Showing posts with label EPC. Show all posts
Showing posts with label EPC. Show all posts

Saturday, October 1, 2011

01/10 Sửa luật để bảo đảm sức cạnh tranh cho nhà thầu Việt Nam

08:08 | 01/10/2011

Ngay trên sân nhà, những nhà thầu Việt Nam cũng không đủ sức cạnh tranh đối với nhà thầu quốc tế. Bên cạnh nguyên nhân trình độ năng lực chưa cao, khả năng tài chính chưa đủ mạnh, việc pháp luật quy định chưa phù hợp cũng khiến cho các nhà thầu trong nước bị thua thiệt.
Theo ước tính, 90% các gói thầu xây lắp thực hiện theo phương thức chìa khóa trao tay (EPC) đã thuộc về các công ty Trung Quốc mà phần lớn là dự án năng lượng, luyện kim, hóa chất. Hiện nay, có tới 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang tham gia vào tổng thầu EPC hoặc đối tác đầu tư trong 41 dự án tại Việt Nam. Trong các gói thầu, dự án sử dụng vốn nước ngoài, cơ hội của các nhà thầu Việt Nam là rất nhỏ nếu không muốn nói là không có. Thậm chí, các nhà thầu Trung Quốc cũng đang chiếm ưu thế ở một số dự án xi măng, điện, khai thác bô xít… dùng vốn trong nước, vốn ngân sách.

Friday, September 16, 2011

16/09 Kiến nghị hạn chế nhà thầu Trung Quốc vào các dự án điện


picture
Một trong những nguyên nhân khiến các dự án điện chậm tiến độ là do năng lực nhà thầu - Ảnh: Reuters.
▪  BẢO ANH
15:05 (GMT+7) - Thứ Sáu, 16/9/2011

Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) vừa có bản kiến nghị gửi lên lãnh đạo Đảng, Nhà nước về việc đẩy nhanh tiến độ các dự án năng lượng, trong đó có nội dung là nên hạn chế các nhà thầu đến từ Trung Quốc.
 
Trong kiến nghị gửi lên Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng mới đây, VEA cho hay, trước đó một hội nghị do cơ quan này tổ chức với sự tham dự của các chủ đầu tư, các nhà thầu, các tổ chức tín dụng, các chuyên gia kinh tế, năng lượng... đã đi sâu phân tích nguyên nhân gây nên sự chậm trễ các dự án điện trong Quy hoạch điện 6 cũng như đề xuất các giải pháp thực hiện Quy hoạch điện 7 và các dự án khai thác, chế biến than, dầu khí...

Theo VEA, bằng các nghị quyết, quyết sách của mình, Đảng và Nhà nước đã khẳng định “năng lượng phải luôn được phát triển trước một bước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia”.

Do đó, ngoài việc thu xếp nguồn vốn, vấn đề đảm bảo tiến độ thực hiện dự án phải được xem là nhiệm vụ hàng đầu. Việc đưa vào vận hành thương mại các dự án năng lượng đúng tiến độ sẽ góp phần tác động tích cực đến phát triển nền kinh tế của đất nước, đồng thời nói lên việc thực hiện nghiêm túc các quy hoạch và chiến lược đã đề ra được các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Tuy nhiên, trên thực tế hầu hết các dự án nguồn điện trong Quy hoạch điện 6 đều bị chậm tiến độ như các nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ, Pleikrông, Bản Vẽ…; nhà máy điện chu trình hỗn hợp Nhơn Trạch 2; các nhà máy nhiệt điện: Uông Bí (mở rộng 1), Hải Phòng 1, Quảng Ninh 1, Vũng Áng 1, Sơn Động, Mạo Khê, Nông Sơn, Ô Môn 1…; trong đó các nguồn điện phải điều chỉnh tiến độ chậm lại 1-2 năm là phổ biến, thậm chí đến 3 năm trở lên như các nhà máy nhiệt điện: Uông Bí (mở rộng 1), Mạo Khê, Nông Sơn, Vũng Áng 1, Ô Môn 1…

Đặc biệt các dự án do các nhà thầu Trung Quốc đảm nhận như: Hải Phòng 1, Hải Phòng 2, Cẩm Phả 1, Cẩm Phả 2, Quảng Ninh 1, Quảng Ninh 2, Mạo Khê, Thái Nguyên, Vĩnh Tân 2, Duyên Hải 1 và nhà đầu tư tư nhân như Kiên Lương… đều bị chậm, có những dự án đến nay chưa triển khai, chậm tiến độ từ 2 - 3 năm.

