Showing posts with label monitoring. Show all posts
Showing posts with label monitoring. Show all posts

Friday, November 11, 2011

11/11 Giữa 2012 sẽ giám sát tối cao về đầu tư công


NGUYỄN LÊ
11/11/2011 12:11 (GMT+7)
pictureNghị quyết về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2012 đã được đa số đại biểu thông qua tại phiên họp sáng 11/11.
E-mailBản để inCỡ chữChia sẻ:facebooktwittergooglerss
Tại kỳ họp thứ ba vào tháng 5/2012, Quốc hội sẽ thực hiện giám sát tối cao chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. 

Còn tại kỳ họp tiếp theo, nội dung giám sát sẽ là việc thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân về đất đai trong lĩnh vực hành chính.

Sunday, July 3, 2011

03/07 Điều kiện cho hoạt động giám sát của HĐND

07:17 | 03/07/2011
Hoạt động giám sát của HĐND thời gian qua đã chuyển biến tích cực, góp phần thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ KT – XH, bảo đảm thực thi pháp luật ở địa phương. Tuy nhiên, theo đánh giá của HĐND các tỉnh và thành phố, công tác giám sát vẫn còn những hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tế. Việc tìm ra giải pháp tháo gỡ vướng mắc để hoạt động giám sát của cơ quan dân cử phát huy hiệu quả rất cần thiết, khi bước vào một nhiệm kỳ mới.
Giám sát là một trong hai chức năng quan trọng của HĐND. Qua giám sát, cơ quan dân cử có thể kiểm chứng tính đúng đắn, sự phù hợp của các quy định đang được áp dụng và những chủ trương, biện pháp đã quyết nghị; kịp thời phát hiện khó khăn, vướng mắc để đề xuất giải pháp tháo gỡ, góp phần thực hiện tốt hơn công tác quản lý, điều hành các nhiệm vụ KT - XH của địa phương. Thông tin thu được qua giám sát còn là cơ sở cho việc thẩm tra của các ban, giúp HĐND thảo luận và quyết định chính xác tại kỳ họp; bảo đảm để nghị quyết được ban hành có chiều sâu, sát thực tiễn, phù hợp với nguyện vọng của cử tri. Trên thực tế, hoạt động giám sát của HĐND thời gian qua tuy chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn nhiều lúng túng, bất cập, chưa mang lại hiệu quả cao. Công tác giám sát chủ yếu do Thường trực và các ban HĐND tổ chức; việc tham gia giám sát của đại biểu hạn chế, chủ yếu mới giám sát tại kỳ họp. Nhìn chung, giám sát của HĐND đôi khi còn hình thức: nội dung chưa sâu, chưa tập trung vào các vấn đề bức xúc ở địa phương; kết luận chưa chỉ đúng căn nguyên… Có trường hợp kết luận giám sát chưa được chú trọng, việc tiếp thu, khắc phục hạn chế dẫn đến tình trạng còi cứ thổi mà xe cứ chạy.
Nguyên nhân những bất cập trên trước hết do chưa nhận thức đúng, đầy đủ vị trí, vai trò, trách nhiệm của HĐND. Bên cạnh đó, cơ chế cho hoạt động giám sát chưa rõ ràng khiến một số đại biểu thiếu tự tin, một số còn nể nang, ngại va chạm… Mặt khác, còn do hạn chế về năng lực, trình độ của đại biểu, do thiếu thông tin và thời gian thỏa đáng cho đại biểu hoạt động… Việc tìm giải pháp tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong hoạt động giám sát rất cần thiết khi HĐND các cấp đã bước vào một nhiệm kỳ mới. Qua thực tiễn hoạt động, xin trao đổi một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, phải nâng cao nhận thức về hoạt động giám sát của HĐND cho các cấp, ngành; chính đại biểu HĐND cũng cần nhận thức rõ về công tác giám sát của cơ quan dân cử để thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Cụ thể, phải nắm rõ đối tượng chịu sự giám sát, nội dung, phương thức giám sát và thẩm quyền, phạm vi giám sát. Về nội dung giám sát, cần tập trung vào việc thực hiện các nghị quyết của HĐND và việc tuân thủ pháp luật của các ngành, các cấp. Ngoài giám sát của HĐND tại các kỳ họp thông qua xem xét các báo cáo của Thường trực HĐND, UBND, TAND và VKSND cùng cấp; chất vấn và trả lời chất vấn; xem xét văn bản quy phạm pháp luật; bỏ phiếu tín nhiệm… còn giám sát thông qua hoạt động của Thường trực, các ban, đại biểu HĐND theo phương thức giám sát chung, hoặc giám sát chuyên đề.
