Showing posts with label UNESCO. Show all posts
Showing posts with label UNESCO. Show all posts

Friday, March 30, 2012

Đoàn kiều bào dâng hương tưởng nhớ các Vua Hùng


30/03/2012
Đông đảo du khách thập phương về dâng hương
trong dịp lễ hội ngày 29/3. (Ảnh: Tahnh Tùng/TTXVN)
Chiều 30/3, gần 50 kiều bào tiêu biểu đến từ 19 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đến dâng hương, tưởng niệm các Vua Hùng, dâng hoa tại Lăng Mộ tổ, thắp hương tại đền Lạc Long Quân thuộc Khu di tích lịch sử Đền Hùng, Phú Thọ.

Trước anh linh các Vua Hùng, các kiều bào đã tỏ lòng thành kính, tri ân công đức tổ tiên; cầu xin tiên tổ phù hộ cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng đoàn kết, vươn lên mạnh mẽ góp phần vào sự lớn mạnh của cộng đồng người Việt.

Nhân dịp này, tỉnh Phú Thọ đã tổ chức gặp gỡ thân mật đoàn kiều bào về dự giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm 2012. 

Friday, August 12, 2011

12/08 Nhân "Thành nhà Hồ" được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới- bàn về ông Vua cải cách tiền tệ



Thành Nhà Hồ được Việt Nam công nhận là di tích quốc gia từ năm 1962. Việc xây dựng hồ sơ để đệ trình UNESCO được khởi động từ năm 2006 và ngày 27/6/2011 vừa qua đã chính thức được công nhận là Di sản văn hoá thế giới tại kỳ họp lần thứ 35 của Uỷ ban di sản thế giới UNESCO (WHC) diễn ra tại Paris, Cộng hoà Pháp.



Thành nhà Hồ là công trình kiến trúc theo lối dinh lũy phòng thủ khi sảy ra chiến tranh. Công trình được Hồ Quý Ly-  một ông quan có nhiều thanh thế trong triều Trần cho xây dựng vào năm 1397 ở An Tôn (thuộc hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc,  tỉnh Thanh Hóa). Thành có hình chữ nhật, chu vi khoảng 3 km vuông, tường bao quanh xây bằng những khối đá hình hộp  được mài nhẵn, phẳng, dài từ 2 đến 4m, cao 1m, dày 0,7m. Cổng ghép đá hình vòm, cao 8m. Trong thành có khu dinh thự để vua ngự và xuống chiếu, nay chỉ còn lại những con rồng đá chạy dọc bậc thềm... 

                                           