Kết quả đánh giá của cơ quan chức năng cho thấy, lý do chủ yếu khiến các dự án trên chậm tiến độ là do năng lực nhà thầu yếu, thiếu kinh nghiệm và không thu xếp được tài chính.

Ở nhiều dự án, nhà thầu hứa cung cấp đủ vốn cho dự án, nhưng thực chất là thiếu công nghệ, thiết bị không đồng bộ, thậm chí một số dự án, chất lượng thiết bị của Trung Quốc không bằng thiết bị của các nước phát triển, do đó dẫn đến việc triển khai các dự án vừa chậm trong xây dựng và cả chậm trong quá trình hoàn chỉnh để đưa dự án vào vận hành.

Ngoài ra, theo VEA, tại các dự án do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận, họ đều đưa toàn bộ công nhân nước này sang làm, không thuê kỹ sư, công nhân của Việt Nam, do đó không tận dụng được lao động nội lực, tạo công ăn việc làm cho các địa phương có dự án.

Cũng theo VEA, ngoài những khó khăn trong việc huy động vốn, còn có nguyên nhân khiến các dự án nhiệt điện chậm tiến độ là do hiện Việt Nam chưa ban hành tiêu chuẩn thiết kế nên phải áp dụng tiêu chuẩn nước ngoài, chủ yếu là tiêu chuẩn Trung Quốc. Điều này đã gây nên nhiều khó khăn, kéo dài thời gian do phải dịch thuật, thẩm định, trình duyệt. Chưa nói tiêu chuẩn của Trung Quốc không phải là tiêu chuẩn tiên tiến.

Trong một số trường hợp, các văn bản pháp lý của các cơ quan chức năng trong lĩnh vực đầu tư không đồng bộ, thậm chí trái ngược nhau đã dẫn đến các chủ đầu tư phải mất nhiều thời gian làm lại các thủ tục, hoặc phải chờ xin ý kiến hướng dẫn.

Trước thực tế đó, VEA kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành xem xét việc đơn giản hoá một số thủ tục đầu tư, nhằm tăng tính tự chủ cho các chủ đầu tư. Đồng thời cho phép thực hiện song song nhiều công việc trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư để giảm bớt thời gian chờ đợi giữa các thủ tục như: lập thiết kế kỹ thuật, lập hồ sơ mời thầu, kể cả đàm phán hợp đồng EPC (nếu áp dụng hình thức chỉ định thầu) đối với các dự án điện.

Chính phủ cũng cần có những cơ chế đặc thù cho các ngân hàng thương mại trong nước khi tham gia thu xếp vốn cho dự án như bảo lãnh các khoản vay trong và ngoài nước, được sử dụng trước nguồn vốn đầu tư của các ngân hàng trong nước…

Đặc biệt, theo VEA, Chính phủ cần động viên, khuyến khích các nhà thầu, các nhà đầu tư trong nước kể cả tư nhân có vốn, đủ điều kiện liên danh, liên kết với nước ngoài (các nước G7, châu Âu) để đầu tư phát triển mạnh các nguồn nhiệt điện chạy than.

Khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam bằng các hình thức BOT, BOO, IPP, nếu xét thấy họ có đủ năng lực, kinh nghiệm, tài chính nên lựa chọn các nhà đầu tư các nước phát triển.

Cùng với đó, các cơ quan quản lý nên thực hiện quy chế đấu thầu, lấy các yêu cầu về năng lực của nhà thầu, nhà đầu tư có kinh nghiệm và năng lực tài chính mạnh, chất lượng thiết bị tốt chứ không phải lựa chọn nhà thầu bằng cách đấu giá như trong thời gian qua, đồng thời, nên hạn chế các nhà thầu Trung Quốc.
 
