng Bắc, cải lương phải được hát giọng Nam (cải lương ở Hà Nội hát như ngâm thơ, không xuống được một câu vọng cổ), hò Huế phải được trình bày với giọng Trung. Khi giả giọng, ca sĩ hạ giọng quá đáng, cho nghe một giọng hò, hát nếu không vướng âm Nghệ Tĩnh thì cũng lai căng, buồn cười như khi nghe tài tử nàm ảnh Pierre Fresnay bắt chước giọng Marseillais! Tôi chưa may mắn gặp được ai học hò mái nhì, mái đẩyqua nốt nhạc mà làm rung động lòng tôi khi biểu diễn; những nghệ sĩ tuyệt diệu tôi đã được nghe là những người thường hò trong đời sống hằng ngày từ thuở bé nhỏ, những người không có khi nào lại trường học hò!

Trước thế kỷ 14, xứ Huế còn là vùng đất của người Chàm. Theo bước chân công chúa Huyền Trân, người Việt từ miền Bắc mới dần dần vào hai châu Ô, Rí khai khẩn đất hoang, sống chung với người dân bản địa. Theo những nhà chuyên khảo, ca hò Huế là hệ quả giao lưu giữa văn hoá Champa và văn hoá Việt Nam. Họ khám phá ra, bên cạnh những điệu nam ai, nam bằng,giai điêu lơ lớ tức là hơi nam giọng ai hay ngũ cung ai của hò mái nhì, mái đẩy (do, re non, fa già, sol, la non) là một kết hợp của ngũ cung đúng miền Bắc (do, ré, fa, sol, la) với ngũ cung oán nhạc Champa (do, mi, fa, sol, la). Đặc biệt là kết hợp nầy chỉ giới hạn ở vùng Bình Trị Thiên, tức là ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, không lan vào miền Nam cũng không tràn ra miền Bắc.

Đi xa hơn, những nhà nhạc học thấy nhạc Champa chịu ảnh hưởng nhạc Ấn Độ mà âm giai nhạc Ấn Độ lại gẫn gũi với âm giai pélog đảo Java ở quần đảo Nam Dương (Indonesia). Giáo sư Trần Văn Khê đem so sánh thì thấy điệuhò mái đẩy rất giống điệu pélog có thể nguyên quán từ vùng Ba Tư - Ả Rập. Đằng khác, một cây đàn đá tiền sử đã được phát hiện ở Đac Lac mà âm giai lại cũng rất gần âm giai pélog. Thì ra âm giai hai điệu hò mái nhì, mái đẩy đã có sẵn từ trước ở Cao Nguyên miền đất Trung Việt, chứng minh một giao lưu giữa Nam Dương và Việt Nam. Thảo nào, qua bên ấy, tôi thường được người bản xứ gọi tôi "người anh họ phương xa". Giao lưu nầy còn được mở rộng ra Ấn Độ - Nam Dương - Việt Nam khi tôi có dịp viếng và ý thức những điểm tương đồng giữa ngôi tháp gọi là "Bờ biển" ở Mahabalipuram miền đông Ấn Độ và các tháp Chàm ở nước ta. Kiến trúc nầy đã trực tiếp ảnh hưởng lên cách xây tháp miền Nam nước ta hay dã qua trung gian Java, Bali? Ước mong rồi một ngày nào những nhà khảo cứu giải thích được rõ ràng cách thức những giao lưu văn hoá, âm nhạc, nghệ thuật nầy.