           Từ một ông Quan  nắm được nhiều quyền hành tối cao ở triều Trần, tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly truất ngôi vua Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua, lập ra vương triều mới: Triều Hồ. Nhà Hồ tồn tại được 7 năm (1400-1407) và dời đô từ Thăng Long về An Tôn, gọi đây là Tây Đô để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội).  Trong khoảng 35 năm, Ông đã từng bước tiến hành nhiều cuộc cải cách rộng lớn về mọi mặt, từ chính trị, văn hóa đến  kinh tế- xã hội. Trong phạm vi  bài viết này,  xin dẫn dụ về một số nét về cải cách tiền tệ.
         Lần đầu tiên trong lịch sử tiền tệ thời phong kiến  Việt Nam có chuyện tiêu dùng tiền giấy.
         Lịch sử tiền tệ của chế độ phong kiến Việt Nam là lịch sử tiếp thu có chọn lọc tinh hoa chế tác đồng tiền kim loại hình tròn- lỗ vuông của nước láng giềng Trung Quốc vốn đã có ảnh hưởng khá sâu đậm qua hàng ngàn năm Bắc thuộc. Khác chăng là các ông Vua Việt lấy biểu trưng niên hiệu, hoặc thời hiệu của mình để đặt tên cho đồng tiền qua mỗi lần phát hành thay vì dùng tên tiền Trung Quốc cùng thời để chứng tỏ tính độc lập của vương triều thông qua tiền tệ.
Thế nhưng vào  năm 1396  “…mùa hạ, tháng 4 năm Bính Tý, niên hiệu Quang Thái, năm thứ 9 bắt đầu phát hành tiền giấy “Thông Bảo Hội Sao”. In xong, hạ lệnh cho người đem tiền đến đổi, cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy tiền giấy 1 quan 2 tiền…”. (trích Đại Việt sử ký toàn thư).
            Cũng phải nhắc lại là, năm 1024 ở Trung Quốc đã thấy nói triều đình Bắc Tống phát hành tiền giấy,  gọi là “Quan Giao Tử”. Dần dần, “Giao tử” cải thành “Tiền dẫn”, “Hội tử”, “Giao sao” …(xin xem:Lịch sử tiền giấy. http://vi.wikipedia.org). Tuy nhiên, các loại “tiền giấy” này thực chất chỉ như “ngân phiếu”, nó không thay thế hoàn toàn tiền kim loại trong lưu thông tiêu dùng. Do là những “bảo chứng” tiền tệ có mệnh giá lớn nên nó cũng chỉ lưu hành hạn hẹp ở tầng lớp giàu có. Cho đến năm1455 (thuộc triều nhà Minh) loại “tiền giấy” này không còn thấy lưu hành.
         Việc phát hành tiền giấy thời Hồ có thể xem là dấu hiệu của một “biến cố” bởi sự kiện xảy ra chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam. Điểm khác biệt căn bản so với nước láng giềng Trung Quốc là Hồ Quý Ly đãquyết định thay đổi dùng tiền kim loại sang tiền giấy. Về hình thức có thể cho rằng “Thông bảo hội sao” là cách phỏng  theo “Quan Giao Tử” hoặc “Giao sao” của Trung Quốc … , nhưng về quan niệm tiền tệ thì Hồ Quý Ly đã xem ‘Thông bảo hội sao”  là đồng tiền chính thức.
         Do tiên liệu trước sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc khép dân chúng tiêu dùng tiền giấy, Hồ Quý Ly cũng đã ban hành các điều luật cực đoan đi kèm, như: Cấm hẳn tiêu tiền kim loại, định tội không tiêu tiền giấy… Cho đến năm 1401, Hồ Hán Thương (con trai thứ của Hồ Quý Ly, nối ngôi vua) còn phải khuyến khích: “… mỗi mẫu thu 3 thăng thóc nay thu 5 thăng nhưng nộp bằng tiền giấy thì được giảm đi. Thuế đinh cũng tương tự, thu bằng thóc thì thu nặng hơn trước, nhưng thu bằng tiền giấy thì lại giảm đi…” (sách đã dẫn). Năm 1402, định lại các thuế  về tô ruộng, theo đó: ngoài việc dùng các quy định của pháp luật còn đưa ra nhiều biện pháp khác cố làm cho  tiền giấy được lưu hành rộng rãi trong dân. Nhưng trong thực tế, đến năm 1403, tức sau bảy năm ban hành, tiền giấy vẫn không được ưa dùng, đến nỗi dân buộc phải trao đổi theo hình thức hàng đổi hàng để tránh phạm luật…
            Nguyên nhân và những hệ lụy của việc phát hành tiền giấy.
         Chuyện kể rằng, thời Hồ có Nguyên Trừng (con trai trưởng của Hồ Quý Ly)- là người sáng chế ra “thần cơ sang pháo” (súng thần công). Khi nhà Minh Trung Quốc tấn công Việt Nam theo lời thỉnh cầu của hậu duệ họ Trần, bắt được người chế súng cùng nhiều khẩu thần công đem về Trung Quốc, ông không bị giết mà còn được phong là “Tả tướng quốc”.  Mỗi lần làm lễ tế súng thần công, quân Minh đều phải tế sống Hồ Nguyên Trừng.
         Do thời phong kiến,  nguồn nguyên liệu đồng  luôn khan hiếm, vì vậy, nếu để duy trì  đúc tiền kim loại trong hoàn cảnh sáng chế súng thần công cũng đang rất cần một nguồn nguyên liệu đồng to lớn, thì đây quả là một thách thức không nhỏ.  Cùng với nguy cơ bị giặc Minh Trung Quốc đe dọa xâm lược, buộc Hồ Quý Ly phải lựa chọn hoặc đúc tiền, hoặc đúc súng. Và ông đã lựa chọn đúc súng.
Nếu đây là một trong những nguyên nhân cơ bản thì việc chuyển sang dùng tiền giấy là một quyết định đúng. Chỉ có điều, việc hoạch định chính sách cải cách đó  luôn chứa đựng các yếu tố cực đoan, thiếu các cơ sở có tính chất nền tảng để thực thi,  khi mà việc phát hành tiền giấy rất khác với tâm lý tiêu dùng thông thường, lại không giống  quốc gia nào xét trên bình diện chung của tiền tệ trong khu vực.
          Những sự thay đổi đó vô hình chung đã đi ngược lại quyền lợi thiết yếu của người dân, với thói quen tiêu dùng và giao thương hàng hóa lâu đời bằng đồng tiền có lỗ xỏ dây, với việc cất trữ, tích lũy tiền với số lượng lớn của tầng lớp quan lại, địa chủ, thương lái...một bộ phận không nhỏ tầng lớp trên trong xã hội. Sự quá đỗi đó đã vượt ngưỡng khuôn phép của hoàn cảnh kinh tế- xã hội đương thời có thể chấp nhận được.
 Việc ban hành tiền giấy của nhà Hồ xem như thất bại. Cùng với sự sụp đổ của nhà Hồ, tiền giấy cũng chấm dứt lưu hành (1407). Đánh dẹp xong quân Minh, năm 1429, năm thứ hai sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã cho đúc tiền kim loại trở lại, nhân dân  trở về tiêu dùng đồng tiền tròn- lỗ vuông.
          Ngày nay giới sử học nói chung đánh giá cao mặt tích cực của Hồ Quý Ly, cho rằng Ông là một nhà cải cách táo bạo và hiếm có trong lịch sử Việt Nam nhằm hai mục đích: tăng cường chế độ tập quyền, giải quyết mâu thuẫn kinh tế- xã hội, giải phóng sức sản xuất... những điểm sáng, tích cực trong hoàn cảnh hạn chế của chế độ phong kiến Việt Nam đương thời.