Thảo luận (4 ý kiến)
(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)
 
Thanhthinh 10:06 (GMT+7) - Thứ Hai, 19/9/2011
Sử dụng nhân công Trung Quốc với lượng lớn sẽ là một thách thức với các nhà quản lý và ANTT. Vô cùng phức tạp.
Ngan - VHN 09:29 (GMT+7) - Thứ Hai, 19/9/2011
Tuyệt vời!

Rất mong ý kiến đồng thuận và triển khai kịp thời của lãnh đạo.
Bùi Bỉnh Luân 16:42 (GMT+7) - Chủ Nhật, 18/9/2011
Cám ơn kiến nghị của EVA. Một kiến nghị nghiêm túc, thẳng thắn, hợp lòng người và thực sự vì đất nước.

Như vậy, rõ ràng thời gian qua chúng ta (các cơ quan chức năng) đã tự làm khó, làm hại cho mình.

Tuy nhiên, để việc đầu tư xây dựng các nhà máy điện đạt kết qủa tốt trong thời gian tới cần:

- Đánh giá cụ thể những thiệt hại do các công trình bị chậm tiến độ, chất lượng đấu thầu, chất lượng thiết bị không tốt, chậm ban hành tiêu chuẩn thiết kế, ưu ái nhà thầu TQ…

- Kiểm tra làm rõ những cơ quan nào, cá nhân nào có thiếu sót để rút kinh nghiệm hoặc có biện pháp xử lý thích đáng, nghiêm túc, lập lại kỷ cương trong việc lựa chọn nhà thầu, đấu thầu, duy trì tiến độ các dự án…

- Thống nhất quan điểm đa phương, đa dạng hóa các nhà thầu ở các quốc gia để tránh bị lệ thuộc, bắt chẹt khi công trình đi vào khai thác sau này.

Phải lập lại kỷ cương, đề cao trách nhiệm mới mong những kiến nghị của EVA trở thành hiện thực nếu được chấp thuận.
Dương Đức Anh 18:39 (GMT+7) - Thứ Sáu, 16/9/2011
"Đặc biệt, theo VEA, Chính phủ cần động viên, khuyến khích các nhà thầu, các nhà đầu tư trong nước kể ....để đầu tư phát triển mạnh các nguồn nhiệt điện chạy than".

Thật không thể hiểu được tại sao VEA lại định đi theo con đường nhiệt điện chạy than? Bây giờ có bao nhiêu nguồn nguyên, nhiên liệu có thể sử dụng để cấp điện rẻ hơn, tiên tiến hơn, không gây ô nhiễm môi trường mà lại đi dùng công nghệ "cũ như động cơ hơi nước" này.

Theo tôi nên đẩy mạnh đầu tư vào các loại năng lượng gió, năng lượng mặt trời (đặc biệt nên khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư năng lượng mặt trời như khu vực các khu công nghiệp ở Ninh Bình).

Dù phải chấp nhận các khó khăn như công nghệ, vốn... nhưng nhà nước neen có quỹ hỗ trợ vì dù gì với kiểu xây dựng đầu tư như này thì thà mất 1 chút mà có lợi lâu dài vẫn hơn.

Friday, June 17, 2011

16/06 Khi hầu hết các gói thầu EPC vào tay Trung Quốc: Rủi ro khó lường


Thứ Năm, 16/06/2011 | 22:06
Đến 90% các gói thầu xây lắp thực hiện theo phương thức chìa khóa trao tay (EPC) đã thuộc về các công ty Trung Quốc, trong đó phần lớn là các dự án năng lượng, luyện kim, hóa chất. Tình trạng này không chỉ gây ra sự mất cân đối ngày càng lớn trong cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn làm tăng sự lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc.
Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng 1, một dự án EPC do Trung Quốc tiến hành gặp nhiều trục trặc và chậm tiến độ.