Như vậy, giám sát của HĐND là giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước về những vấn đề liên quan đến đời sống KT - XH của địa phương; theo dõi, kiểm tra và đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các quy định đã được ban hành. Trên cơ sở đó, kiến nghị sửa đổi, bãi bỏ, hoặc đưa ra được biện pháp khả thi. Việc thực hiện quyền giám sát của Thường trực, các ban, đại biểu HĐND bảo đảm công khai, khách quan và không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Nhận thức và thực hiện đúng, hoạt động giám sát của cơ quan dân cử sẽ đạt hiệu quả và có sự đồng thuận của các cấp, ngành và xã hội.
Thứ hai, phải xây dựng chương trình, nội dung giám sát đúng trọng tâm, phù hợp và tổ chức tốt các cuộc giám sát. Điều này đòi hỏi trách nhiệm, năng lực và bản lĩnh của Thường trực, các ban, đại biểu HĐND. Trước tiên là phải xác định đúng vấn đề trọng tâm cần giám sát, sau đó xây dựng chương trình và kế hoạch giám sát phù hợp, trên cơ sở chương trình giám sát hàng năm HĐND đã thông qua. Có những vấn đề mới phát sinh trong thực tế, bức xúc, cần thiết thì việc tổ chức các cuộc giám sát kịp thời là rất cần thiết. Cần lưu ý là, các cơ quan dân cử và đại biểu dân cử không thể làm thay các cơ quan hành pháp và tư pháp. Vì vậy, phương pháp tiến hành giám sát phải chặt chẽ, thực hiện theo đúng chức năng, thẩm quyền và đúng quy trình.
Tiếp đến phải chuẩn bị và tổ chức tốt các cuộc giám sát, từ khâu chuẩn bị nắm tình hình đến thu thập thông tin cần thiết liên quan đến nội dung, đối tượng giám sát. Cần dự liệu trước những tình huống, vấn đề cần đi sâu, làm rõ (có thể xây dựng nội dung chi tiết); có phương pháp, hình thức giám sát khoa học và phù hợp, đặc biệt là việc tổ chức Đoàn giám sát phải có sự tham gia của những thành viên am hiểu sâu về lĩnh vực cần xem xét, giúp Đoàn xác định chính xác những nội dung cần kiến nghị. Kết luận giám sát phải khách quan: khen đúng, chê đúng và quan trọng là chỉ ra được những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện các nghị quyết, chính sách, pháp luật; đề xuất hướng giải quyết khả thi, kiến nghị cơ quan chức năng có giải pháp khắc phục kịp thời.
Hiệu quả của hoạt động giám sát phụ thuộc vào việc thực hiện kiến nghị của các ngành hữu quan. Do đó, việc theo dõi thực hiện các kiến nghị là sự tiếp tục của hoạt động giám sát, nhất là trong những trường hợp giữa chủ thể và đối tượng chịu sự giám sát còn ý kiến khác nhau trong việc khắc phục hạn chế, thiếu sót và xử lý trách nhiệm của đơn vị chịu sự giám sát. Chủ thể giám sát phải chịu trách nhiệm về kết quả giám sát, để tiếp tục theo dõi đến nơi, đến chốn khâu tiếp thu, xử lý các kiến nghị của các cơ quan hữu quan. Nếu cơ quan nhà nước không chịu sửa sai, không thực hiện các kiến nghị sau giám sát cần giải quyết theo hướng cao hơn, như ban hành nghị quyết về thực hiện các kiến nghị; sau đó giám sát thực hiện nghị quyết. Thực tế, đây là vấn đề mà lâu nay trong hoạt động giám sát HĐND chưa thực hiện đầy đủ, hết trách nhiệm của mình. Do vậy cần phải xây dựng hồ sơ giám sát, nhằm bảo đảm cập nhật thông tin thường xuyên cho các hoạt động tiếp theo.
Kinh nghiệm cho thấy, nên xây dựng chương trình giám sát vừa sức, chọn trúng những vấn đề trọng tâm đại biểu và cử tri quan tâm; đồng thời phân công trách nhiệm rõ ràng trong quá trình tổ chức giám sát; giám sát đến nơi đến chốn để đưa ra được những kiến nghị, giải pháp cần thiết.
Thứ ba, trong thực hiện chức năng giám sát, cần có sự phối hợp chặt chẽ với MTTQ và các thành viên của MTTQ, giữa hoạt động giám sát với công tác tiếp xúc cử tri… nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong hoạt động giám sát và thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, nghị quyết của HĐND.
Thứ tư, tăng cường công tác thông tin về hoạt động giám sát của HĐND, vừa đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vừa tạo áp lực từ dư luận xã hội đối với việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát.
Thứ năm, phát huy vai trò của Thường trực HĐND trong việc điều hòa, phối hợp hoạt động của các ban, đại biểu HĐND trong giám sát. Thực tiễn cho thấy: ở đâu Thường trực HĐND chủ động làm tốt vai trò điều hòa phối hợp hoạt động của các ban, đại biểu HĐND thì ở đó hoạt động của HĐND phát huy hiệu quả tốt hơn.
Như vậy, để HĐND khóa mới nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, nhất là trong giám sát, phải có những điều kiện cần và đủ như trên.
Nguyễn Thị Nhàn