           MT

Wednesday, June 1, 2011

06/04/2009 Di sản đô thị: Xung đột giữa phát triển và bảo tồn


THỨ HAI, 06 THÁNG 4 2009 16:13 HOÀNG HƯỜNG / TUẦN VIỆT NAM

"Trong một thế giới hội nhập, biến đổi liên tục, việc gìn giữ những di sản cho thế hệ tương lai là một quan niệm rộng với tầm nhìn xa hơn. Khi nói đến cảnh quan đô thị không phải người ta đề cập đến một di sản hay một công trình kiến trúc cụ thể mà đó là dự án tổng thể cho cả đô thị” - Michael Turner.

Luôn gây tranh cãi  

Diễn đàn UNESCO - Trường đại học và di sản lần thứ 12với chủ đề “Cảnh quan của các đô thị lịch sử”  đang diễn ra tại Hà Nội (từ 5 – 10/4) thu hút nhiều học giả từ khắp thế giới. 
Ngày đầu tiên, các phát biểu và tham luận đều nêu lên vấn đề lớn nhất hiện nay là công tác bảo tồn di sản đô thị: sự xung đột giữa phát triển đô thị và bảo tồn di sản lịch sử - văn hóa.

Làm thế nào để cân bằng giữa phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng trong xu thế toàn cầu hóa nhưng vẫn giữ được cảnh quan, không gian văn hóa truyền thống của địa phương? Rõ ràng đây là vấn đề nan giải mà thành phố nào cũng đều gặp phải. 