Trong lúc chờ đợi, giao lưu Pháp - Việt, sau gần một thế kỷ sống chung và mấy chục năm chinh chiến, lại trên đường nối tiếp. Riêng đối với Huế, hai Festival 2000 và 2002 vừa qua đã là dịp để cho các đoàn văn nghệ Pháp trình bày với công trình đất Thần kinh một mặt văn hoá nào của xứ sở Rousseau và Voltaire. Ngược lại, những đoàn ca hát Huế, Phú Xuân hay Trường Đại học Nghệ thuật, ban nhạc Cung đình hay nhóm tụng kinh niệm Phật của mấy vị tu sĩ cũng đem lai cho thính giả Pháp những làn điệu xa xăm, có khi lạ thường. Thật ra, những câu hò Huế đã từng được thưởng thức trên sâu khấu Paris, ngay cả trong vở múa nhạc Khúc nguyện cầu trong ấy nghệ sĩ Ea Sola khai thác mặt ảm đạm, âu sầu của các câu hò mái nhì, mái đẩythay vì sử dụng điệu hò đưa linh thấy như còn não nùng, ai oán hơn, góp phần xoa dịu khổ đau của những kẻ mất mát người thân.

Đêm năm canh ngày sáu khắc con ve kêu giục giã,
Con đương mơ màng sực nghe tiếng mẹ kêu.
Muốn tìm mẹ tìm sao đặng mẹ,
Tây phương đất Phật mẹ đi không về.
Mùa thu năm vừa qua, nhân buổi gặp mặt với nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương ở Phật đường Khuông Việt tại Orsay, ngoại ô nam Paris, những người bạn Huế, đồng bào hâm mộ thơ nhạc lại được thưởng thức những câu hò gợi biết bao thương nhớ.

Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non.


Phụ hoạ đàn tranh cho chị Hỷ Khương ngâm thơ và hò Huế có giáo sư Trần Văn Khê. Anh Khê đệm thêm đàn tranh làm tăng giá trị câu hò những, qua trí óc tôi, cũng như ngày nay trên các đò du lịch trên sông Hương ca hò có đệm đủ nhạc khí tranh, nhị, tam, nguyệt, sáo thì đưa bài hò qua một hệ thống khác, loại thính phòng, làm mất mát ít nhiều tính hoang vu, thôn dã của câu hò cô độc trong đêm vắng trên sông. Câu hò ấy, ngày nay ai cũng biết do cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị sáng tác, nhân nghĩ đến vua Duy Tân đợi Trần Cao Vân bàn chuyện quốc sự. Ngoài hò mái nhì, mái đẩy bên cạnh thơ văn đủ loại, cụ Ưng Bình còn có những câu hò giã gạo có tính cách trào phúng, ít được biết.

Áo Lơ-muya với giày cao gót
Theo em, theo chị cái mốt tân thời.
Vỏ ngoài che đậy mà chơi,
Tháo ngay trong dạ để gương đời soi chung.
Thấy ra hò thật là một thể loại dân ca rất được truyền tụng ở xứ Huế, một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú, có thể là nơi tập trung nhiều điệu hò nhất trong một diện tích nhỏ hẹp miền Trung. Người con dân nào đã sống lên ở Huế mà không nuôi dưỡng trong lòng một bầu hò đầy kỷ niệm thơ mộng. Giờ đây, ngồi làm việc ở bàn giấy, tôi luôn có một dĩa hò nhẹ nhàng cho tỏa ra một bầu không khí ấm cúng quê nhà, làm dịu bớt nỗi nhớ nhung cả một thời thơ ấu êm đềm trên bờ sông Ô Lâu.

Đây quê mẹ ấp ủ tình thương
Đây xóm làng bao nỗi vấn vương...


Xô thành những ngày nóng bức hè 2003V.Q.Y(179-180/01&02-04)

Thursday, June 30, 2011

Mô hình nào cho “thành phố Thừa Thiên - Huế”?


Thứ Năm, 30/06/2011, 07:51 (GMT+7)
TT - Nhiều ý kiến khác nhau của các chuyên gia tại buổi tọa đàm tìm giải pháp thực hiện kết luận 48 của Bộ Chính trị về việc đưa cả tỉnh Thừa Thiên - Huế trở thành đô thị trực thuộc trung ương, vừa diễn ra tại TP Huế hôm 27-6.
Trung tâm TP Huế hiện còn giữ được sự hài hòa vốn có, từng được mệnh danh là “kiệt tác thơ kiến trúc đô thị” - Ảnh: THÁI LỘC

Wednesday, June 1, 2011

15/06/2009 Thừa Thiên Huế : Cả tỉnh "lên" thành phố


THỨ HAI, 15 THÁNG 6 2009 13:02 LAO ĐỘNG

Hình hài của "thành phố trực thuộc trung ương" đang được lãnh đạo tỉnh TT-Huế hình dung để xây dựng như thế nào? Đó là câu hỏi thời sự của người dân TT-Huế và bạn đọc trong thời điểm này.

