Showing posts with label the Cities. Show all posts
Showing posts with label the Cities. Show all posts

Wednesday, June 1, 2011

31/05 Quản lý chặt đất công cộng ở khu đô thị mới


THỨ BA, 31 THÁNG 5 2011 20:47 DÂN TRÍ

UBND Hà Nội vừa yêu cầu các Sở ngành tăng cường quản lý chặt, sử dụng đúng mục đích diện tích đất quy hoạch xây dựng công trình công cộng phục vụ nhân dân tại dự án khu đô thị mới.
Theo đó, Sở Tài nguyên môi trường, Quy hoạch kiến trúc, Kế hoạch và đầu tư, Xây dựng; UBND các quận, huyện khi lập dự án và phê duyệt quy hoạch chi tiết... cần xác định cụ thể diện tích đất công cộng trong dự án.

Đối với diện tích đất công cộng cấp Thành phố và khu vực, đất trụ sở cơ quan hành chính, đất phục vụ an ninh, quốc phòng, sau khi chủ đầu tư xây dựng xong hạ tầng kỹ thuật phải bàn giao cho Sở tài nguyên môi trường quản lý.

Đối với đất xây dựng các công trình y tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao, phải đầu tư xây dựng đồng bộ với quá trình đầu tư các công trình nhà ở. Nếu không đầu tư hoặc không kêu gọi đầu tư theo phương thức xã hội hóa thì sau khi xây dựng xong hạ tầng kỹ thuật cũng bàn giao cho Sở tài nguyên và môi trường quản lý.

Khi bàn giao đất, chủ đầu tư được thanh toán suất đầu tư (nếu có) theo quy định của pháp luật. Kinh phí thanh toán được vay từ Quỹ phát triển đất Thành phố.

Trung tâm giao dịch đất đai và phát triển quỹ đất Hà Nội có trách nhiệm quản lý các khu đất xây dựng công trình công cộng theo quy định của Luật Đất đai và bàn giao lại cho chủ đầu tư thực hiện dự án theo quyết định của UBND Thành phố.

Các sở ngành có trách nhiệm kiểm tra, rà soát các khu đô thị mới, khu nhà ở đã có quyết định thu hồi đất, giao đất trên địa bàn Thành phố. Đối với các diện tích quy hoạch để xây dựng công trình công cộng mà chưa có chủ trương của UBND Thành phố giao cho các chủ đầu tư thực hiện xây dựng thì đề xuất quản lý theo quy định; đề xuất đầu tư xây dựng các công trình công cộng, sớm đưa vào sử dụng đồng bộ theo quy hoạch.

Quang Phong

12/04/2009 Trăn trở xung quanh vấn đề bản sắc dân tộc


CHỦ NHẬT, 12 THÁNG 4 2009 08:52 ASHUI.COM

Những thập kỷ gần đây, xu hướng hội nhập kinh tế, văn hóa xã hội tòan cầu một mặt đã dẫn tới một dạng chủ nghĩa quốc tế trên mọi lĩnh vực, mặt khác cũng làm nổi rõ nhu cầu về một bản sắc địa phương. Bởi vì nếu không có những điểm chung nhất định thì không thể giao lưu, nhưng nếu không có cái riêng thì không có nhu cầu về trao đổi.
Ở nước ta, chủ nghĩa địa phương đó được phát động dưới dạng hàng lọat phong trào tìm lại, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc. Về tâm linh, chúng ta đã khôi phục, bảo tồn và tôn tạo hàng lọat đền chùa miếu mạo và làm thêm rất nhiều công trình mới, khôi phục những lễ hội truyền thống và hệ thống văn hóa phi vật thể. Về vật chất, chúng ta dựng lại và làm mới một hệ thống hàng ngàn làng nghề thủ công truyền thống trên tòan quốc. Tất cả những nỗ lực đó đều là rất đáng quý và góp phần không nhỏ vào việc tạo ra và nâng cao ý thức về bản sắc truyền thống trong xã hội. Tuy nhiên, những giải pháp thời kỳ này mang nặng tính hình thức và lượng hơn là chiều sâu. Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, tôi muốn mời mọi người tham gia vào một diễn đàn theo hướng về nội dung hơn.

Chùa Tây Phương (ảnh chụp trong chuyến tham quan do Hội KTS HN tổ chức tháng 4/2009)

1 - Tính đại khái trong lĩnh vực tâm linh:
Chúng ta đều thống nhất quan điểm về 3 tôn giáo chính là Phật, Nho, Lão là nền tảng tín ngưỡng Việt nam, ngòai ra chúng ta có các dòng Thiên chúa giáo, Cao đài Hòa hảo, những tín ngưỡng thờ thần, thành hòang, tổ nghề, thờ gia tiên, những tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số. Có điều là trừ các nhà thờ thiên chúa giáo, Cao Đài thì tất cả những công trình tôn giáo còn lại đều na ná như nhau, về kiến trúc, nội thất cũng như cung cách cúng bái. Rất nhiều người tự hào cho rằng bản sắc Việt nam chính là chỗ tiêu hóa những món ăn tín ngưỡng ngọai lai và biến nó thành của mình. Nhưng cái của mình đó là cái gì thì chưa thấy ai nói được rõ ràng và thuyết phục. Đa số nều nói chúng có cái nét xuề xòa dân gian, giản dị mộc mạc v.v...