Kiến trúc sư, Chủ tịch UBND TP Hà Nội, Nguyễn Thế Thảo nói: “Hà Nội là một trong những thành phố đang phát triển mạnh mẽ, có không gian thiên nhiên gắn bó hài hòa, dù trải qua bao biến thiên vẫn giữ được trong mình những di sản quý. Trong quá trình phát triển Hà Nội vẫn cố gắng bảo tồn đô thị với ba nội dung chính: cảnh quan, chức năng và hình ảnh”.

Giáo sư Michael Turner đến từ Học viện Nghệ thuật và Thiết kế Bezalel, Tây Ban Nha cho rằng, bảo tồn đô thị lịch sử là đề tài tranh cãi của tất cả các trung tâm đô thị trên thế giới bởi sự đụng độ giữa xưa và nay.

Trong một thế giới hội nhập, biến đổi liên tục như hiện nay, việc gìn giữ những di sản cho thế hệ tương lai là một quan niệm rộng với tầm nhìn xa hơn. Khi nói đến cảnh quan đô thị không phải người ta đề cập đến một di sản hay một công trình kiến trúc cụ thể mà đó là dự án tổng thể cho cả đô thị”, GS Michael Turner nói.


Bằng chứng ấn tượng 
Tiến sĩ Ron Van Oers, chuyên viên của Trung tâm di sản quốc tế UNESCO đưa ra những dẫn chứng khá ấn tượng.

Thành phố Viên (Áo) được đưa vào danh sách di sản thế giới năm 2001. Thành phố này bao gồm nhiều công trình kiến trúc cổ, và một quần thể 4 cái tháp ở khu trung tâm rất nổi tiếng. Sau khi được đưa vào danh sách, các kiến trúc sư đã đề xuất tạo ra xung quanh khu tháp này một “vùng đệm” không để những công trình mới xâm hại cảnh quan. Nhưng việc này đã nảy ra những cuộc tranh cãi lớn. Cuối cùng TP Viên đã lựa chọn một công ty kiến trúc để kiến tạo khu vực này, thể hiện khu vực xung quanh như một phố Viên cổ. Vấn đề này hiện vẫn đang là đề tài tranh cãi.

Cologne Cathedral (CHLB Đức)  

Thêm một trường hợp khác, năm 2004 Nhà thờ Cologne Cathedral (Đức) - di sản thế giới, có niên đại hơn 800 năm bị đưa vào danh sách nguy hiểm bởi cảnh quan xung quanh đã có quá nhiều nhà cao tầng được xây dựng. Trước sức ép này, đã có những ý kiến đề nghị đưa Nhà thờ Cologne Cathedral ra khỏi danh sách Di sản thế giới, để địa phương có thể thoải mái xây cao ốc.

Tuy nhiên sau khi tranh cãi và cân nhắc giữa lợi ích kinh tế và văn hóa, năm 2006, chính quyền địa phương đã lập ngay kế hoạch bảo vệ di sản với Quy định giới hạn các tòa nhà xây dựng trong khu vực quanh Nhà thơ, và Cologne Cathedral đã được đưa ra khỏi danh sách nguy hiểm.

Tương tự như vậy, đền Taj Mahal (Ấn Độ) là công trình đầu tiên gần như thỏa mãn toàn bộ các tiêu chí của UNESCO cũng từng đứng trước khả năng phải lựa chọn. Phía trước nhà thờ này có một khu vườn và quần thể kiến trúc cổ. Năm 2003, chính quyền địa phương đã lên kế hoạch xây một trung tâm thương mại lớn tại khu vực đó. Tuy nhiên sau đó dưới sức ép của UNESCO và dư luận, kế hoạch này phải dừng lại vì nó phá vỡ cảnh quan khu vực đền Taj Mahal.