Câu hỏi được đặt ra sau những mừng vui khi có kết luận của Bộ Chính trị về việc đồng ý để tỉnh xây dựng và phát triển thành thành phố trực thuộc trung ương trong một vài năm tới. Và ông Nguyễn Ngọc Thiện - Chủ tịch UBND tỉnh TT-Huế - trả lời: Cả tỉnh "lên" thành phố(!).

Sẽ không giống với bất kỳ thành phố nào...

"Cứ tạm gọi là thành phố TT-Huế, vì hiện tại chúng tôi vẫn chưa nghĩ ra tên gọi nào khác" - ông Nguyễn Ngọc Thiện (ảnh bên) - Chủ tịch UBND tỉnh TT-Huế - mở đầu câu chuyện với tôi liên quan đến chủ đề tên và hình hài của thành phố trực thuộc trung ương trong tương lai.

Ông Thiện hình dung: "Thành phố TT-Huế trong tương lai sẽ lớn hơn bất kỳ thành phố nào trên cả nước hiện nay, với tổng diện tích hơn 5.000km2. Thành phố TT-Huế cũng sẽ không giống với bất kỳ một thành phố nào trong cả nước bởi diện tích lớn như vậy, nhưng dân số lại chỉ có hơn 1,3 triệu người (thời điểm thống kê năm 2006). Thành phố TT-Huế còn khác biệt bởi các yếu tố: Đây là một cố đô, thành phố di sản, thành phố festival đặc trưng của Việt Nam. Thành phố trong tương lai hội đủ các yếu tố: Sông, núi, biển, đầm phá, gò đồi, rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên...".

Một người Huế băn khoăn: "Mừng thì mừng thật, nhưng nếu đúng như rứa thì thành phố của mình tới lúc đó hơi... kỳ cục bởi diện tích quá rộng mà dân số lại quá ít. Đó là chưa nói đến hàng chục, hàng trăm hệ lụy khác liên quan đến mâu thuẫn và vấn đề đặt ra cho những người dân ở các vùng sâu, xa, sau một đêm ngủ dậy bỗng dưng ...trở thành người thành phố (?)".

Tôi đặt sự băn khoăn đó lên bàn làm việc của ông Nguyễn Ngọc Thiện và được trả lời rất nhanh: "Cần phải thay đổi một chút về nhận thức đô thị. Theo tôi, đô thị không nhất thiết phải có nhiều nhà cao tầng, dân số đông" - ông nói: "Theo nghĩa đó, Huế sẽ không phát triển theo hướng đó, mà phát triển theo hướng một thành phố sinh thái, thành phố sạch... với trung tâm - đô thị hạt nhân sẽ là thành phố Huế hiện nay. Chung quanh là các đô thị vệ tinh động lực vệ như: Thành phố Chân Mây - Lăng Cô; các thị xã: Tứ Hạ - Phú Bài, Thuận An, Bình Điền...

Dân số thành phố Huế lúc đó sẽ tăng từ hơn 300.000 người như hiện nay lên khoảng 400.000 - 500.000 người với việc đô thị mở rộng về vùng An Vân Dương ở phía nam. Dân số đô thị sẽ được nâng lên từ khoảng 37% như hiện nay lên khoảng 60 -70%.

Hiện tại, tỉ lệ lao động nông nghiệp của tỉnh TT-Huế chiếm khoảng 40% tổng số lao động. Tuy nhiên, số lao động này đang được dần chuyển sang lao động dịch vụ và công nghiệp để phấn đấu đến năm 2015, tỉ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 20% và đến năm 2020 còn khoảng 10%...
".