Chi tiết điêu khắc gỗ trong kiến trúc đình Tây Đằng (ảnh chụp trong chuyến tham quan do Hội KTS HN tổ chức tháng 4/2009)
Thực ra tất cả các tín ngưỡng xét đến kỳ cùng cao đạo của tâm linh có rất nhiều điểm tương đồng, nhưng ở mức từ trung bình trở lên là rất khác nhau về bản sắc, triết lý, còn ở mức nhận thức hết sức thấp và hời hợt thì lại giống nhau và đều có sắc thái mê tín dị đoan. Một vị phật, một chân nhân có thể chỉ nhìn vào một cái cây mà ngộ ra được nguyên lý chung của cả vũ trụ. Một nhà thực vật học uyên bác có thể vào rừng mà nhìn thấy hàng chục ngàn lòai cây khác nhau. Còn một người thường không hiểu biết thì vào rừng chỉ thấy tòan cây, vì vậy việc đi cả ngày trong rừng hay ngồi ở nhà với một cây cũng là như nhau. Trở lại vấn đề bản sắc tín ngưỡng Việt nam, điều chắc chắn là chúng ta không thể tòan các vị chân nhân giác ngộ được, vậy thì cái gọi là tiêu hóa hàng nhập kia thực tế không phải là tiêu hóa, mà chỉ là nhìn chúng bằng một mắt kính thiển cận. Giống như một người tai chỉ phân biệt được hai ba âm thanh thì nhạc nào nghe chẳng giống nhau, mắt chỉ nhận biết được hai ba màu sắc thì hội họa nào mà chẳng thế. Nếu bản chất của đền chùa miếu mạo chỉ đơn thuần là những nhà chứa tượng, có chỗ thắp hương và bày mâm đồ cúng thì đạo nào mà chẳng tương tự như nhau.
Tuy triết lý thần học mờ mịt, nhưng qua hàng ngàn năm đúc kết, học hỏi nơi nọ nơi kia, và đặc biệt do quá trình xây dựng thường là rất lâu dài, trong quá trình đó có sự góp ý, tranh luận của cộng đồng về từng nét chạm, từng mộng nối nên chí ít những công trình tôn giáo cổ truyền thực sự cũng có nhiều giá trị nói lên quan điểm thẩm mỹ, tín ngưỡng cũng như mong mỏi của người dân. Trong khi đó ngày nay, với niềm tin ngây thơ rằng chính sự xuề xòa trong triết lý là bản sắc dân tộc và nguồn tài lực lớn hơn xưa nhiều, người ta đã ồ ạt cho ra mắt những công trình tín ngưỡng theo phong cách tạp giao với quy mô ngày một lớn hơn, từ những công trình nhỏ nhưng quan trọng như nhà Quản trang ở Nghĩa trang Hàng Dương, Chùa đồng trên núi Yên tử tới những công trình lớn hơn như đền thờ Lạc Long Quân, khu đền Củ Chi, khu chùa Tây thiên, khu chùa Bái Đính. Ngay những di tích lịch sử quan trọng cũng bị sửa đổi một cách nhẹ dạ như chùa Kim Liên, chùa Trấn Quốc, Chùa Võng Thị, chùa Trăm gian v.v... Ở đây, người thiết kế, thi công không mấy quan tâm đến tín ngưỡng, còn người sử dụng thì vừa ít tín ngưỡng, vừa không được tham gia góp ý.

Giáo đường Ánh Sáng, Osaka - KTS Tadao Ando 
Nhìn sang Nhật bản, đặc biệt những công trình của Ando Tadao, hay nhìn sang châu Âu, châu Mỹ, chúng ta càng nhận rõ là người ta vẫn có thể xây mới những chùa chiền, nhà thờ nhưng mỗi thời kỳ phải có ngôn ngữ của nó chứ không đơn giản là lấy nguyên kiến trúc cổ rồi biến hóa cho to hơn, thay mái ngói bằng giả ngói, thay cột gỗ bằng cột bê tông giả gỗ v.v. Và đặc biệt là mỗi tôn giáo lại phải có bản sắc của nó, dựa trên những nghiên cứu sâu sắc về triết lý, thẩm mỹ, thông điệp nhân văn của nó cũng như những họat động hành lễ.
Chúng ta chỉ có thể xây dựng những công trình tín ngưỡng dựa trên cơ sở tồn tại của tín ngưỡng chứ không thể bù đắp cho sự thiếu hụt về tín ngưỡng bằng những công trình ngày một to. Đối với một tín đồ thực sự, thánh địa tôn giáo là nơi giúp anh ta tiếp cận dễ dàng hơn và củng cố niềm tin, còn đối với những người mê tín thì những sự cúng tế này là một thủ tục họ làm để có thể yên tâm làm những việc bon chen hàng ngày mà không cần phải tự chất vấn lương tâm, giống như xin giấy phép nhập hàng lậu vậy. Vì thế trong một xã hội mà tín ngưỡng gốc không được vun đắp thì càng nhiều đền chùa mới càng suy đồi tâm linh. Hiện nay ở Việt nam, tín ngưỡng đang có nguy cơ trở thành ngành kinh doanh dịch vụ đơn thuần. Để tiện cho người miền nam thì người ta làm thêm một Đền Hùng trong nam. Cứ theo logic như vậy thì có ngày các vua Hùng phải về phục vụ từng tỉnh, từng huyện. Để đỡ phải vất vả thì ngừơi ta làm cáp treo lên Yên tử, lên chùa Hương. Nhiều dự án kinh doanh bất động sản tư nhân cũng có thể xây chùa, xây phủ, miếu để câu khách. Đền chùa nào cũng cố khoe nào là chuông nặng nhất nước, nào là tháp cao nhất, cột to nhất, rồi nhiều phòng nhất, nhiều cửa nhất v.v... Tất cả đều giống những quảng cáo dân dụng chứ chẳng liên quan gì đến lĩnh vực tâm linh.
  • Ảnh bên : Lễ hội Đền Hùng (ảnh: TT&VH) 
Nhân lại nói đến việc khánh thành khu đền thờ quốc tổ Lạc Long Quân. Nếu người ta chịu khó tìm hiểu cách tạo bản sắc cho câu truyện tín ngưỡng này thì hẳn phải nhớ chuyện năm mươi người con theo cha xuống biển, 50 người theo mẹ lên rừng. Vậy thì đền thờ Lạc Long Quân hẳn phải ở biển, ở nước chứ không thể trên núi. Ngòai ra, việc xây đền ở đâu, thậm chí có xây đền không cũng không quan trọng bằng ý thức được rằng quốc tổ chính là vị thần nước, và biển, nước là một phần của văn hóa chúng ta. Vậy mà nay nghe ngân hàng thế giới cảnh báo Việt nam là một trong 5 nước sẽ bị thiệt hại lớn nhất thế giới do nguy cơ nước biển dâng, mà trung tâm thiệt hại là đồng bằng sông Cửu long, một nơi có truyền thống ngàn đời sống với mùa nước nổi. Đa số dân tộc ta sống ở các đồng bằng châu thổ và ven biển, vốn đã quen thích nghi với nước. Chỉ mới mấy chục năm gần đây do quy họach đô thị thiếu chiến lược mà đại đa số các thành phố đã bị đẩy vào thế cắt khỏi hệ thống nước mà trở thành bị nước đe dọa. Hỡi ôi, nếu dân tộc này mà bị nước ngập làm hại thì khác nào lòai cá tự vứt bỏ mang để rồi đến nỗi chết đuối trong nước, lập đền thờ tổ thì cũng có ích lợi gì. 
Tương tự thì thông điệp của một khu đền thờ Lý Thái Tổ là gì. Nếu chỉ là để nhắc nhở rằng ông là người đầu tiên quyết định thủ đô nước ta ở Hà nội và rằng Hà nội đã có 1000 năm tuổi thì có cần hẳn một ngôi đền không. Hồ Gươm có liên quan gì trực tiếp đến câu chuyện rời đô của Lý Công Uẩn hay không mà định đặt ngôi đền này bên hồ Gươm. Sự tích trả Gươm ở hồ này đã quá đậm bản sắc và Lê Lợi có liên hệ mật thiết với hồ này hơn hẳn Lý Công Uẩn. Có người nói tầm nhìn của Lý Công Uẩn trong chiếu rời đô giống như tầm nhìn quy họach mở rộng Hà nội ngày nay đến tận núi Ba vì, vậy thì có thể đặt đền trên núi Ba Vì. Lại cũng có thể đặt bên sông Hồng, vì sông Hồng chắc chắn là một yếu tố trong thế đất sông trước núi sau, rồng chầu hổ phục mà vua Lý đã nói đến khi nghĩ chuyện rời đô về Thăng Long. Và có lẽ con Rồng trong chữ Thăng long nhiều phần cũng xuất phát từ cảm hứng về sông Hồng. Tuy nhiên, dù đặt đền ở đâu và có xây đền hay không cũng không quan trọng bằng câu chuyện của chiếu rời đô chính là câu chuyện về núi sông hùng vĩ, về hội tụ nhân tài ở chốn kinh kỳ đô hội. Và câu hỏi đặt ra là câu chuyện này sẽ tiếp diễn thế nào trong một ngàn năm tới.