Đền Taj Mahal (Ấn Độ)

Hay như Cung điện Potala (Trung Quốc) được chọn là Di sản thế giới năm 1994 cũng vậy. Trong quá trình đô thị hóa, cảnh quan đô thị khu vực cung điện này cũng đã từng bị đe dọa. Nhưng sau đó, chính quyền Trung Quốc nhận ra rằng Potala không chỉ là một di sản mà là một phần cảnh quan văn hóa của đất nước. Chính phủ Trung Quốc đã chấp nhận phá hủy toàn bộ những công trình xây dựng mới trong khu vực để bảo toàn cảnh quan cổ trong khu vực.

Trở thành Di sản thế giới năm 1988. Trong suốt thập kỷ qua, khu vực tháp London vẫn là một đô thị nóng, luôn muốn bùng nổ xây dựng bất cứ lúc nào. Hiện đã có 14 tòa nhà cao tầng đang trong quá trình xây dựng, cùng 94 dự án khác đang chờ chực. Những cuộc xung đột vẫn đang xảy ra quyết liệt, chưa có ai nắm được quyền quyết định cuối cùng: những nhà bảo tồn hay nhà đầu tư.


Châu Á: Nền di sản truyền thống hay thuộc địa?
Giáo sư William Logan, từ Trường Đại học Deakin, Melbourne, Úc mang đến hội thảo những quan điểm khác nhau về di sản trong vùng Châu Á, lục địa già nhất nhưng có khối lượng di sản phong phú.

Trải dài trong lịch sử, Châu Á, trong đó có Việt Nam đã bị nhiều nền văn hóa thuộc địa. Đã có nhiều tranh cãi về vấn đề di sản truyền thống bản địa, và di sản do những nước xâm chiếm xây dựng và để lại, trong đó có nền văn hóa Châu Âu.

Cung điện Potala (Trung Quốc) 

Việt Nam, Lào, Thái Lan, Hàn Quốc… là những quốc gia chịu ảnh hưởng bởi nhiều nền văn hóa, và cũng là những nước có tỷ lệ tăng trưởng dân số nhanh, tốc độ đô thị hóa bùng nổ. Những đô thị phát triển đang mở ra thu hút đầu tư từ bên ngoài vào nhanh chóng đã tạo ra xung đột trong kết cấu văn hóa địa phương và văn hóa du nhập, đặc biệt tại các đô thị có nhiều di sản.

Thêm nữa, đô thị di sản là những nơi có ngành công nghiệp du lịch phát triển mạnh cũng tạo ra sự đồng hóa văn hóa, tác động trực tiếp đến cảnh quan và văn hóa tín ngưỡng địa phương. Toàn cầu hóa cũng là một yếu tố làm biến mất dần những bản sắc truyền thống. Tại một số thành phố người dân đã từng đấu tranh nhằm giữ gìn những bản sắc văn hóa riêng của họ. 

Giáo sư William Logan cũng bày tỏ sự quan tâm về Hà Nội, thành phố chịu ảnh hưởng nhiều cả văn hóa Trung Quốc và Châu Âu, chủ yếu là Pháp. Ông đã phân tích kỹ những trường hợp xây dựng và công trình kiến trúc mang tính xung đột văn hóa và cảnh quan như những công trình cao tầng quanh Bờ Hồ, tượng đài Lý Thái Tổ, các kiến trúc Pháp và những công trình Việt Nam tiêu biểu như Chùa Một Cột, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Văn Miếu Quốc Tử Giám…

Ông nhấn mạnh Hà Nội là một thủ đô quốc gia, mang nhiều tầng nấc di sản, lịch sử của cả dân tộc Việt Nam, và là thành phố có giá trị toàn cầu. Ông lưu ý quy hoạch phát triển phải được đặt ra ở những chiến lược có tâm, trong đó cần cân nhắc kỹ đến những di sản quý mà Hà Nội hiện có.

Hoàng Hường

10/11/2008 Nhà cổ Hội An: Lưu giữ dấu xưa


THỨ HAI, 10 THÁNG 11 2008 14:47 NGUYÊN KHÔI / SGGP


Hội An, khu phố cổ đẹp nhất miền Trung đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1999. Hội An có những con phố hẹp, dài với những căn nhà cổ vài trăm năm tuổi nhưng nhiều năm qua, cứ đến mùa mưa lũ, người dân sống trong những căn nhà cổ ở Hội An lại nơm nớp lo sợ ngôi nhà xưa này có thể sập bất cứ lúc nào. Vì sao không trùng tu các căn nhà cổ quý ấy?