Monday, June 27, 2011

26/06 Tiếp tục nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát tối cao của QH trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

07:20 | 26/06/2011
Để nâng cao chất lượng của hoạt động giám sát của QH, theo kinh nghiệm của các nước còn cần phải có các phương tiện trợ giúp như kiểm toán nhà nước, cung cấp thông tin, phân tích chính sách, các phương tiện thông tin đại chúng… Ở nước ta khi mà cơ cấu tổ chức và năng lực của các cơ quan của QH và ĐBQH chưa đủ mạnh thì việc tăng cường các phương tiện trợ giúp cho hoạt động giám sát càng có vai trò đặc biệt quan trọng. Những vấn đề này cũng cần được luật hóa.
1. QH Khóa XII đã kết thúc, QH Khóa XIII sắp họp kỳ thứ nhất, nhìn lại QH nước ta trong thời kỳ đổi mới đặc biệt là các khóa QH gần đây, có thể khẳng định rằng hoạt động giám sát của QH ngày càng thực chất, xứng đáng với vị trí và vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Sự phát triển về chất trong hoạt động giám sát tối cao của QH thể hiện rõ nét trên một số phương diện sau đây:
Một là, hoạt động giám sát tối cao của QH từ chỗ chỉ dựa trên tinh thần và nội dung của Hiến pháp và Luật Tổ chức QH với những quy định chung, chưa cụ thể đến chỗ hoạt động căn cứ vào một đạo luật về hoạt động giám sát với những quy định chi tiết, chặt chẽ từ việc xây dựng chương trình kế hoạch giám sát 6 tháng, hàng năm đến các quy định về chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và cách thức giám sát… Nhờ đó mà hoạt động giám sát tiến hành thường xuyên, có nền nếp, có trọng tâm trọng điểm, phản ảnh được những vấn đề nóng bỏng, bức xúc, đang được nhân dân quan tâm (như những vấn đề xây dựng cơ bản, công trình trọng điểm quốc gia, hiệu quả đầu tư; quản lý các tập đoàn, các doanh nghiệp nhà nước; chất lượng giáo dục, an toàn vệ sinh thực phẩm mà QH Khóa XII đã thực hiện…). Thông qua việc thực hiện các hoạt động giám sát đó, nhiều tiêu cực tham nhũng, lãng phí được phát hiện, đã rung lên những hồi chuông cảnh báo xác thực nhằm kịp thời uốn nắn những sai trái trong tổ chức thực hiện. Vì thế, giám sát tối cao của QH đã trở thành một phương tiện không thể thiếu được trong việc phòng chống tiêu cực; tham nhũng của bộ máy nhà nước, đã góp phần xây dựng lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước.
Hai là, hoạt động giám sát tối cao của QH được tiến hành trong không khí ngày càng dân chủ, cởi mở và trách nhiệm. Nhờ đó mà đại biểu thực hiện quyền chất vấn ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt và quyết tâm đi đến cùng vấn đề mình đặt ra. Người có nghĩa vụ trả lời chất vấn đã có ý thức hơn trong việc nâng cao năng lực và trách nhiệm trước nhân dân và trước đại biểu. Vì thế, dân chủ trong hoạt động giám sát tối cao của QH đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước tại kỳ họp đã trở thành một điều kiện tiên quyết, một trường học dân chủ, một phương tiện hữu hiệu để nhân dân thông qua người đại biểu của mình kiểm soát quyền lực nhà nước đối với những người đứng đầu bộ máy nhà nước, nhất là bộ máy hành pháp (Chính phủ).
Ba là, hoạt động giám sát tối cao của QH được tiến hành dựa trên trình độ, năng lực, bản lĩnh của ĐBQH ngày càng được nâng cao. Nhờ đó mà chất lượng của các hoạt động giám sát tối cao của QH tại kỳ họp, cũng ngày càng được tăng thêm một cách rõ rệt, các phân tích lập luận của nhiều ĐBQH rất sắc sảo, có sức thuyết phục, các đề xuất kiến nghị có tình có lý, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Vì thế, chất lượng của ĐBQH nhất là kỹ năng và bản lĩnh là nhân tố có ý nghĩa quyết định góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động giám sát tối cao của QH.
2. Trước nhiệm vụ xây dựng một QH, thực thi đầy đủ, đứng đắn nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo Luật định trong đó có các nhiệm vụ và quyền hạn về giám sát tối cao, nhằm tiếp tục nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát, dư luận xã hội mong muốn QH Khóa XIII cũng như các đối tuợng chịu sự giám sát của QH cần phải khắc phục một số hạn chế sau đây:
Thứ nhất là vấn đề nhận thức. Nguyên nhân cơ bản của hiệu lực và hiệu quả giám sát tối cao chưa cao, chưa được như mong muốn trước hết là do nhận thức chưa đầy đủ, chưa thống nhất về vai trò của hoạt động giám sát tối cao. Các quan niệm nhấn mạnh một chiều, tính thống nhất của quyền lực nhà nước rằng các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều có mục đích chính trị chung là phục vụ nhân dân, xây dựng một nhà nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh, đều dưới sự lãnh đạo của một Đảng. Do đó, vấn đề cơ bản và mấu chốt trong tổ chức quyền lực nhà nước là hợp tác và phối hợp, tạo điều kiện cho nhau làm tốt nhiệm vụ và quyền hạn của mình, chứ không phải là vạch lá tìm sâu, là cản trở gây khó khăn cho nhau trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước; rằng chỉ cần hành pháp mạnh, lập pháp và tư pháp phải có nghĩa vụ ủng hộ hành pháp, chứ không nên gây khó khăn cản trở hành pháp. Với các quan niệm như thế làm cho hoạt động giám sát còn có những biểu hiện dễ dãi, chưa đi đến cùng vấn đề trách nhiệm thuộc về ai. Cùng với quan điểm đó là các lập luận rằng chỉ trong nhà nước có nhiều Đảng phái mới cần đến giám sát, mới đề cao vai trò của giám sát và mới có điều kiện để thực hiện quyền giám sát một cách có hiệu lực và hiệu quả. Tất cả các quan niệm đó đều không phù hợp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của dân, do dân và vì dân. Bởi vì trong nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Giám sát tối cao của QH là một phương thức để cho nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua các đại biểu do mình bầu ra, để nhân dân giao quyền mà không bị mất quyền, lạm quyền. Thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền của các nước chỉ ra rằng sức mạnh và sự thịnh vượng của một quốc gia, cũng như khả năng đối mặt với những khó khăn thách thức, phần lớn được quyết định bởi sự vững mạnh của cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sự cam kết làm đúng, làm đủ nhiệm vụ và quyền hạn được nhân dân giao cho mỗi quyền là nhân tố góp phần làm cho đất nước giàu mạnh. Nó không kém phần quan trọng so với các yếu tố về tài nguyên, khí hậu, vị trí địa lý và con người. Những nước duy trì được sự phát triển ổn định lâu dài về kinh tế, chính trị, xã hội chính là những nước có cả ba quyền đều mạnh. Để làm được điều đó, cần phải kiểm soát được quyền lực nhà nước, nhất là quyền lực nhà nước về hành pháp. Giám sát nói chung, giám sát tối cao của QH nói riêng là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước, góp phần xây dựng cả ba quyền đều mạnh, bảo đảm cho các quyền làm đúng làm đủ nhiệm vụ và quyền hạn được nhân dân giao phó. Do đó, những quan điểm không đầy đủ, không đúng đắn về vai trò của giám sát tối cao của QH là không làm cho cả ba quyền đều mạnh, là trái với đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của Đảng ta. Không thể có một Chính phủ mạnh khi tồn tại một QH hoạt động hình thức. Hoặc ngược lại không thể có một QH hoạt động thực chất thì làm cho Chính phủ yếu. Chúng ta cần cả lập pháp, hành pháp và tư pháp đều phải mạnh, đều là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và bảo đảm cho nhân dân kiểm soát được quyền lực nhà nước.
Thứ hai, là nâng cao chất lượng của các kiến nghị giám sát. Hiệu lực và hiệu quả của giám sát suy cho cùng là đưa ra được các kiến nghị mang lại sự thay đổi tích cực trong thực tế, phù hợp với mục đích giám sát, đáp ứng mong mỏi của nhân dân và dư luận xã hội. Điều đó đòi hỏi các cuộc giám sát tối cao của QH phải tiến hành công phu, phải được thực hiện cơ bản và chủ yếu ở các Ủy ban và Hội đồng dân tộc. Khắc phục tình trạng giám sát hình thức với các kiến nghị chung chung mang tính định hướng thiếu cụ thể. Đó còn là đòi hỏi phải nâng cao năng lực giám sát của các chủ thể giám sát, đặc biệt là ĐBQH về bản lĩnh, về thu thập và xử lý thông tin, về ý chí và quyết tâm theo đuổi đến cùng việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát.
Thứ ba là khắc phục tình trạng giám sát dàn trải theo chiều rộng mà thiếu chiều sâu. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng các hoạt động giám sát theo chuyên đề với các chủ đề giám sát cụ thể, thiết thực. Kinh nghiệm thực tế của nhiều nước chỉ ra rằng giám sát hoạt động của Chính phủ và các bộ, trước hết và chủ yếu là giám sát hiệu quả của việc sử dụng ngân sách nhà nước được Nghị viện phân bổ. Bởi hiệu quả của việc sử dụng ngân sách quốc gia có tác động mạnh mẽ đến các hoạt động khác của nhà nước. Suy cho cùng, mọi hoạt động của nhà nước đều dựa trên ngân sách quốc gia do nhân dân đóng góp. Các hoạt động của nhà nước tốt hay xấu đều bắt nguồn từ việc sử dụng ngân sách của Chính phủ và các bộ có hiệu quả hay không? QH quyết định phân bổ ngân sách quốc gia thì QH phải kiểm soát được hiệu quả của việc sử dụng ngân sách. Nên chăng trong thời gian tới cần tập trung giám sát chuyên đề hiệu quả của việc sử dụng ngân sách quốc gia của Chính phủ và các bộ. Việc xác định khách thể của giám sát tối cao tập trung vào hiệu quả sử dụng ngân sách của Chính phủ làm cho hoạt động giám sát đi vào chiều sâu, tránh được dàn trải, hạn chế được các biểu hiện tiêu cực tham nhũng trong bộ máy nhà nước góp phần làm yên lòng dân.