Hình ảnh hội Lim 2009
Ngòai những di tích lịch sử ra, các yếu tố văn hóa phi vật thể cũng được khai thác rầm rộ. Đâu đâu cũng trẩy hội, làng nào cũng rước sách rất là long trọng. Dù những làng nhỏ nhất cũng muốn khuếch trương ngày hội và tìm cách hấp dẫn đông đảo du khách thập phương. Và ở đây, chúng ta cũng bắt gặp một sự xô bồ, thiếu chất lượng. Từ những lễ hội lớn nhất, quan trọng nhất và đậm bản sắc nhất như hội chùa Hương, hội chùa Thầy, hội Yên tử, giỗ tổ Hùng Vương, chợ Viềng, hội Lim v.v... đều không tập trung vào tôn tạo những nét đặc trưng. Hội chùa thì rượu thịt xô bồ, hội chợ thì buôn điêu bán đắt, hội hát thì vặn băng cát xét v.v... Và hội nào thì cũng bán hàng trung quốc rởm, quảng cáo hò hét om xòm, chơi bời đỏ đen, hoặc bày những trò tương tự như liếm đít chảo, leo cột mỡ, chẳng ra thể thống gì. Có những thứ đúng là có bản sắc, và cũng là truyền thống ở một số vùng nhất định, nhưng vẫn nên cân nhắc xem có nên tiếp diễn hay không, chẳng hạn như hội chọi trâu. Cứ nói là tinh thần thượng võ, là vui mừng ngày mùa v.v... nhưng thực ra là trò man rợ và bất nhân bạc ác. Con trâu là bạn nhà nông, trong văn hóa lúa nước, hình ảnh con trâu và người nông dân, con trâu và trẻ mục đồng luôn là tình cảm trìu mến, yêu thương, làm gì có trò đem trâu đi chọi máu me rồi thịt cả con thắng lẫn con thua mà liên hoan với nhau. Tất nhiên những thứ mọi rợ như vậy thường vẫn thu hút nhiều du khách, nhưng là những du khách mông muội và chắc chắn sẽ để những người văn minh chê cười mà mang tiếng cho một dân tộc.

Cụ già ở đình So (ảnh : KTS Lê Việt Sơn)
Tóm lại, chúng ta có quyền tự hào về xuất xứ, về cội nguồn dân tộc nhưng việc liên tiếp làm những đền đài mới để biểu dương nguồn gốc là việc làm tốn kém và không hiệu quả bằng việc nghĩ xem từ những câu truyện đó rút ra được bài học gì để giúp chúng ta đứng vững trong tương lai. Và chính ý tưởng tương lai này sẽ là thông điệp, là định hướng cho một đền đài thực thụ. Tương tự như vậy, thông điệp của phật giáo, nho giáo, lão giáo, thiên chúa giáo mới là linh hồn của đền chùa, nhà thờ chứ không phải bài vị và tượng của ông Phật hay ông Khổng tử và bố mẹ của họ. Còn nếu có tổ chức hội hè thì cũng cần phải nghiên cứu cho thấu đáo, tập trung vào cái hay, cái đẹp mới thành bản sắc chứ không chỉ là tìm mọi cách để tập trung đông người vào một chỗ. Nếu không tổ chức, nghiên cứu tốt thì hội hè sẽ không phải là nơi phát huy được bản sắc văn hóa mà sẽ là nơi phô bày rõ nét những yếu kém về văn hóa và làm giảm giá trị dân tộc. Vì vậy, điều quan trọng khi tổ chức lễ hội ngày nay không phải cố tìm xem nên bày trò gì, làm cái gì mà quan trọng nhất là phải quyết định không làm cái gì.


2 - Bản sắc làng nghề
Ngòai công trình tín ngưỡng và lễ hội truyền thống ra, các làng nghề là một trong những mảng quan trọng được chú ý trong lĩnh vực tạo dựng bản sắc, thương hiệu. Hàng ngàn làng nghề được công nhận, khôi phục và phát triển. Tất cả các làng phàm đã có bất kỳ một nghề thủ công gì đều có thể được gọi là làng nghề truyền thống. Nhiều làng không có nghề gì gốc thì cũng tạo dựng ra một nghề nào đó. Tại nhiều vùng đô thị mới, người ta nghĩ đến việc dành ra những khu đất cho làng nghề, để có thể đa dạng hóa sản phẩm, công ăn việc làm cho dân. Đặc biệt nhiều nơi nghĩ đến chuyện tập trung nhiều ngành nghề thủ công truyền thống thành một khu hội chợ làng nghề, tương tự như khu 36 phố phường Hà nội ngày xưa. Bản thân khu 36 phố phường với mỗi phố một ngành thủ công cũng được coi là hết sức hấp dẫn và cần phải bảo tồn.