“Sống trong sợ hãi”

Tính đến thời điểm cuối tháng 10-2008, Hội An phải căng lưng đối đầu với 5 trận lũ, trong đó trận lũ ngày 13 đến 17-10 vừa qua, nước dâng cao hơn 1 mét ở khu phố cổ  Bạch Đằng, Nguyễn Thái Học, Trần Phú. Nhiều ngôi nhà cổ với hàng trăm năm tuổi vốn đã xuống cấp nay lại càng rệu rã hơn khi phải ngâm trong nước. Những cây cột chống đỡ cho căn nhà đã xiêu vẹo bởi chân cột đã mục. Những mái ngói âm dương rêu phong đè nặng lên những rui mè, đòn tay đã oằn mình vì sức nặng của thời gian. Không chỉ chủ nhà mà ai cũng hiểu những căn nhà cổ kia có thể sập bất cứ lúc nào.


Phố cổ Hội An trong lũ (2007)
Cuối tháng 10 -2008, khi miền Trung phải “đón” cơn lũ thứ 5, chúng tôi đến Hội An và tìm đến gia đình ông Trần Văn Sung (64 tuổi) với 11 người cả con cháu, dâu rể sống trong căn nhà cổ số 96 đường Bạch Đằng.

Mái ngói đã cũ nát, gia đình ông Sung phải che bạt để tránh nước mưa mới ngủ được. Những mái kèo bị gãy, cột bị mục đứt chân khiến mọi người chỉ lo nhà sập đè chết người, nhất là khi mùa lũ như thế này. Gia đình ông Sung đã phải dùng cây gỗ chèn, chống tạm bợ cho căn nhà.

Trao đổi với chúng tôi, ông Sung cho biết - Theo thiết kế và tính toán của Trung tâm Bảo tồn di tích Hội An, để trùng tu căn nhà này phải mất hơn 200 triệu đồng. Trong đó, nhà nước hỗ trợ 45%, còn lại gia đình đóng góp. “Nhưng gia đình tui buôn bán nhỏ như ri thì lấy đâu ra số tiền lớn hàng trăm triệu để góp với nhà nước mà sửa nhà?

Hiện nay gia đình tui đang chạy vay mượn tiền để trùng tu cho đỡ sợ”, ông Sung nói giọng lo lắng. Ngoài căn nhà số 96 Bạch Đằng của ông Trần Văn Sung còn có căn nhà số 5 đường Nguyễn Thái Học của gia đình bà Châu Thị Dung, nhà số 10 đường Nguyễn Thái Học của gia đình ông La Gia Hồng cũng lâm vào cảnh xuống cấp trầm trọng và gia cảnh khó khăn như gia đình ông Sung. Sau cơn lũ ngày 17-10 vừa qua, căn nhà cổ 3 gian (ở số 10 đường Nguyễn Thái Học) đã xuống cấp trầm trọng khi 1/3 căn nhà bị hư hỏng hoàn toàn.

Cây cột trước nhà bị nước lũ làm “đứt ngang” vừa được nối lại bằng nhiều mảnh gỗ khác nhau. Ngoài phần ngói phía nhà trước còn có vẻ tươm tất thì phần ngói phía nhà sau đã xộc xệch đến nỗi có thể thấy trời xanh, dù đang ngồi trong nhà. Theo Trung tâm bảo tồn di tích Hội An (TT BTDT HA), để trùng tu căn nhà này cần 500 triệu đồng, nhà nước sẽ hỗ trợ 55% kinh phí, phần còn lại do gia đình đóng góp. Để có thể được sống bình an trong căn nhà đã có từ nhiều đời qua, gia đình này đã phải vừa vay mượn vừa cầm sổ đỏ để có tiền trùng tu căn nhà ba gian vốn rất đẹp này.