"Bài toán" du lịch, dịch vụ

10 ngày sau cuộc làm việc với Thường vụ Tỉnh uỷ TT-Huế, ngày 25.5, Bộ Chính trị đã có thông báo số 48 với nhiều nội dung, trong đó có việc đồng ý việc "xây dựng TT-Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới" theo hướng: TT-Huế là trung tâm của khu vực miền Trung, là một trong những trung tâm lớn đặc sắc của cả nước về văn hoá du lịch; khoa học công nghệ; trung tâm y tế chuyên sâu; giáo dục đào tạo chất lượng cao và đa ngành, đa lĩnh vực...


Đó là một định hướng, mà nếu phát triển thành công, chắc chắn sẽ mang lại cho "thành phố TT-Huế" một sự khác biệt cơ bản và quan trọng so với những thành phố khác, ngoài những sự khác biệt về diện tích, dân số, tính chất... như ông Nguyễn Ngọc Thiện đã nói. Nhưng trong tất cả những mục tiêu vừa nêu, mục tiêu thành một trung tâm văn hoá, du lịch, dịch vụ đang gây không ít băn khoăn, bởi lĩnh vực này đang là một "bài toán khó" đối với TT-Huế từ rất nhiều năm nay.

Du lịch, dịch vụ của Huế là cả một câu chuyện dài tập, đã trở thành chuyện "biết rồi khổ lắm...", vì nhiều năm qua đã tốn nhiều giấy mực của báo giới và sức lực của những nhà quản lý, chuyên môn... Huế đang có gần như tất cả những điều kiện tốt nhất để phát triển du lịch: Một thành phố lễ hội đặc trưng của Việt Nam, một quần thể di tích và những giá trị đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới (cả vật thể và phi vật thể), một vịnh Lăng Cô vừa được công nhận là một trong 29 vịnh biển đẹp nhất thế giới, hạ tầng du lịch tốt...

Tuy nhiên, nhiều năm qua, ngành du lịch, dịch vụ vẫn đang phát triển rất yếu, chưa xứng tầm và tiền đóng góp của "mũi nhọn" này vào ngân sách của tỉnh TT-Huế trung bình năm chưa bằng số lẻ của một doanh nghiệp như Cty bia Huế (chỉ gần 30 tỉ đồng).

Còn nhớ cuối năm 2008, đích thân ông Nguyễn Ngọc Thiện - Chủ tịch UBND tỉnh TT-Huế - đã "đăng đàn" xác định "từ nay sẽ là mũi nhọn và mũi nhọn duy nhất". Nhưng từ đó đến nay, mũi nhọn và nhọn duy nhất đó vẫn chưa thấy nhọn lên được chút nào.

Trao đổi với tôi, ông Nguyễn Ngọc Thiện thừa nhận: "Đúng là đối với ngành du lịch, dịch vụ, chúng tôi đã tập trung đầu tư nhiều, nhưng sự phát triển chưa tương xứng". Nhưng ông lại thanh minh: "Để thay đổi cả một ngành kinh tế cần phải có thời gian và không được nôn nóng, bởi đi nhanh được là tốt, nhưng có khi nhanh quá phải trả giá lớn".

Ông nói: "Tôi không ngụy biện, nhưng lâu nay Huế đang đi theo hướng bền vững. Một sự thay đổi chất nào cũng cần có sự tích luỹ về lượng cần thiết. Hiện tại, Huế đang tích luỹ về lượng và đang tiến tới ngưỡng thay đổi".

Cán bộ chưa... đủ tầm?

Một sự lo lắng rất phổ biến và thời sự đối với người dân Huế hiện nay là Huế sẽ trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm nữa (chậm nhất là 2015). Nhưng có vẻ như lực lượng, năng lực của đội ngũ cán bộ của Huế thì ... còn lâu mới lên được tầm trung ương(!?).