Thứ tư là tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, tăng cường các phương tiện trợ giúp cho hoạt động giám sát như cung cấp thông tin, kiểm toán nhà nước…
Luật Hoạt động giám sát của QH cũng đã bộc lộ một số hạn chế cần được hoàn thiện bổ sung thêm. Ví dụ như vấn đề quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể giám sát, đối tượng chịu sự giám sát, đặc biệt là trách nhiệm thực hiện kiến nghị giám sát còn quy định thiếu cụ thể. Quy trình thủ tục giám sát còn chung chung, ĐBQH không có cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện quyền của mình (như vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm). Chế tài giám sát cũng cần được quy định rõ ràng minh bạch hơn nhằm tạo điệu kiện thuận lợi cho việc áp dụng.
Trước mắt đề nghị QH Khóa XIII sửa đổi, bổ sung Luật Hoạt động giám sát của QH ở một số điểm cơ bản sau đây:
Làm rõ đối tượng giám sát tối cao của QH là cơ quan và cá nhân nào? Bởi hiện nay còn có các ý kiến khác nhau, nhận thức chưa thống nhất. Có ý kiến cho rằng, QH là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nên đối tượng giám sát tối cao của QH là toàn bộ các cơ quan và cá nhân trong  bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Ngược lại, có ý kiến cho rằng, QH là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất không có nghĩa QH có toàn quyền. Do đó, việc giám sát tối cao ở cấp nào, với nội dung gì do QH quyết định phù hợp với nguyên tắc Hiến định và các đạo Luật về tổ chức bộ máy nhà nước hiện hành. Việc quy định rõ ràng minh bạch đối tượng giám sát tối cao của QH trong Luật hoạt động giám sát có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng. Bởi nếu theo quan điểm thứ nhất sẽ dẫn đến việc xác định nội dung và phạm vi giám sát tối cao là rất rộng bao gồm các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền từ Trung ương cho đến cơ sở. Với tổ chức bộ máy của QH như hiện nay liệu giám sát có hiệu quả hay không? Ngược lại, quan điểm thứ hai lại cho rằng, phạm vi và nội dung của giám sát tối cao chỉ chủ yếu tập trung vào cơ quan và cá nhân có thẩm quyền do QH thành lập, bầu và phê chuẩn. Đối tượng này theo Hiến pháp và Luật hiện hành chưa phân công cho cơ quan nào giám sát cả. QH tập trung giám sát các đối tượng này thì có hiệu lực và hiệu quả hơn, vừa phù hợp với tổ chức đại biểu không hoàn toàn chuyên trách, lại vừa không trùng lắp với chức năng nhiệm vụ giám sát của HĐND các cấp.
Chất vấn là quyền của ĐBQH đối với Chủ tịch Nước, Chủ tịch QH, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (điều 98 Hiến pháp năm 1992 và điều 42 Luật Tổ chức QH). Quyền này được thực hiện trong thời gian QH họp hoặc trong thời gian giữa hai kỳ họp. Để chất vấn và trả lời chất vấn nâng cao được chất lượng và hiệu quả. Luật Hoạt động giám sát của QH cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và cụ thể hóa việc thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH và nghĩa vụ trả lời và thực hiện những lời hứa của người trả lời chất vấn. Ví dụ cần cụ thể hóa quyền xem xét việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn tại kỳ họp QH. Thông qua việc xem xét này mà QH đánh giá năng lực, trình độ và trách nhiệm của người trả lời chất vấn, thúc đẩy người trả lời chất vấn thực hiện tốt hơn những vấn đề ĐBQH đặt ra. Đồng thời, đây còn là tiền đề là căn cứ để các ĐBQH thể hiện các quyền khác như bỏ phiếu tín nhiệm, bầu cử, bãi nhiệm, miễn nhiệm.
Để nâng cao chất lượng của hoạt động giám sát của QH, theo kinh nghiệm của các nước còn cần phải có các phương tiện trợ giúp như kiểm toán nhà nước, cung cấp thông tin, phân tích chính sách, các phương tiện thông tin đại chúng… Ở nước ta khi mà cơ cấu tổ chức và năng lực của các cơ quan của QH và ĐBQH chưa đủ mạnh thì việc tăng cường các phương tiện trợ giúp cho hoạt động giám sát càng có vai trò đặc biệt quan trọng. Những vấn đề  này cũng cần được luật hóa.
Với không khí dân chủ nghị trường càng được mở rộng, năng lực và bản lĩnh giám sát của ĐBQH ngày càng cao. Chúng ta tin tưởng  hoạt động giám sát tối cao của QH Khóa XIII tiếp tục nâng cao hiệu lực và hiệu quả.
Gs. Ts Trần Ngọc Đường
Viện Nghiên cứu Lập pháp