Nghịch lý trùng tu

Còn nhớ, mùa lũ năm 2004, căn nhà cổ số 48 đường Bạch Đằng đã bị sập hoàn toàn kéo theo 4 căn nhà bên cạnh bị hư hỏng nghiêm trọng. Cũng từ đây, UBND tỉnh Quảng Nam, UBND thị xã Hội An (nay là UBND thành phố Hội An) đã xây dựng đề án “Đầu tư tu bổ khẩn cấp các di tích Hội An” trình Chính phủ với danh sách 82 ngôi nhà cổ cần được trùng tu khẩn cấp, trong đó có 52 căn của tư nhân, 30 căn của Nhà nước.

Tuy nhiên, trong 4 năm qua, nhiều căn nhà vẫn không thể trùng tu được. Nguyên nhân gây ách tắc lộ trình trùng tu phố cổ là do vướng mắc khâu thẩm định 52 căn nhà tư nhân. Đến nay, chỉ có 50% chủ các nhà cổ (tư nhân) đồng ý trùng tu. Trong 50% nhà còn lại có 26 căn nhà cổ thuộc diện cần “tu bổ khẩn cấp” mà chủ nhân không đồng ý hoặc không có khả năng tài chính khiến việc trùng tu gặp nhiều khó khăn.

Ông Nguyễn Chí Trung – Giám đốc TT BTDT HA cho biết: Một trong nhiều nguyên nhân khiến quá trình trùng tu nhà cổ tư nhân gặp khó khăn là do sự sở hữu không rõ ràng, đặc biệt là các nhà thờ tộc với nhiều chủ cùng sở hữu.

“Giao tiền của tui để sửa nhà của gia đình tui cho người khác quản lý, vậy sao được ?”. Hàng chục chủ nhân các ngôi nhà cổ đã nói thế.


Nguy cơ “hiệu ứng đô-mi-nô”

Một số nhà nghiên cứu về Hội An lo lắng: việc trùng tu nhà cổ ở Hội An hiện nay cần phải cân nhắc kỹ, nếu không thì nguy cơ sụp đổ hàng loạt nhà cổ sau khi trùng tu một vài căn nào đó là khó tránh khỏi. Theo kết cấu xây dựng nhà ở phố cổ Hội An ngày xưa là “xông liền xông, mái liền mái” (“xông” là “bức tường” theo cách gọi của người Quảng Nam).

Chính nhờ kết cấu ấy mà các nhà cổ Hội An có thể chống chọi được với lũ bão nhiều năm qua. Một điều khiến những nhà nghiên cứu và những người yêu vẻ đẹp mộc mạc, cổ kính của các căn nhà cổ ở Hội An lo lắng là nhiều doanh nghiệp và tư nhân có tiền ở các nơi về mua các căn nhà cổ để mở nhà hàng.

Như đã nói trên, các căn nhà cổ bền vững với thời gian là nhờ kết cấu “xông liền xông, mái liền mái”, nhưng để mở rộng kinh doanh, buôn bán, các doanh nghiệp thường mua 3 đến 4 căn liên tiếp rồi cơi mái, đục tường nhà để tạo sự liên thông các ngôi nhà. Chính điều này đã làm cho nhiều nhà cổ gần đó yếu đi và các căn nhà cổ khó có thể “nương nhau” mà chống chọi với bão, lũ, nếu có xảy ra.

Thiết nghĩ, đã đến lúc các nhà chuyên môn, các cấp chức năng cần kiểm soát chặt chẽ việc trùng tu, để tránh cho khu phố cổ rơi vào nguy cơ một nhà bị sập có thể dẫn đến việc sập hàng loạt căn nhà liền kề bởi chủ nhà mới đã tự ý thay đổi kết cấu. Nhiều năm qua, việc trùng tu nhà cổ Hội An được các ngành chức năng hết sức quan tâm. Tuy nhiên, việc trùng tu phải đảm bảo đúng nguyên tắc và quy trình kỹ thuật kỹ càng, nếu không, sẽ khó có thể giữ gìn nguyên vẹn một Hội An có giá trị như hiện nay.