Bên lề một cuộc họp báo mới đây (ngày 30.5), ông Nguyễn Văn Cường - Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh TT-Huế - thừa nhận với tôi: "Những lo lắng của người dân là có cơ sở, bởi thực tế là năng lực đội ngũ cán bộ hiện nay của TT-Huế chưa xứng tầm, chưa theo kịp với những yêu cầu và đòi hỏi mới".

Ông Cường nói: "Thực ra vấn đề này, Thường vụ Tỉnh uỷ đã sớm nhìn ra và ngay từ giữa năm 2008 đã ban hành một nghị quyết về vấn đề bồi dưỡng và nâng cao năng lực cán bộ để phục vụ việc xây dựng và phát triển thành phố trong tương lai. Bước đầu, chúng tôi đã cử 15 cán bộ nguồn qua Singapore để học ngoại ngữ. Đặc biệt, đã cử hai cán bộ trẻ ra nước ngoài làm tiến sĩ về quản lý đô thị và quản lý kinh tế...".

Ông Nguyễn Văn Cường cũng thừa nhận là bây giờ mới "nâng cấp" cán bộ thì chắc chắn sẽ không kịp với tốc độ xây dựng và nâng cấp thành phố từ tỉnh lên trung ương. "Tuy nhiên không còn cách nào khác là chúng ta phải vừa làm, vừa bổ sung" - ông Cường kết luận.

Có một gợi ý liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực là trong lúc đang thiếu và yếu và chờ đào tạo còn rất lâu, tại sao TT-Huế không áp dụng các chính sách đãi ngộ để thu hút nhân tài như nhiều địa phương khác đã và đang làm?

Ông Nguyễn Ngọc Thiện trả lời bằng một quan điểm rất khác: "Tôi không thiên về đãi ngộ vật chất nhiều như một số địa phương đang làm, vì đó chỉ là giải pháp tạm thời. Nếu cho họ đất đai, tiền bạc, nhưng không tạo cơ hội làm việc, cống hiến... thì sớm muộn, họ cũng sẽ đi. Quan điểm của tôi là khi nào kinh tế TT-Huế phát triển từ trung bình như hiện nay lên khá, lúc đó môi trường làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn.., tự khắc người tài sẽ tìm đến và ở lại".
Hoàng Văn Minh

Monday, May 23, 2011

23/05 Di tích vừa trùng tu bạc tỷ biến thành... quán cà phê

Thứ Hai, 23/05/2011 - 09:20

Thừa Thiên - Huế:


(Dân trí) - Lầu Tứ Phương Vô Sự (Kinh thành Huế) thuộc Quần thể di tích cố đô Huế - Di sản Văn hóa Thế giới vừa được trùng tu với tổng kinh phí 9,3 tỷ đồng, nay đã được trưng dụng toàn bộ để mở quán cà phê.
>> Chiêm ngưỡng phòng học của hoàng tử, công chúa triều Nguyễn

Sự việc đang gây một luồng dư luận bức xúc cho đại đa số người dân Huế vì đây là lần đầu tiên, một di tích bị tận dụng toàn bộ để phục vụ cho việc kinh doanh, giải trí.

Một di tích độc đáo

Lầu Tứ Phương Vô Sự là một trong những công trình có giá trị nghệ thuật kiến trúc độc đáo pha trộn Đông - Tây, được xây dựng vào năm 1923 (thời vua Khải Định). Nếu tính các di tích đứng trên mặt thành ở Đại Nội thì lầu Tứ Phương Vô Sự là cao nhất và có giá trị cao về mỹ thuật.

Lầu mang ý nghĩa là cầu mong mọi sự bình yên, là nơi học tập hàng ngày của các hoàng tử và công chúa giai đoạn cuối của triều Nguyễn. Ngoài ra, đây còn là vị trí mà nhà vua và hoàng gia ngồi hóng mát. Qua nhiều cuộc biến thiên lịch sử, lầu đã bị tàn phá nghiêm trọng, chỉ còn lại một phần tường nhỏ.

Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế - đơn vị chủ đầu tư đã phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Phân viện Khoa học Xây dựng miền Trung nghiên cứu các tư liệu thư tịch, điều tra thám sát khảo cổ học và lập dự án bảo tồn tu bổ di tích này với tổng mức đầu tư hơn 9,3 tỷ đồng.