Nhà thầu Trung Quốc áp đảo
Tại một hội thảo diễn ra vào đầu tháng 6-2011, Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam cho biết, đến 90% các gói thầu xây lắp thực hiện theo phương thức EPC đã thuộc về các công ty Trung Quốc.
Còn theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, gần một nửa trong tổng số 248.000 tỉ đồng giá trị các gói thầu xây lắp bằng vốn nhà nước và vay của nước ngoài trong năm 2010, do công ty Trung Quốc thực hiện.
Điều thực sự gây lo lắng ở đây không chỉ là sự mất cân đối ngày càng lớn trong cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn ở sự lệ thuộc ngày càng lớn vào các nhà cung cấp thiết bị của Trung Quốc.
Thực trạng nêu trên cũng không phải là mới. Năm 2009, ông Tạ Văn Hường, Vụ trưởng Vụ Năng lượng thuộc Bộ Công Thương, đã cảnh báo về tình trạng đến 80% dự án nhiệt điện than do Trung Quốc làm tổng thầu hoặc giữ vai trò chính trong liên danh. Đồng thời, Việt Nam cũng đã phải gánh chịu cái giá không nhỏ bởi chất lượng kém của các công trình xây lắp do doanh nghiệp Trung Quốc làm tổng thầu gây ra.
Nhưng vì sao tình trạng này vẫn chưa được cải thiện, thậm chí còn nặng nề hơn, khi nhà thầu Trung Quốc lại tiếp tục được giao những dự án nhiệt điện rất lớn khác, bất kể sự chậm trễ và những sự cố liên quan đến chất lượng thiết bị ở những nhà máy điện trước đó.
Những nguyên nhân thiếu thuyết phục
Những tham luận trình bày ở hội thảo do Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam tổ chức vừa qua và trong các diễn đàn bàn về vấn đề tương tự trước đây, đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, hội nghề nghiệp đã phân tích và cho rằng nguyên nhân của sự thắng thế của các nhà thầu Trung Quốc ở Việt Nam là do họ chào giá quá thấp.
Trong khi đó, Luật Đấu thầu lại không cho phép chủ đầu tư đưa ra sự khống chế về xuất xứ thiết bị, công nghệ khi xét thầu, mà chỉ có thể đưa ra các điều kiện về hiệu quả, chất lượng công trình. Ngoài ra, nhiều dự án được đầu tư bằng nguồn vốn vay thương mại và ODA của Trung Quốc, nên chỉ nhà thầu của nước này mới được tham gia.
Tuy nhiên việc lý giải rằng các công ty Trung Quốc thắng thầu vì họ chào giá thấp là không thuyết phục. Với những dự án lớn về năng lượng, luyện kim... giá cả không thể xếp trên những yếu tố về chất lượng, tính ổn định trong vận hành và mức độ lệ thuộc vào một nhà cung cấp. Việc quyết định thực hiện một dự án không thể chỉ dựa vào mỗi một tiêu chí là chi phí đầu tư ban đầu mà hiệu quả vận hành mới là yếu tố quan trọng nhất.
Ngoài ra, giá cả của công ty Trung Quốc chào chưa hẳn đã rẻ, mà các dự án nhiệt điện than là ví dụ. Tập đoàn Khí Đông Phương được trúng thầu dự án nhiệt điện Duyên Hải 1 công suất 1.245 MW, do tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư, với giá 1,4 tỉ đô la Mỹ.
Trong khi đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) nhận thầu dự án nhiệt điện Vũng Áng 1 công suất 1.200 MW của tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) chỉ với giá 1,17 tỉ đô la Mỹ. Gần đây, PVN lại giao cho Lilama một dự án 1.200 MW nữa với giá 1,2 tỉ đô la Mỹ. Nhà máy này sử dụng toàn bộ thiết bị, công nghệ của Nhật Bản, Mỹ. Còn công ty Trung Quốc thì nhận được dự án Duyên Hải 3, cũng với công suất 1.200 MW nhưng giá thầu là 1,3 tỉ đô la Mỹ và lắp đặt thiết bị của Trung Quốc.
Luật Đấu thầu của Việt Nam tuy còn khiếm khuyết, nhưng đó cũng không thể là nguyên nhân giải thích cho sự thắng thế của các nhà thầu Trung Quốc.