Bảo tồn những khu phố cổ ở Hội An là việc làm cấp thiết của mọi người, mọi cấp; bởi đó không chỉ là giữ gìn những căn nhà mà chính là giữ lại hồn xưa cho muôn đời sau.

27/05 UNESCO vinh danh Bia Tiến sĩ thời hậu Lê và nhà Mạc


THỨ SÁU, 27 THÁNG 5 2011 13:35 SGGP


Ngày 26/5, Tổng Giám đốc Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) bà Irina Bokova, đã chính thức vinh danh hệ thống Bia Tiến sĩ của các triều đại thời hậu Lê và nhà Mạc (1442-1779) được dựng tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám của Việt Nam vào trong Danh sách Ký ức thế giới.

Trong danh sách được Uỷ ban cố vấn quốc tế của UNESCO đề nghị đưa vào Danh sách Ký ức thế giới lần này có 45 tư liệu và các bộ sưu tập tư liệu đến từ nhiều nước, trong đó có 11 nước lần đầu tiên có di sản tư liệu trong danh sách này gồm Bulgaria, Fiji, Ireland, Nhật Bản, Mông Cổ, Marocco, Panama, Thuỵ Sĩ, Tunisia, Surinam.

Theo AP, UNESCO phát động Chương trình Ký ức thế giới năm 1992 nhằm ngăn ngừa nguy cơ những di sản tư liệu vô giá của nhân loại bị rơi vào lãng quên, khuyến khích các nước bảo quản tốt hơn và giúp quảng bá rộng rãi hơn giá trị của các di sản này trên toàn cầu.

Cho đến nay, đã có 238 di sản tư liệu của các nước trên thế giới được đưa vào Danh sách Ký ức thế giới của UNESCO. Các di sản được đưa vào Danh sách Ký ức thế giới rất đa dạng, bao gồm các di sản bằng đá, chất dẻo, da động vật, băng ghi âm…

Ch.H.

06/05 UNESCO xem xét 2 di sản của Việt Nam


THỨ SÁU, 06 THÁNG 5 2011 23:19 CHINHPHU.VN


Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) ngày 5/5 thông báo, Thành nhà Hồ vàVườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng của Việt Nam sẽ được Tổ chức này xem xét đưa vào Danh sách Di sản thế giới vào tháng 6 tới.

Đây là 2 di sản của Việt Nam trong số 42 di sản tự nhiên và văn hóa của hơn 40 nước sẽ được UNESCO xem xét.
 
Thành nhà Hồ ở Thanh Hóa sẽ được xem xét đưa vào Danh sách Di sản Văn hóa thế giới của UNESCO. Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng thuộc tỉnh Quảng Bình đã được công nhận là Di sản Tự nhiên thế giới theo Tiêu chí Địa chất - Địa mạo năm 2003, lần này sẽ được xem xét đưa vào Danh sách Di sản Tự nhiên thế giới lần thứ 2 theo Tiêu chí mới là Đa dạng sinh học.

Năm nay, Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO cũng sẽ  xem xét hiện trạng của 169 di sản, trong đó có 34 di sản đang trong tình trạng nguy hiểm do các giá trị của di sản bị đe dọa nghiêm trọng.

Cho đến nay, UNESCO đã công nhận 911 di sản thế giới, trong đó có 704 di sản văn hóa, 180 di sản tự nhiên và 27 di sản hỗn hợp (tự nhiên và văn hoá) ở 151 nước thành viên./.

Kim Chung

Friday, March 18, 2011

Tư duy lý luận về văn hóa và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới


15:41 | 18/03/2011
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những bước phát triển mới trong tư duy lý luận về văn hóa, về xây dựng và phát triển nền văn hoá; quan niệm về phát triển, về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Ngay từ những năm 1942-1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn"(1).