Lầu Tứ Phương Vô Sự sau khi tu bổ thành công cuối năm 2010

Công trình đã được đầu tư hệ thống tường, lan can, phục hồi lại nguyên bản lầu Tứ Phương Vô Sự xưa kia. Ở sân vườn, không gian cảnh quan môi trường đô thị và hệ thống hạ tầng kỹ thuật, lắp hệ thống chống sét và phòng cháy cũng được tôn tạo lại như cũ.

Riêng lầu Tứ Phương Vô Sự sau khi tu bổ có hai tầng theo đúng nguyên bản xưa. Gồm: sàn lát gạch, trần làm bằng gỗ, có nhiều đèn mang phong cách Tây. Tầng dưới để các đồ sứ kiểu trưng bày, tầng trên để trống. Ngoài sân có nhiều hòn giả sơn và sứ, thông tạo cảnh quan thoáng mát.

Vào tháng 10/2010, di tích Lầu Tứ Phương Vô Sự đã được khánh thành và gắn biển công trình chào mừng 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Trùng tu xong biến thành quán cà phê

Những ngày giữa tháng 5/2011, nhiều người dân Huế rất ngạc nhiên khi thấy lầu Tứ Phương Vô Sự được “trang hoàng” thêm bởi nhiều bàn ghế, bảng hiệu, đèn điện. Và đúng vào sáng 22/5, tại đây, một quán cà phê mang tên “Tứ Phương Vô Sự Lầu” đã được khai trương. Từ sáng đến tối, rất đông người kéo tới đây uống cà phê, đa phần vì tò mò và cùng có tâm trạng “buồn nhiều hơn vui”.

Lầu đã thành quán cà phê

Mục sở thị một vòng quanh quán cà phê “Tứ Phương Vô Sự Lầu”, ở tầng 1, các tủ kính trưng bày đồ sứ xưa đã không còn, thay vào đó là gần 10 bộ bàn ghế cùng quầy lễ tân với một máy tính, một máy tính tiền, một bàn thờ Thần Tài - Ông Địa, 1 tủ đá. Tầng 2 là không gian Trà đạo với nhiều nệm lót với bàn thấp ngồi bệt. Nhiều em nhỏ được ba mẹ dẫn lên chơi khoái chí chạy nhảy la hét om sòm.

Phía ngoài hiên ở tầng 1 và quanh các đường lát gạch ở sân, nhiều bộ bàn ghế với hoa tươi trên bàn chờ đón khách. Một hệ thống loa nhỏ được đấu nối vào tường 2 tầng lầu phát ra những bản nhạc xưa đúng với phong cách một quán cà phê vườn ở Huế. Các cờ đuôi nheo xưa được viết chữ “Tứ Phương Vô Sự Lầu, Café - giải khát” treo dọc bờ thành nhìn ra đường cái để thu hút khách. Sân dưới sát cửa Hòa Bình là chỗ để xe máy, xe đạp. Riêng xe hơi thì bỏ ngoài cửa có người trông coi cẩn thận. Hệ thống nhà vệ sinh cũng được dựng lên sát tầng 1 lầu Tứ Phương Vô Sự.

Trong nhiều giờ đồng hồ ngồi xem tình hình khách của quán, chúng tôi thấy có khá nhiều bạn trẻ, gia đình kéo tới uống café nhất là vào buổi tối. Theo quan sát của chúng tôi cũng có nhiều người đến xem quán như thế nào vì không tin là có quán café “mọc ra” từ một di tích văn hóa lộ liễu đến thế.