Ý tưởng tái phát triển khu phố cổ Hà Nội của tiến sĩ Iwata Shizuo
(nguồn: Viện Quy hoạch và Kiến trúc đô thị - UAI) 
Ngòai những họat động dạng hợp tác xã, tạo công ăn việc làm thì mỗi làng nghề đều phát huy những dạng thờ tổ nghề, bảo tàng nghề v.v... Các lễ hội làng nghề ngày một rầm rộ, khách thập phương dồn về hội ngày một đông, trầm trồ những quả pháo ngày một lớn, những bánh trưng, bánh dày to nhất nước. 
Nói chung, tất cả những sự phát triển trên đều không sai và đều góp phần tạo nên một không khí tìm tòi bản sắc nói chung. Tuy nhiên đến nay, sau 20 năm đổi mới, nhìn lại ta có thể thấy được những nỗ lực này không thành công bao nhiêu. Theo tôi, có một số lý do sau:
- Đầu tiên phải nói chúng ta tuy có nhiều nghề thủ công truyền thống, nhưng ít đạt được đến độ tinh xảo, bởi vì nhu cầu xã hội trong quá khứ cũng còn hạn chế, điều kiện giao lưu, học hỏi của người thợ cũng ít. Với mức độ như vậy thì thực ra ở đâu trên thế giới cũng có, vì ở mọi nơi, người ta đã từng phải làm thủ công như vậy trước thời kỳ công nghiệp. Trên tòan thế giới, dạng thủ công như vậy không thể còn sức cạnh tranh. Hiện nay, nếu người thợ thủ công nào còn đứng vững được trên thế giới thì phải đạt độ tinh xảo về tay nghề và sử dụng thành thạo kỹ thuật hiện đại, đi kèm với những hợp tác chặt chẽ về thiết kế mẫu mã. Vậy mà chúng ta chỉ dựa vào mỗi lý do làm bằng tay và sức lao động rẻ thì khác nào người ăn xin chỉ mong vào lòng từ thiện. Những lao động lương thấp này càng làm nhiều, càng xuất khẩu nhiều thì càng lún sâu vào vòng nghèo đói. 
- Vậy mà thay vì tìm cách phát triển công nghệ, mẫu mã để tăng chất lượng, thực sự đạt đẳng cấp quốc tế thì chúng ta dùng mọi nỗ lực cho việc phô trương, tiếp thị những sản phẩm còn chưa đạt yêu cầu. Đã đành rằng việc nâng cao chất lượng không phải một sớm một chiều có thể đạt được, tuy nhiên điều quan trọng là vấn đề ý thức. Lấy ví dụ nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng long, chúng ta làm một dự án đường gốm, một dải trang trí ghép bằng những mảnh gốm dài hàng chục cây số ven sông Hồng, chi phí tới gần nửa triệu Đô la, nhằm tôn vinh nghề truyền thống gốm ở Bát tràng. Trong khi đó, thực sự ở Bát Tràng hiện có rất ít sản phẩm đạt tầm cỡ quốc tế. Với số tiền lớn đó, nếu để tổ chức chuyển giao công nghệ, hội tụ nghệ sỹ, nghệ nhân thế giới nhằm giúp Bát Tràng có thể bật lên, có chỗ đứng vững trong tương lai thì sẽ tốt hơn nhiều. Tương tự như vậy, thay vì nghĩ xem làm sao để cái bánh trưng, bánh dày dân tộc được mọi nơi trên thế giới sử dụng thì chúng ta làm những bánh trưng to nhất thế giới, ném nguyên cả con lợn vào nhân. Thay vì tạo ra những sản phẩm đúc đồng hiện đại, tinh tế thì chúng ta đúc những quả chuông nặng nhất lịch sử v.v... Tất cả những điều đó đều là những định hướng sai lầm và nguy hiểm.

Chợ quê
- Chúng ta mở ra khắp nơi hàng ngàn làng nghề, đâu đâu cũng có triển lãm nghề thủ công, tiếp thị quảng cáo, nhưng không thực sự có quy họach ở đâu nên làm gì thì tốt nhất, tối ưu nhất, để có được một bức tranh du lịch tối ưu, hiệu quả và đặc sắc. Cần phải hiểu rằng ngòai giá trị hàng hóa thì làng nghề có giá trị văn hóa và du lịch rất cao. Nhưng những giá trị này chỉ phát huy được khi người ta biết trân trọng lịch sử, địa điểm, đặc trưng văn hóa của nó, còn khi ta chỉ coi nó như là sản xuất hàng hóa thông dụng, ai làm cũng thế, ở đâu cũng vậy thì có nghĩa là đã mất đi giá trị văn hóa, du lịch mất rồi. Ví dụ Hà nội là một vùng đất linh của đồng bằng sông Hồng, tập trung rất nhiều thổ sản quý báu đặc trưng của sông Hồng, từ Cam Canh, Bưởi Diễn, Cốm Vòng, Ổi Trại Găng, Khế Bắc biên, Chuối tiêu sông Hồng, Ngô Bãi giữa, Hồng xiêm Xuân đỉnh, Đào quất Nhật tân, Hoa Ngọc Hà, rau thơm làng Láng, dâu tằm dọc sông Đáy, sông Nhuệ v.v. Nếu biết khai thác, phát triển từ trồng trọt sang chế biến, buôn bán phục vụ du lịch thì mỗi vùng sẽ là một đầu mối buôn bán, một bản sắc kẻ chợ, bản sắc làng Nghề mà không mấy nơi trên thế giới có được. Những báu vật của trời đất ấy thấm nhuần lịch sử, văn hóa và không dễ gì có thể dùng sức người thay thế được. Trên thế giới nhiều nơi chỉ có củ khoai, củ sắn, củ tỏi củ hành mà họ cũng làm thành những nét văn hóa đặc sắc, hấp dẫn vô số du khách. Vậy nhưng ta chỉ coi Cam là cam, Bưởi là bưởi, trồng tràn lan khắp nơi, vừa chất lượng giảm, vừa mất hẳn một nét bản sắc văn hóa. Từ một đặc sản du lịch trở thành một mặt hàng nông sản bình thường. Tất nhiên với nhu cầu ngày một cao, việc phát triển sản xuất ra những vùng phụ cận hoặc cải tạo cơ cấu cây trồng vật nuôi cho những vùng trồng lúa cũng là cần thiết, nhưng cần phải giữ lại điểm gốc thì mới đẩy lên thành văn hóa được và từ đó những vùng mới càng được thơm lây.

