Showing posts with label tia sang. Show all posts
Showing posts with label tia sang. Show all posts

Thursday, October 20, 2011

20/10 Khi khoa học trở thành công cụ tuyên truyền


03:23-20/10/2011 
Theo Nature
David Cyranoski

Các nhà khoa học từ Việt Nam, Phần Lan, Canada...
đã yêu cầu sửa lại bản đồ vẽ đường “lưỡi bò” khẳng
định chủ quyền TQ bao phủ một phần lớn Biển Đông.
Va chạm trên biển và xung đột lãnh thổ thường không liên quan nhiều đến khoa học. Nhưng ngày nay các nhà nghiên cứu và các tạp chí khoa học đang bị vướng vào những mâu thuẫn lãnh thổ kéo dài bấy lâu trên Biển Đông. 
Đã xảy ra những cuộc đụng độ liên quan tới các tàu phục vụ nghiên cứu, trong khi người ta nói rằng chính phủ Trung Quốc sử dụng các công bố khoa học vào mục đích tuyên truyền cho tuyên bố chủ quyền của mình.

Tuesday, October 11, 2011

11/10 Ba trụ cột cho sự phát triển thịnh vượng, bền vững của nước Mỹ. Bài 3: Hệ thống giáo dục gắn với thực tế và khai sáng


10:19-11/10/2011


Nguyễn Cảnh Bình*

Một hệ thống giáo dục thực sự dân chủ và khai sáng mới đào tạo ra các thế hệ công dân tốt và hình thành các thế hệ lãnh đạo tài năng tiếp nối.

Vĩ nhân tiêu biểu và là lãnh tụ đóng góp lớn nhất cho quan điểm này chính là Thomas Jefferson, Tổng thống thứ 3 và tác giả Tuyên ngôn Độc lập. Jefferson cho rằng việc có bản hiến pháp tốt là chưa đủ, việc có các nhà người lãnh đạo giỏi, có tầm nhìn… cũng chưa đủ đảm bảo cho một quốc gia bền vững và thịnh vượng. Bởi khi thế hệ lãnh đạo đó mất đi, nếu không có thế hệ lãnh đạo tài năng mới thì thể chế đó cũng sớm lụi tàn. Vì thế, ông cho rằng cần nhiều thế hệ lãnh đạo tài năng, kế tục, nối tiếp nhau, như một ngôi nhà cần phải được xây dựng bằng nhiều lớp gạch… Và xa hơn, cần một dân tộc được khai sáng, cần những thế hệ công dân có giáo dục...

Monday, October 10, 2011

Ba trụ cột cho sự phát triển thịnh vượng, bền vững của nước Mỹ. Bài 2: Lãnh đạo tài năng, có tầm nhìn


01:45-10/10/2011
Nguyễn Cảnh Bình*

Alexander Hamilton (1757–1804),
Bộ trưởng Ngân khố đầu tiên của Hoa Kỳ
Họ là những người đã chung tay xây dựng nên một bản hiến pháp tốt nhất và phù hợp nhất với nước Mỹ. Nhưng phát triển một quốc gia thì một bản hiến pháp tốt là chưa đủ. Hiến pháp cần phải được thực thi bởi những cá nhân xuất sắc và với tư tưởng xuất sắc, có tầm nhìn… Những cá nhân ấy hợp thành cả một thế hệ lãnh đạo.
Nhân vật tiêu biểu nhất cho những nhà lãnh đạo này là Alexander Hamilton, được coi là chính trị gia kiệt xuất nhất của Mỹ. Sau này, ông là Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của Mỹ, và được coi là “kiến trúc sư” cho nền kinh tế và chính trị Mỹ thời dựng quốc.

Trong giai đoạn lập quốc của nước Mỹ kể từ những xung đột đầu tiên với người Anh đầu những năm 1770 đến khi thiết lập xong nhà nước Liên bang Hoa Kỳ năm 1792, nước Mỹ đã trải qua hai thế hệ lãnh đạo. Thế hệ đầu tiên tiêu biểu là George Washington (1732-1799), là Tổng tư lệnh quân đội Mỹ thời kỳ Cách mạng và những nhân vật kiệt xuất như Benjamin Franklin (1706-1790), chính khách Mỹ, Thống đốc bang Massachusetts, người có hình trên tờ 100 đô la, Patrick Henry Lee (1732 – 1794), người khởi xướng nền độc lập cho các thuộc địa, Chủ tịch đầu tiên của Quốc hội Hợp bang... và George Mason (1725-1792), cha đẻ Tuyên ngôn Nhân quyền của tiểu bang Virginia và Đạo luật Nhân quyền Mỹ năm 1790, John Hancock (1737-1793), Chủ tịch Quốc hội Hợp bang, người đầu tiên ký Tuyên ngôn Độc lập Mỹ… 