Chị Nguyễn T.N. đi cùng gia đình tới đây uống nước vì tò mò, bức xúc: “Nghe người ta nói ở lầu ni họ mở ra quán cà phê để kinh doanh. Vì nằm ở sát đường Đặng Thái Thân nên rất dễ tìm vào. Tui đến xem mà thiệt không hiểu nổi vì răng lại làm một việc ẩu như rứa. Đây là di tích xưa của cha ông, mang ý nghĩa tinh thần to lớn. Rứa mà vô đây uống, thấy đã biến thành một quán cà phê rồi. Cả tầng trên rồi tầng dưới của lầu được để bàn ghế, người đi ra vào uống nước ồn ào, dẫm đạp lên các dấu vết của di tích thế kia ai mà chịu thấu. Nếu các vua sống thấy cảnh này e là buồn đau vì con cháu mình tận dụng quá đà di tích đi thôi. Rồi đây sẽ không biết còn những chỗ nào trong Đại Nội biến thành quán cà phê nữa”.

Anh Nguyễn Tăng Quang, một người dân sống gần đó, cùng quan điểm: “Không chỉ riêng tôi mà nhiều người dân xung quanh khu vực nhìn vào lầu Tứ Phương Vô Sự đều bức xúc. Làm sao một di tích của vua chúa mà lại biến thành một quán cà phê để kinh doanh như vậy!”.

Nhưng theo một quản lý ở quán cà phê Tứ Phương Vô Sự Lầu lý giải thì: “Thấy du khách tới đây nhìn ngó lơ rồi đi, để vậy cũng lãng phí. Mình kinh doanh thế này một công đôi việc vừa khỏi lãng phí vừa thu hút khách du lịch. Trên đây rất đẹp, nhất là về buổi tối ngồi ở đây rất mát và có thể nhìn xa được kỳ đài và các phong cảnh ở Huế rất tuyệt. Những du khách mới vào Huế lần đầu mà uống cà phê ở đây thì không còn gì bằng”.

“Vừa làm vừa sửa để phát triển du lịch”

Trong ngày 22/5, chúng tôi liên lạc qua điện thoại với ông Phùng Phu, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế - đơn vị quản lý lầu Tứ Phương Vô Sự - về việc quán cà phê mọc lên ngay tại di tích thì nhận được câu nói: “Để lúc khác trả lời. Tôi đang bận” rồi cúp máy.

Liên hệ với ông Mai Xuân Minh, PGĐ Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, ông Minh cho biết sau nhiều thảo luận giữa Trung tâm với tỉnh TT-Huế đã đi đến thống nhất “Nhằm quảng bá hình ảnh lầu Tứ Phương Vô Sự, đồng thời quảng bá hình ảnh di tích Huế nên đã đưa quán cà phê vào sử dụng. Lâu nay có rất nhiều công trình được trùng tu xong rồi để đó rất lãng phí. Mục đích là dành cho khách du lịch có điểm dừng chân, nghỉ ngơi chứ không đặt nặng kinh doanh thương mại.

Ở Huế làm cái gì cũng rất nhạy cảm, nhưng làm rồi thì người ta kêu ca vì hình thức quá mới lạ. Trùng tu một công trình lớn mà không ai lên tham quan thì lãng phí vô cùng. Chứ ở Hà Nội, Sài Gòn và các nước khác thì họ làm việc này (mở quán giải khát tại di tích - PV) rất bình thường. Chắc tại mình chưa quen làm mà thôi”.

Tầng 1 của lầu với nhiều bộ bàn ghế ngồi uống nước thay thế cho những tủ triển lãm đồ cổ trước đây

Ông Minh cũng thừa nhận, ngoài phục vụ khách với mục đích văn hóa thì quán cà phê cũng đem lại nguồn thu cho Trung tâm Bảo tồn. Cụ thể trung tâm đã tổ chức đấu giá, trước khi đấu giá có thông báo đến mọi người. Lúc đầu rất nhiều người đăng ký, sau đó khá nhiều người rút lui vì không đáp ứng được các yêu cầu nghiêm ngặt của di tích. Cuối cùng chỉ có một người làm việc ở phòng nghiên cứu thuộc Trung tâm Bảo tồn này trúng đấu giá với mức nộp 200 triệu đồng/năm cho trung tâm. Hợp đồng ký 3 năm có đáp ứng những yêu cầu hàng đầu là quán làm nhiệm vụ phục vụ du khách, giới thiệu nét văn hóa của lầu tứ Phương Vô Sự cho khách.