Tóm lại, tìm về bản sắc là điều tốt và cần thiết, nhưng phải xác định thật kỹ cái gì là thực sự quý, thực sự đẳng cấp và làm thế nào để bảo tồn và phát huy, còn cái gì còn yếu kém thì một là bỏ đi tìm hướng khác, hoặc là phải biết là còn kém mà hết lòng cầu thị để cạnh tranh với đời. Vấn đề lớn của chúng ta hiện nay là đang lẫn lộn giá trị, có những thứ rất quý giá thì coi làm thường, còn những thứ rất tầm thường thì lại tôn vinh, phô trương, như vậy chẳng những không tìm lại được bản sắc mà càng mất bản sắc nhanh hơn.
P.Đ.T. 

11/10/2009 Hà Nội: Đưa phố cổ qua sông


CHỦ NHẬT, 11 THÁNG 10 2009 06:40 TIỀN PHONG


Giai đoạn 1 của Dự án di dân phố cổ, với mục tiêu di dời khoảng 2.000 hộ dân về một khu phố mới (nằm trong khu đô thị Việt Hưng - quận Long Biên) đang được quận Hoàn Kiếm cùng với các đơn vị liên quan của Thành phố khẩn trương triển khai.

Mật độ dân đông nhất thế giới

Ông Hoàng Công Khôi – Chủ tịch UBND quận Hoàn Kiếm cho biết: “Hơn 84 ngàn dân đang sinh sống trong khu phố cổ chỉ có 100 ha (1km2), hiếm thủ đô nào có mật độ dân số đông như thế” - Ông Khôi nói.

Áp lực dân số đối với khu phố cổ Hà Nội với 84.000 dân/1km2 

Quá đông dân khiến cho công tác quản lý dân cư khá vất vả, kinh doanh vỉa hè phổ biến, với tới 13 ngàn hộ dân đang kinh doanh ở 166 tuyến phố. Khó khăn nữa là việc quản lý, nhà đất, do sở hữu công và tư chồng lấn, đan xen. 
Dù đã rất cố gắng tuyên truyền vận động nhưng, vi phạm của dân vẫn diễn ra như lấn chiếm vỉa hè, lòng đường, nạn hàng rong, buôn bán nhỏ lẻ làm ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường đô thị.

Riêng lĩnh vực trật tư xây dựng khá nóng bỏng. Có công trình 6-7 tầng xây dựng sai phép, không phép ngay trong khu vực phố cổ  như 13 Mã Mây, 24 Hàng Gà, 22 Cầu Đất. Vì vậy, chủ trương di dân phố cổ đã được lãnh đạo Thành phố Hà Nội thống nhất cao, với  mục tiêu là giảm cơ học mật độ dân số trong khu phố cổ.

Cụ thể, đến năm 2020 giảm mật độ còn 500 người/ha (tức giảm khoảng 60 phần trăm dân số hiện nay). Như vậy, khoảng 20 ngàn dân sẽ phải di chuyển ra khỏi khu vực phố cổ tại 10 phường của quận Hoàn Kiếm, trong những  năm tới.

Tuy nhiên, một số chuyên gia về phố cổ cho rằng, để dự án sớm triển khai với mục tiêu như trên cần có nguồn lực, cơ chế, chính sách cũng như phải tạo được một sự hấp dẫn của nơi đến để cư dân phố cổ sẵn sàng ra đi.

Còn Chủ tịch UBND quận Hoàn Kiếm thì cho rằng, các sở ngành của thành phố phải khẩn trương vào cuộc, tạo điều kiện cùng quận triển khai thực hiện dự án này.

Phố Đinh Liệt nhìn từ trên cao (Ảnh: Hồng Vĩnh)

Phố cổ sang sông

Chủ trương dãn dân phố cổ nhằm giảm tải áp lực dân số đã có từ những năm trước, tuy nhiên việc triển khai có nhiều khó khăn. Thành phố Hà Nội và các đơn vị liên quan đã khá vất vả khi bắt tay thực hiện mục tiêu bảo tồn khu phố cổ, một thời gian dài phải loay hoay tìm các phương án phù hợp.

Lúc đầu dự án được giao cho Tổng Cty Phát triển nhà và Khu đô thị (HUD), nhưng suốt mấy năm vẫn chưa triển khai được ngoài việc dành ra một khu đất rộng khoảng 26 ha tại Việt Hưng.

Năm 2008, toàn bộ dự án được chuyển lại cho Thành phố và quận Hoàn Kiếm. Khu đất phục vụ giãn dân phố cổ hiện nay chỉ còn lại khoảng 12 ha nằm trong KĐT Việt  Hưng (quận Long Biên), đồng bộ về hạ tầng. Trục chính là đường Ngô Gia Tự cũng vừa được mở rộng với mặt cắt là 50 m.

Bà Lê Quỳnh Anh - Phó trưởng ban phố cổ Hà Nội cho biết, khu đô thị giãn dân phố cổ được thiết kế hiện đại, đầy đủ tiện nghi, thuận lợi buôn bán, làm ăn để thu hút người dân phố cổ về đây sinh sống.

Chính vì vậy, khu phố này vẫn phải kế thừa các đặc trưng của phố cổ như văn hóa kinh doanh, sinh hoạt phải được duy trì, thể hiện trong quy hoạch, phong cách kiến trúc (khu nhà ở, các tuyến phố thương mại, cửa hàng, khu tiểu thủ công nghiệp, nghề truyền thống…).

Ý tưởng là xây dựng nơi đây thành khu phố cổ thứ 2 của Thủ đô để dân có cơ hội làm ăn, đồng thời thu hút được du khách nhiều hơn”- Bà Quỳnh Anh cho biết.
Dự án di dân phố cổ đang được quận Hoàn Kiếm phối hợp với các đơn vị liên quan khẩn trương triển khai các thủ tục cơ bản, dự kiến khởi công vào đầu tháng 10/2010.

Theo kế hoạch, giai đoạn một của dự án có khoảng 1.900 hộ dân di dời gồm các hộ ở chồng lấn, đan xen với các di tích lịch sử-văn hóa, trường học, cơ quan công sở và một số dự án của thành phố cần giải phóng mặt bằng.

* Một khảo sát chưa đầy đủ cho thấy quận Hoàn Kiếm có 593 hộ đang sinh sống trong khuôn viên các di tích lịch sử, văn hóa, 39 hộ sinh sống trong khuôn viên trường học, 72 hộ ở vào công sở, 217 hộ sinh sống trong nhà cũ nát, nguy hiểm  có nguy cơ sụp đổ.

* Điều tra xã hội học ban đầu cho thấy, khoảng 2.700 hộ dân ở khu phố cổ mong muốn được giãn dân đến nơi ở mới.  