Wednesday, May 25, 2011

25/05 Những điểm mới về công tác kiểm tra, giám sát của Ðảng

Thứ tư, ngày 25 tháng 5 năm 2011

Cập nhật lúc 02:19, Thứ năm, 21/04/2011 (GMT+7)

Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng đã thông qua Nghị quyết và các văn kiện quan trọng, trong đó có một số điểm mới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Ðảng.

1- Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và Ủy ban kiểm tra các cấp

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, cùng với quá trình xây dựng Ðảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, Ðảng ta luôn coi trọng công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Ðảng. Ðảng ta khẳng định: kiểm tra, giám sát là chức năng lãnh đạo của Ðảng, lãnh đạo mà không kiểm tra, giám sát thì coi như không có lãnh đạo. Qua mỗi kỳ Ðại hội Ðảng, quan điểm, nguyên tắc, nhiệm vụ, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong Ðảng được bổ sung, phát triển, hoàn thiện. Ðến Ðại hội VIII của Ðảng, nhiệm vụ kiểm tra của các cấp ủy, tổ chức đảng chính thức được 'luật hóa' thành một điều (Ðiều 30) trong Ðiều lệ Ðảng. Ðến Ðại hội X của Ðảng, nhiệm vụ giám sát được Ðiều lệ Ðảng quy định, nhằm tăng cường công tác phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên từ lúc còn manh nha. Ðiều lệ Ðảng khóa X và khóa XI quy định tại Ðiều 30, Ðiều 32 về chức năng, nhiệm vụ giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và Ủy ban kiểm tra các cấp. Ðiều 30, Ðiều lệ Ðảng khóa XI quy định:' 1. Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Ðảng. Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát. Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Ðảng. 2. Các cấp ủy đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị của Ðảng'.

So với Ðiều lệ Ðảng khóa X, Ðiều lệ Ðảng khóa XI đã bổ sung, sửa đổi một số nội dung về công tác kiểm tra, giám sát như sau:

Về chức năng, nhiệm vụ giám sát

Ðiều lệ Ðảng khóa XI đã bổ sung từ 'giám sát' vào các Ðiều 17, 20, 23 và 24 để quy định rõ chức năng, nhiệm vụ giám sát của các tổ chức đảng sau:

+ Bổ sung Khoản 2, Ðiều 17: Bộ Chính trị lãnh đạo và kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết Ðại hội đại biểu toàn quốc, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương;

+ Bổ sung Khoản 3, Ðiều 17: Ban Bí thư lãnh đạo công việc hằng ngày của Ðảng: chỉ đạo công tác xây dựng Ðảng và công tác quần chúng; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Ðảng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại;

+ Bổ sung Khoản 3, Ðiều 20 về nhiệm vụ của ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, huyện ủy, quận ủy, thị ủy: Ban thường vụ lãnh đạo và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết của đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cùng cấp và cấp trên;

+ Bổ sung Khoản 5, Ðiều 23 về nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng: Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Ðảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Ðiều lệ Ðảng;

+ Bổ sung Khoản 2, Ðiều 24 về nhiệm vụ của chi bộ: kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật đảng viên.

Ðiều lệ Ðảng khóa XI bổ sung từ 'giám sát' vào các điều trên nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với quy định về chức năng, nhiệm vụ giám sát của cấp ủy, các tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp được quy định tại Ðiều 30, Ðiều 32 Ðiều lệ Ðảng, là cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng để mọi tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành và chịu sự giám sát của Ðảng. Khẳng định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ giám sát.

Về nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra các cấp

Ðiều lệ Ðảng khóa XI bổ sung vào Khoản 2, Ðiều 32, quy định ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Ðảng. Ủy ban kiểm tra các cấp cùng với việc kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, nay thực hiện cả việc kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ giám sát trong Ðảng, góp phần giúp công tác giám sát của các tổ chức đảng và trong toàn Ðảng được tiến hành một cách đồng bộ, thường xuyên, có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hơn.

Về chức năng, nhiệm vụ của đảng đoàn, ban cán sự đảng

Ðiều lệ Ðảng khóa XI sửa đổi Khoản 3, Ðiều 42 và Khoản 3, Ðiều 43: chuyển nhiệm vụ của đảng đoàn, ban cán sự đảng từ 'trực tiếp' thực hiện nhiệm vụ kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Ðảng sang 'lãnh đạo công tác kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Ðảng' để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các tổ chức đảng này.