Ông Minh cũng có lời mời PV lên xem quán cà phê và có gì đóng góp ý kiến thêm để cùng phát triển quán, cùng hướng đến việc phát huy di tích, miễn sao là đừng vi phạm đến luật văn hóa. “Bên anh rất cầu thị. Có gì bên anh sẽ lắng nghe để sửa những điểm không hay, phản cảm. Bên anh hứa sẽ không làm ảnh hưởng đến di tích”.

Trao đổi với phóng viên, ông Ngô Hòa, PCT UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế, cũng đồng tình: “Quan điểm của tôi là chúng ta nên ủng hộ vì di tích trùng tu xong đóng cửa xong thì đâu có được. Theo tôi báo chí nên ủng hộ việc này. Vấn đề đặt ra là cách quản lý, tổ chức.

Lầu Tứ Phương Vô Sự là chỗ để hóng gió, hóng mát, ngắm cảnh rất thích hợp làm quán nước. Cứ vừa làm vừa sửa. Vì mới làm lần đầu thì cứ để cho anh em làm. Quá trình làm có gì sơ suất thì điều chỉnh góp ý. Chứ di tích mà “đắp chăn trùm mền” thế thì sao được. Vấn đề đặt ra về phía bảo tàng là phải giữ vững để bảo tồn những giá trị nguyên trạng. Còn cái gì khai thác được thì phải đưa vào để nhập thể với cuộc sống cho nó sinh động”.

Cũng theo ông Hòa, di tích ở Phủ Nội Vụ (địa điểm trước đây của trường ĐH Nghệ thuật Huế) cũng nên đưa vào khai thác sử dụng vì du khách đi tham quan xong không có một chỗ ngồi uống nước.
Trả lời câu hỏi “Nếu quán cà phê tận dụng di tích rồi làm hư hại di tích thì sao?”, ông Hòa trả lời: “Chúng ta sẽ lắng nghe ý kiến góp ý rồi điều chỉnh dần dần. Hiện trong Đại Nội Huế phải có một điểm dừng chân cho du khách để họ nghỉ ngơi, uống nước giải khát chứ từ trước đến nay chưa có chỗ nào đàng hoàng cả. Khách toàn ngồi ghế nhựa trên sân cỏ, dưới gốc cây trong quán cóc dọc đường đi nên vì thế chúng ta phải chọn chỗ mà làm cho thích hợp”.

Cùng ngày, phóng viên trao đổi với ông Nguyễn Văn Thắng, Chánh thanh tra Sở VH-TT-DL tỉnh TT-Huế, ông Thắng cho biết đã nắm rõ việc này, sẽ sớm làm việc với Trung tâm Bảo tồn về vụ việc. “Quan điểm của chúng tôi là nếu ai sai thì phải xử lý và điều chỉnh. Riêng với cá nhân kinh doanh quán cà phê, nếu có dấu hiệu xâm phạm vào di tích thì nhất quyết phải xử lý nghiêm”.

Một số hình ảnh PV ghi lại ở quán cà phê Tứ Phương Vô Sự Lầu trong ngày khai trương 22/5.


Tầng 1 với bàn lễ tân, bàn thờ Ông Địa cùng tủ lạnh


Một bên hành lang được ngăn lại làm chỗ pha chế, nhốn nháo nhân viên ra vàobưng bê nước


Tầng 2 lót sàn gỗ biến thành không gian trà đạo lý tưởng


Có chỗ bỏ giày dép cho du khách

Công trình chào mừng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long Hà Nội được tu bổ với hơn 9 tỷ đồng ngày nào đã nhanh chóng trở thành quán cà phê


Di tích Lầu Tứ Phương Vô Sự được tận dụng 100% ở trong nộ thất và ngoại thất - theo các lãnh đạo là "nơi dừng chân cho du khách và không phải vì mục đích kinh doanh".

Đại Dương - Doãn Công