Nguyễn Tuấn

10/11/2008 Nhà cổ Hội An: Lưu giữ dấu xưa


THỨ HAI, 10 THÁNG 11 2008 14:47 NGUYÊN KHÔI / SGGP


Hội An, khu phố cổ đẹp nhất miền Trung đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1999. Hội An có những con phố hẹp, dài với những căn nhà cổ vài trăm năm tuổi nhưng nhiều năm qua, cứ đến mùa mưa lũ, người dân sống trong những căn nhà cổ ở Hội An lại nơm nớp lo sợ ngôi nhà xưa này có thể sập bất cứ lúc nào. Vì sao không trùng tu các căn nhà cổ quý ấy?

“Sống trong sợ hãi”

Tính đến thời điểm cuối tháng 10-2008, Hội An phải căng lưng đối đầu với 5 trận lũ, trong đó trận lũ ngày 13 đến 17-10 vừa qua, nước dâng cao hơn 1 mét ở khu phố cổ  Bạch Đằng, Nguyễn Thái Học, Trần Phú. Nhiều ngôi nhà cổ với hàng trăm năm tuổi vốn đã xuống cấp nay lại càng rệu rã hơn khi phải ngâm trong nước. Những cây cột chống đỡ cho căn nhà đã xiêu vẹo bởi chân cột đã mục. Những mái ngói âm dương rêu phong đè nặng lên những rui mè, đòn tay đã oằn mình vì sức nặng của thời gian. Không chỉ chủ nhà mà ai cũng hiểu những căn nhà cổ kia có thể sập bất cứ lúc nào.


Phố cổ Hội An trong lũ (2007)
Cuối tháng 10 -2008, khi miền Trung phải “đón” cơn lũ thứ 5, chúng tôi đến Hội An và tìm đến gia đình ông Trần Văn Sung (64 tuổi) với 11 người cả con cháu, dâu rể sống trong căn nhà cổ số 96 đường Bạch Đằng.

Mái ngói đã cũ nát, gia đình ông Sung phải che bạt để tránh nước mưa mới ngủ được. Những mái kèo bị gãy, cột bị mục đứt chân khiến mọi người chỉ lo nhà sập đè chết người, nhất là khi mùa lũ như thế này. Gia đình ông Sung đã phải dùng cây gỗ chèn, chống tạm bợ cho căn nhà.

Trao đổi với chúng tôi, ông Sung cho biết - Theo thiết kế và tính toán của Trung tâm Bảo tồn di tích Hội An, để trùng tu căn nhà này phải mất hơn 200 triệu đồng. Trong đó, nhà nước hỗ trợ 45%, còn lại gia đình đóng góp. “Nhưng gia đình tui buôn bán nhỏ như ri thì lấy đâu ra số tiền lớn hàng trăm triệu để góp với nhà nước mà sửa nhà?

Hiện nay gia đình tui đang chạy vay mượn tiền để trùng tu cho đỡ sợ”, ông Sung nói giọng lo lắng. Ngoài căn nhà số 96 Bạch Đằng của ông Trần Văn Sung còn có căn nhà số 5 đường Nguyễn Thái Học của gia đình bà Châu Thị Dung, nhà số 10 đường Nguyễn Thái Học của gia đình ông La Gia Hồng cũng lâm vào cảnh xuống cấp trầm trọng và gia cảnh khó khăn như gia đình ông Sung. Sau cơn lũ ngày 17-10 vừa qua, căn nhà cổ 3 gian (ở số 10 đường Nguyễn Thái Học) đã xuống cấp trầm trọng khi 1/3 căn nhà bị hư hỏng hoàn toàn.

Cây cột trước nhà bị nước lũ làm “đứt ngang” vừa được nối lại bằng nhiều mảnh gỗ khác nhau. Ngoài phần ngói phía nhà trước còn có vẻ tươm tất thì phần ngói phía nhà sau đã xộc xệch đến nỗi có thể thấy trời xanh, dù đang ngồi trong nhà. Theo Trung tâm bảo tồn di tích Hội An (TT BTDT HA), để trùng tu căn nhà này cần 500 triệu đồng, nhà nước sẽ hỗ trợ 55% kinh phí, phần còn lại do gia đình đóng góp. Để có thể được sống bình an trong căn nhà đã có từ nhiều đời qua, gia đình này đã phải vừa vay mượn vừa cầm sổ đỏ để có tiền trùng tu căn nhà ba gian vốn rất đẹp này.

Nghịch lý trùng tu

Còn nhớ, mùa lũ năm 2004, căn nhà cổ số 48 đường Bạch Đằng đã bị sập hoàn toàn kéo theo 4 căn nhà bên cạnh bị hư hỏng nghiêm trọng. Cũng từ đây, UBND tỉnh Quảng Nam, UBND thị xã Hội An (nay là UBND thành phố Hội An) đã xây dựng đề án “Đầu tư tu bổ khẩn cấp các di tích Hội An” trình Chính phủ với danh sách 82 ngôi nhà cổ cần được trùng tu khẩn cấp, trong đó có 52 căn của tư nhân, 30 căn của Nhà nước.

Tuy nhiên, trong 4 năm qua, nhiều căn nhà vẫn không thể trùng tu được. Nguyên nhân gây ách tắc lộ trình trùng tu phố cổ là do vướng mắc khâu thẩm định 52 căn nhà tư nhân. Đến nay, chỉ có 50% chủ các nhà cổ (tư nhân) đồng ý trùng tu. Trong 50% nhà còn lại có 26 căn nhà cổ thuộc diện cần “tu bổ khẩn cấp” mà chủ nhân không đồng ý hoặc không có khả năng tài chính khiến việc trùng tu gặp nhiều khó khăn.

Ông Nguyễn Chí Trung – Giám đốc TT BTDT HA cho biết: Một trong nhiều nguyên nhân khiến quá trình trùng tu nhà cổ tư nhân gặp khó khăn là do sự sở hữu không rõ ràng, đặc biệt là các nhà thờ tộc với nhiều chủ cùng sở hữu.

“Giao tiền của tui để sửa nhà của gia đình tui cho người khác quản lý, vậy sao được ?”. Hàng chục chủ nhân các ngôi nhà cổ đã nói thế.


Nguy cơ “hiệu ứng đô-mi-nô”

Một số nhà nghiên cứu về Hội An lo lắng: việc trùng tu nhà cổ ở Hội An hiện nay cần phải cân nhắc kỹ, nếu không thì nguy cơ sụp đổ hàng loạt nhà cổ sau khi trùng tu một vài căn nào đó là khó tránh khỏi. Theo kết cấu xây dựng nhà ở phố cổ Hội An ngày xưa là “xông liền xông, mái liền mái” (“xông” là “bức tường” theo cách gọi của người Quảng Nam).