2- Thi hành kỷ luật trong Ðảng

Ðiều lệ Ðảng khóa XI giữ nguyên Khoản 1, Ðiều 36, Ðiều lệ Ðảng khóa X quy định thẩm quyền kỷ luật đảng viên của chi bộ: Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao); đồng thời bổ sung Khoản 2, Ðiều 36 về thẩm quyền của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố, huyện, quận và tương đương: quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp ủy viên cùng cấp vi phạm nhiệm vụ do cấp ủy giao. Ban thường vụ cấp ủy: quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý vi phạm nhiệm vụ chuyên môn được giao.

- Bổ sung Khoản 3, Ðiều 36 về thẩm quyền của Bộ Chính trị, Ban Bí thư: quyết định khiển trách, cảnh cáo Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

Việc bổ sung thẩm quyền kỷ luật đảng viên như trên là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố, huyện, quận và tương đương quy định trong Ðiều lệ Ðảng khóa XI; nâng cao trách nhiệm trong việc xem xét, quyết định thi hành kỷ luật đảng viên, tổ chức đảng của cấp ủy, tránh việc đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên; giúp việc thi hành kỷ luật đảng viên được bảo đảm kịp thời.

3 - Ðổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Ðảng

Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X trình Ðại hội XI và Ðiều lệ Ðảng khóa XI đã thể hiện mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong Ðảng được tổng kết, bổ sung, phát triển qua các kỳ Ðại hội Ðảng. Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của ủy ban kiểm tra các cấp theo Ðiều lệ Ðảng khóa XI ít thay đổi so với Ðiều lệ Ðảng khóa X. Ðại hội XI của Ðảng nhấn mạnh việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng; giải quyết một số vấn đề bức xúc trong xã hội (suy thoái đạo đức, lối sống, tệ nạn xã hội, trật tự kỷ cương); đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp lựa chọn nội dung kiểm tra, giám sát cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của tổ chức mình. Tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành Ðiều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Ðảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp; việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, nhất là những vụ án nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội; kiểm tra, giám sát việc tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ.

Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân các cấp trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Công tác kiểm tra, giám sát của Ðảng phải phối hợp chặt chẽ với công tác thanh tra của Chính phủ, công tác giám sát của Quốc hội và các cơ quan hành pháp, tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo đúng chức năng và thẩm quyền của mỗi cơ quan. Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra đảng với các tổ chức đảng và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc xem xét khiếu nại, tố cáo và xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hoạt động của hệ thống ủy ban kiểm tra các cấp.

Như vậy, cùng với việc sửa đổi, bổ sung Ðiều lệ Ðảng về nội dung công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong Ðảng, Ðảng ta đã xác định phương hướng, nhiệm vụ, đối tượng, nội dung, phương pháp kiểm tra, giám sát cần tập trung thực hiện trong nhiệm kỳ Ðại hội XI của Ðảng, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho việc lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Ðảng.

TRẦN CẨM TÚ
Ủy viên T.Ư Ðảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra T.Ư

Tuesday, May 10, 2011

06/05 Giám sát dự án vốn nhà nước: Vẫn còn mang tính hình thức!

Thứ Sáu, 06/05/2011 | 21:40

Phản hồi: 0 | A


Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến mức độ lạm phát của cả nền kinh tế. Báo cáo tổng hợp về công tác giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư năm 2010 vừa được Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) công bố cho thấy, vấn đề quản lý và giám sát các dự án đầu tư bằng vốn nhà nước vẫn rất đáng lo ngại.

Bộ KH&ĐT ghi nhận được sự tiến bộ trong việc chấp hành chế độ báo cáo của các bộ, địa phương và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Số lượng báo cáo Bộ KH&ĐT nhận được từ các đơn vị này, tính đến ngày 18-4-2011, tăng hẳn so với các năm trước đó. Tuy nhiên, đó chỉ là sự cải thiện về hình thức, trong khi yếu tố quan trọng là chất lượng được thể hiện thông qua nội dung của các bản báo cáo gửi lên, thì chưa có nhiều cải thiện, thậm chí một số điểm còn thụt lùi.

Theo Bộ KH&ĐT, đến cuối năm ngoái, cả nước có 34.607 dự án sử dụng ít nhất 30% vốn nhà nước đang thực hiện, trong đó 14.493 dự án mới được khởi công trong năm 2010, còn số kết thúc đầu tư và đưa vào khai thác là 10.612 dự án.

Điểm thụt lùi đáng ngại nhất có lẽ là tình trạng buông lỏng công tác giám sát tình hình thực hiện các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước. Số liệu thống kê chưa đầy đủ của Bộ KH&ĐT cho thấy, tỷ lệ dự án có báo cáo giám sát trong năm ngoái chỉ đạt 58,8%, thấp hơn gần 9 điểm phần trăm so với năm trước đó. Số dự án được các bộ, ngành, địa phương... tổ chức kiểm tra, cũng chỉ chiếm 39,19%. Thực trạng này khiến cho một số cải thiện, mà Bộ KH&ĐT ghi nhận được thông qua các báo cáo, như số dự án chậm tiến độ hoặc phải điều chỉnh giảm, trở nên không còn ý nghĩa.