Nếu nói là tại luật, thì vì sao trong ba doanh nghiệp nhà nước đang đầu tư lớn vào nhiệt điện, gồm PVN, EVN và tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV), chỉ những dự án do EVN và TKV làm chủ đầu tư, nhà thầu Trung Quốc mới thắng thế, còn các dự án của PVN thì nhà thầu trong nước chi phối hết? Riêng với TKV, hầu hết các dự án lớn của tập đoàn này, gồm sáu nhà máy nhiệt điện và các dự án luyện kim như đồng Sin Quyền, bauxite ở Tây Nguyên đều do các công ty của Trung Quốc đảm nhận.
Liên quan đến nguồn vốn, lẽ đương nhiên nước nào cấp vốn cho Việt Nam thì doanh nghiệp nước đó được độc quyền đấu thầu. Nhưng đã bao giờ chúng ta tự hỏi, vì sao các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Pháp… chủ yếu cung cấp ODA cho các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của Việt Nam. Còn Trung Quốc hầu như chỉ tập trung vào các dự án công nghiệp, nhất là công nghiệp năng lượng và những ngành khai thác tài nguyên trong nước.
Rủi ro khó lường
Sau khi thắng thầu, các tổng thầu Trung Quốc mang sang Việt Nam từ những thiết bị lớn cho đến những con bù lon, ốc vít.
Thậm chí, như ở dự án phân đạm Cà Mau, đến thiết bị làm vệ sinh và công nhân dọn dẹp vệ sinh cũng được mang từ Trung Quốc sang.
Vấn đề các công ty Trung Quốc chiếm lĩnh hầu hết các gói thầu xây lắp lớn đã được mổ xẻ nhiều trong ba năm qua. Điều khiến các chuyên gia kinh tế lo ngại nhất là khả năng bị phụ thuộc vào các nhà cung cấp vật tư, thiết bị thay thế của nước này.
Điều gì sẽ xảy ra nếu các nhà máy nhiệt điện dùng thiết bị của Trung Quốc bị hư hỏng, nhưng không được cung cấp phụ tùng kịp thời để thay thế, nhất là trong thời điểm căng thẳng về cung - cầu điện?
Hơn nữa, chuyện hư hỏng đối với thiết bị Trung Quốc lại xảy ra khá thường xuyên. Mùa khô năm ngoái, Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu điện nghiêm trọng, mà nguyên nhân chính là do các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than bị hư hỏng và tiến độ xây dựng chậm.
Liệu chúng ta có thể đạt được mục tiêu hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả đầu tư với những thiết bị và công nghệ rẻ tiền nhập từ Trung Quốc hay không?
Ngoài ra, tình trạng các gói thầu xây lắp lớn rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc còn góp phần làm cho tình trạng nhập siêu thêm trầm trọng. Các nhà thầu cho biết, ở các công trình xây lắp do các công ty Nhật Bản, châu Âu… làm tổng thầu, các doanh nghiệp trong nước thường được giao đảm nhận những công việc phụ, với giá trị có thể lên đến 30% tổng giá trị hợp đồng.
Nhưng với tổng thầu Trung Quốc thì khác hẳn. Họ mang sang Việt Nam từ những thiết bị lớn cho đến những con bù lon, ốc vít. Thậm chí, ở dự án phân đạm Cà Mau, đến thiết bị làm vệ sinh và công nhân dọn dẹp vệ sinh họ cũng mang từ Trung Quốc sang.
Tháng trước, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị phải rà soát và siết lại công tác quản lý đối với hoạt động đấu thầu. Theo đó, các gói thầu mà doanh nghiệp trong nước đảm nhận được trên 50% thì không đấu thầu quốc tế nữa, mà chỉ đấu thầu rộng rãi trong nước. Trong trường hợp thiết bị công nghệ trong nước không sản xuất được, thì chủ đầu tư có thể tách riêng để tổ chức đấu thầu quốc tế.
Đây là một quyết định kịp thời và nếu thực hiện nghiêm túc, nó sẽ mang lại nhiều hy vọng cho các nhà thầu trong nước và được kỳ vọng sẽ giải quyết vấn đề nhập siêu với Trung Quốc.
Tấn Đức
TBKTSG