Chính nhờ kết cấu ấy mà các nhà cổ Hội An có thể chống chọi được với lũ bão nhiều năm qua. Một điều khiến những nhà nghiên cứu và những người yêu vẻ đẹp mộc mạc, cổ kính của các căn nhà cổ ở Hội An lo lắng là nhiều doanh nghiệp và tư nhân có tiền ở các nơi về mua các căn nhà cổ để mở nhà hàng.

Như đã nói trên, các căn nhà cổ bền vững với thời gian là nhờ kết cấu “xông liền xông, mái liền mái”, nhưng để mở rộng kinh doanh, buôn bán, các doanh nghiệp thường mua 3 đến 4 căn liên tiếp rồi cơi mái, đục tường nhà để tạo sự liên thông các ngôi nhà. Chính điều này đã làm cho nhiều nhà cổ gần đó yếu đi và các căn nhà cổ khó có thể “nương nhau” mà chống chọi với bão, lũ, nếu có xảy ra.

Thiết nghĩ, đã đến lúc các nhà chuyên môn, các cấp chức năng cần kiểm soát chặt chẽ việc trùng tu, để tránh cho khu phố cổ rơi vào nguy cơ một nhà bị sập có thể dẫn đến việc sập hàng loạt căn nhà liền kề bởi chủ nhà mới đã tự ý thay đổi kết cấu. Nhiều năm qua, việc trùng tu nhà cổ Hội An được các ngành chức năng hết sức quan tâm. Tuy nhiên, việc trùng tu phải đảm bảo đúng nguyên tắc và quy trình kỹ thuật kỹ càng, nếu không, sẽ khó có thể giữ gìn nguyên vẹn một Hội An có giá trị như hiện nay.

Bảo tồn những khu phố cổ ở Hội An là việc làm cấp thiết của mọi người, mọi cấp; bởi đó không chỉ là giữ gìn những căn nhà mà chính là giữ lại hồn xưa cho muôn đời sau.

24/11/2008 Chân dung đô thị và nỗi buồn của tôi


THỨ HAI, 24 THÁNG 11 2008 23:03 DƯƠNG THỤ / TT&VH


1. Hơn hai mươi năm trước tôi có ý định làm cuốn sách Chân dung tỉnh lẻ, những chân dung được “vẽ” bằng ký, bằng ảnh, tranh, bài hát mà tôi có thể sưu tập được và bằng ảnh chụp cùng với phần ghi chép của riêng mình.
  • Ảnh bên : Hồn phố Hội An (Ảnh: Dương Minh Long)
Đấy là một dự án phi thực tế vì lúc ấy không có khái niệm về đầu tư, mà tôi thì nghèo. Thập niên 70, 80, những tỉnh lỵ ở nước ta mà tôi đã đi qua hầu hết, vẫn còn chút ít sự khác biệt, dù nó đã bị biến dạng đi rất nhiều sau hai cuộc chiến kéo dài và sau công cuộc tái thiết thời hậu chiến được tiến hành với những hiểu biết ấu trĩ về quy hoạch đô thị.
Tôi đã chụp hàng chục cuộn phim về Tuyên Quang, Nam Định, Hải Phòng, Hòn Gai, Sơn Tây, Hưng Yên, Trà Vinh, Châu Đốc, Sa Đéc, Long Xuyên, Mỹ Tho, Cần Thơ, Thủ Dầu Một, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Vũng Tàu v.v... và nhận ra rằng nó có những cái để ta thấy vẻ đẹp của chúng là khác nhau và vẻ đẹp khác nhau ấy bao giờ cũng gợi cho ta một chút nhớ nhung, một chút bâng khuâng, tạo thành ấn tượng khó phai mờ khiến ta muốn quay trở lại. Những ghềnh đá ven sông Lô chảy qua thị xã Tuyên Quang dọc theo đường phố chính, những dãy phố nhỏ của thị xã này thềm nhà cao với rất nhiều bậc tam cấp xây bằng gạch, trên nền cũ đã bị tiêu thổ từ thời kháng chiến chống Pháp là những ngôi nhà toóc xi lợp néo (nứa đập rập), vào mùa lá rụng, những đám lá khô gom lại ở góc phố bén lửa, khói bay lờ lững, thơm ngái chiều đông giá. Những dấu tích của khu phố buôn bán, phường hội của Nam Định: Hàng Nâu, Hàng Sắt, Hàng Thao, Hàng Đồng v.v... đường phố nhỏ hẹp, nhà thấp, rêu phong, kiến trúc theo kiểu nhà ống từa tựa như phố cổ Hà Nội và bức tường dài dằng dặc của nhà máy dệt, nhà máy tơ Nam Định.
Hải Phòng có sự chia khu rõ rệt theo những phong cách khác nhau: Khu phố Tàu từ Nhà Hát Lớn đổ về Chợ Sắt ồn ào nhộn nhịp, những dãy nhà phố hai tầng ban công đúc hoặc bằng sắt uốn rất gần với kiến trúc Chợ Lớn; khu phố Tây từ Nhà Hát Lớn đổ về Bến Sáu Kho nhang nhác một “Paris thu nhỏ” vắng vẻ thanh bình; khu phố Ta bên kia sông Lấp đổ về Quán Bà Mau nhà cửa xây theo phong cách thuộc địa thập niên 30, 40 thế kỷ trước.
Lần đầu tiên đến Thủ Dầu Một được dạo phố trên một chiếc xe thổ mộ, tôi ngẩn người trước những dốc phố quanh co, những ngôi nhà gạch một tầng lợp ngói âm dương và mùi hương của rất nhiều cây điều đang trổ hoa trước cửa nhà, hoặc sau những bờ tường rào thấp.
Còn ở các thị xã miền Tây Nam bộ là ấn tượng về phố xá của sông nước, kênh rạch với ghe, xuồng nhộn nhịp và những cây cầu nhỏ uốn cong. Rồi phố núi Ban Mê Thuột, phố biển Vũng Tàu, Nha Trang, phố cao nguyên thông xanh cỏ mướt biệt thự cổ kính Đà Lạt...
  • Ảnh bên : Toàn cảnh Đà Lạt
Giờ thì thấy tiếc, sự phát triển ồ ạt của đô thị trong vòng mười năm nay đã khai tử cho gần như tất thảy những gì gọi là ấn tượng, là vẻ riêng khó trộn lẫn của những nơi tôi đã đi qua. Suốt từ Bắc chí Nam đang hình thành ngày càng rõ nét một kiểu đô thị mới mà chữ gọi đúng nhất là đô thị không bản sắc. Chúng giống nhau hoặc mài mại như nhau và là sự rập khuôn, sao chép vụng về những cái “mới” của Hà Nội và TP.HCM (mà những cái “mới” này chỉ là những cái đẻ ra từ sự pha tạp về phong cách kiến trúc, lộn xộn, bất hợp lý về mặt quy hoạch).
Tuần vừa rồi tôi có chuyến đi xuống hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau. Suốt 360km đường ô tô, san sát nhà cửa mọc ven lộ, hầu hết là nhà mới xây. Không biết đây là phố xã, phố huyện, hay tỉnh lỵ và những lúc lãng đi khó có thể nhận ra mình đang đi qua miền Trung, miền Đông Nam bộ hay miền Tây vì cũng là trên đường quốc lộ 1A cả, và vì chúng...giống nhau quá. Đến Cà Mau tôi bị cụt hứng, cái đô thị xa vời của Tổ quốc mà tôi mơ có một ngày sẽ đặt chân đến, không thơ mộng, độc đáo như tôi tưởng. Nó cũng chẳng khác gì những đường phố mới của quận 8, quận 6 và quận 11 của TP.HCM. Chả lẽ cả nước này chỉ có một kiểu đô thị mà sự khác nhau chỉ ở quy mô? (giống y như thời bao cấp đâu đâu cũng chỉ thấy mũ cối, dép lê và sự khác nhau cũng chỉ ở cỡ số to, nhỏ). Chả lẽ...