Sự buông lỏng này thậm chí diễn ra ngay cả với những dự án đầu tư có quy mô lớn (nhóm A), là những công trình có ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế cả về kinh tế lẫn xã hội. Số dự án nhóm A không có báo cáo giám sát lên đến 164 trong tổng số 465 dự án. Điều đáng ngại nữa là tình trạng chậm tiến độ của nhóm dự án quy mô lớn này đã tăng mạnh so với năm trước, với 90 công trình bị chậm. Đó là chưa kể đến 32 dự án đã phải điều chỉnh tiến độ đầu tư.

Từ 58,8% trong tổng số 34.607dự án đầu tư có báo cáo giám sát, Bộ KH&ĐT thống kê được đến 3.386 dự án bị chậm và 1.325 dự án phải điều chỉnh tiến độ. Bộ KH&ĐT nhận định: “Việc chậm tiến độ là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm tăng chi phí, khiến cho hiệu quả đầu tư giảm hoặc không còn và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế”. Thực tế, số dự án phải điều chỉnh vốn đầu tư trong năm ngoái lên đến 3.461, trong khi quy định về quản lý đầu tư hiện hành lại không cho phép điều chỉnh vượt tổng mức đầu tư trong trường hợp biến động giá và thay đổi chính sách.

Một số liệu đáng phải suy nghĩ khác là tỷ lệ chỉ định thầu trong các dự án nhóm A rất cao. Trong số 1.114 gói thầu của 135 dự án được đưa ra để lựa chọn nhà thầu trong năm ngoái, tỷ lệ chỉ định thầu chiếm đến 67,5%, trong khi số gói được đưa ra đấu thầu rộng rãi chỉ có 26,93%. Các dự án quy mô nhỏ hơn tuy không được ghi nhận trong báo cáo của Bộ KH&ĐT, nhưng nếu từ các dự án lớn suy ra, thì tỷ lệ chỉ định thầu ở các công trình đầu tư này cũng không ít. Chỉ định thầu có lợi điểm là rút ngắn được thời gian của giai đoạn chuẩn bị đầu tư, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, nhưng đây cũng là kẽ hở rất dễ dẫn đến thất thoát và tham nhũng.

Với những thông tin ghi nhận được từ các báo cáo gửi về, Bộ KH&ĐT cho rằng: “Chất lượng báo cáo của các chủ đầu tư gửi đến các bộ, ngành, địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, chưa báo cáo đầy đủ nội dung theo quy định, nhiều chủ đầu tư không báo cáo hoặc có nhưng mang tính hình thức, thiếu các thông tin chi tiết. Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là do công tác đánh giá, giám sát đầu tư triển khai tại các cơ quan và các chủ đầu tư chưa được quán triệt đầy đủ ...”.

Báo cáo giám sát là một trong những kênh thông tin giúp Chính phủ nắm bắt được tình hình triển khai cũng như hiệu quả của các dự án đầu tư bằng vốn nhà nước. Nhưng với những gì Bộ KH&ĐT thu thập được từ báo cáo của các chủ đầu tư, thì khó có thể nói những thông tin này hữu ích cho công tác quản lý, điều hành của Chính phủ. Do hạn chế bởi chất lượng thông tin thu thập được, báo cáo tổng hợp công tác giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư 2010 của Bộ KH&ĐT chủ yếu cung cấp thông tin mang tính chất thống kê về tình hình triển khai các dự án và đánh giá mức độ tuân thủ các quy định, thủ tục... trong quá trình thực hiện.

Trong khi đó, nội dung được cả Chính phủ và người dân kỳ vọng là phân tích, đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn, chất lượng công trình, khả năng tiền đầu tư của Nhà nước có bị thất thoát, lãng phí không... lại rất mờ nhạt. Toàn bộ báo cáo dày 9 trang của Bộ KH&ĐT chỉ có vỏn vẹn ba dòng, ghi nhận phát hiện 316 dự án có thất thoát, lãng phí, chiếm 0,91% tổng số dự án đang thực hiện đầu tư. Nếu phát hiện này phản ánh đúng thực tế, thì đây là số liệu rất đáng mừng. Còn trong trường hợp ngược lại, thì đây lại là con số nói lên tính hình thức của công tác giám sát các công trình đầu tư bằng vốn nhà nước.

Kiểm tra, giám sát là hoạt động mang tính độc lập. Đây là điều kiện tiên quyết để hoạt động này mang lại kết quả khách quan, trung thực. Nếu việc giám sát lại khoán trắng cho chủ đầu tư tự thực hiện, giống như kiểu “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, thì các báo cáo giám sát mà các bộ, ngành, địa phương nhận được chỉ mang tính hình thức là kết quả tất yếu.

Tấn Đức

TBKTSG