2. Hóa ra người Việt mình lại rất thích phô trương, không phải phô trương cái mình nghĩ ra mà phô trương cái mình bắt chước được, chỉ hơn kém nhau ở chỗ anh nào bắt chước giống hơn, khéo hơn. Vì thế mới có những ngôi nhà nóc củ hành giống như tháp chuông điện Kremlin, những “biệt thự không vườn” phào chỉ rắc rối, ban công con tiện xi măng, trổ nhiều mái nhọn hoắt như biệt thự ở dãy phố Tây Hà Nội trong cái phong trào nhái phong cách kiến trúc thuộc địa cho nó sang. Rồi những mặt tiền ốp lát gạch men bóng lộn, những ngôi nhà ống bọc kính phản quang kiểu Sài Gòn, những cao ốc đơn điệu hình thù giống như những kiêu gạch xếp bên đường. Chúng mọc lên ở Hà Nội, vùng phụ cận Hà Nội và ở cả những đô thị mới xây dựng hoặc cải tạo mới. Chính tâm lý thích phô trương này đã sản sinh ra hình thái đô thị không bản sắc, “độc đáo Việt Nam” mà cô bạn Việt kiều của tôi ở Pháp lần đầu tiên về nước đã nhoai người ra ngoài cửa kính xe bấm máy lia lịa và kêu lên đầy vẻ thích thú “trông Ba-rốc quá” !?!? Người phương Tây đến Việt Nam một lần và ở đúng một nơi, cái không bản sắc với họ có thể là một bản sắc độc đáo, vì quả thật nó chẳng giống ai và nhất là chẳng giống chút nào với những đô thị văn minh mà họ đang sống. Nhưng nếu họ đến Việt Nam nhiều lần và ở nhiều nơi chắc là sẽ cũng nghĩ như tôi thôi.
Nói như thế quả cũng hơi nặng lời. Có bao nhiêu cố gắng của các nhà quy hoạch, của những kiến trúc sư tài ba nặng lòng với quê hương mình. Đã có những ngôi nhà, những đường phố, những góc nhìn thấp thoáng bản sắc riêng cho một vùng nào đó, nhưng đã bị chìm lấp trong làn sóng ào ạt của phong trào đô thị hóa “ngẫu hứng” và tự phát. Chắc đợi bao giờ người Việt mình giàu thật, giàu đến mức chẳng cần phô trương nữa, mới có thể bàn đến chuyện bản sắc đô thị chăng. Nói về nó bây giờ có thể là một chuyện quá xa xỉ.
  • Ảnh bên : Kiến trúc tại khu đô thị mới Ciputra - Hà Nội

3. Nghĩ đến dự định dở dang của hơn hai mươi năm trước mà thấy tiếc. Cái cơ hội để nhận diện vẻ riêng biệt, độc đáo của những phố thị nơi tôi đi qua đã vuột mất. Làm sao có thể thực hiện cuốn sách Chân dung tỉnh lẻ khi mà chân dung ấy không còn nữa. Thực tế phũ phàng như thế, còn tư liệu tôi gom góp từ bao nhiêu năm không sờ đến đã nằm mốc trong những hộp lưu trữ và trận triều cường năm ngoái cũng đã xóa sạch tất cả. Nhưng tiếc mà làm gì khi chúng ta không thể cứu vãn cái mà chúng ta đã hủy hoại một cách vô ý thức.

Bản sắc đô thị lấy từ đâu ra? Từ chính truyền thống mà đô thị ấy đã gìn giữ: truyền thống kiến trúc, vẻ đặc sắc của cảnh quan đô thị được bảo tồn qua nhiều năm tháng, nhiều biến cố, và cái cách mà con người quản lý nó, xử sự với nó. Nhà cửa, cây cối, vườn hoa, quảng trường, sông ngòi kênh rạch chảy qua, những cây cầu lớn nhỏ, con người sống trong đó với những nghi thức và tập tục riêng v.v., tất cả đều có từ lâu đời đã thành những câu chuyện kể, những hình ảnh và thanh âm in sâu vào tâm khảm mỗi người tạo nên rung động nội tâm. Cái mà ta gọi là hồn phố hay nói đúng hơn là hồn đô thị có lẽ là tất cả những thứ đó. Rõ ràng bản sắc đô thị bắt nguồn từ tâm hồn con người. Một khi chúng ta vô cảm, chúng ta không thể nhận ra nó vì không biết nó ở đâu, nó là cái gì và cũng vì thế chúng ta không thể tạo ra nó.

Vậy thì việc đầu tiên là phải chống lại sự vô cảm, một căn bệnh thời đại đang lây lan rất nhanh. Nếu không vô cảm, lại thông minh giỏi giang, lại có đủ điều kiện về mặt tiền bạc và kỹ thuật thì lo gì chuyện bản sắc đô thị. Lỡ đánh mất cũng sẽ tìm lại được, nếu không có cũng có thể tạo ra.