Thế hệ đầu tiên này (trừ Benjamin Franklin) sinh ra trong khoảng những năm 1730-1745 với lòng quả cảm và là thế hệ đầu tiên dẫn dắt và lãnh đạo cuộc Cách mạng Mỹ dẫn đến nền độc lập… Nhưng tư duy chính trị của các nhân vật này mới dừng lại ở lòng yêu nước, sự nhiệt thành và mong muốn một xây dựng đất nước thịnh vượng. Thành tựu lớn lao nhất của thế hệ đó là cuộc cách mạng giành độc lập với người Anh mà “sản phẩm tinh hoa kết tinh” nhất chính là bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776… 

Thế hệ chính khách, lãnh đạo thứ hai của Mỹ tiêu biểu là James Madison (1751-1836); Alexander Hamilton (1759-1804); John Marshall (1755-1835), Chánh án Tòa án Tối cao Mỹ, Chánh án vĩ đại nhất đã làm nên sự độc lập của ngành tư pháp Mỹ; James Monroe (1758-1831), Tổng thống thứ 5; Edmund Randolph (1753-1813), Thống đốc Virginia, Ngoại trưởng Mỹ… Thế hệ này sinh ra trong giai đoạn 1750-1760, khi Cách mạng Mỹ nổ ra, họ mới khoảng 20 tuổi nhưng được học hành bài bản hơn. Khi trưởng thành họ bắt đầu chứng kiến và tham gia cuộc Cách mạng Mỹ và đặc biệt là họ nhìn thấy được những yếu kém của nền chính trị Mỹ thời kỳ Hợp bang sau khi giành độc lập. Thành tựu lớn lao nhất của họ là kế tục sứ mạng dẫn dắt quốc gia non trẻ từ tay thế hệ thứ nhất để xây dựng chính quyền Liên bang Hoa Kỳ vững mạnh hơn và “sản phẩm trí tuệ” tiêu biểu tinh hoa nhất của họ chính là bản Hiến pháp Mỹ.

Tôi nhận thấy, mỗi thế hệ chính khách Mỹ đều mang trong mình một sứ mệnh lịch sử và họ hoàn thành tốt sứ mệnh này. Với thế hệ đầu tiên, sứ mạng đó là giành độc lập cho các thuộc địa và thế hệ thứ hai là tạo dựng nền tảng cho một nhà nước Liên bang trên nền độc lập đó. Các thế hệ tiếp theo lại có sứ mệnh xây dựng một nhà nước Mỹ thịnh vượng trên cái nền tảng đó, hoặc xử lý những khủng hoảng của quốc gia, của thế giới mà họ gặp phải.

Quan điểm của Hamilton là để phát triển một quốc gia thì một bản hiến pháp tốt là chưa đủ, nó cần phải được thực thi bởi những cá nhân xuất sắc và với tư tưởng xuất sắc, có tầm nhìn và cả một thế hệ lãnh đạo, một ê kíp lãnh đạo tài năng. 

Trước khi Hội nghị Lập hiến nhóm họp một năm, tại Hội nghị Annapolis năm 1786, Hamilton và Madison thống nhất quan điểm cần có một mô hình chính quyền mới mạnh mẽ và hiệu quả hơn nhưng dường như có sự phân công nhiệm vụ giữa hai chính trị gia trẻ trung này. Madison dành cả một năm tìm hiểu về các mô hình nhà nước cổ xưa và hiện đại để rồi phác thảo một bản hiến pháp phú hợp nhất cho nước Mỹ. Còn Hamilton đã dành thời gian nghiền ngẫm về những gì rồi đây nước Mỹ sẽ phải làm. Ông cho rằng, nước Mỹ cần phải được xây dựng trên một trật tự mới, có một bản hiến pháp mới với một chính quyền mới nhưng Hamilton còn muốn rằng chính quyền mới phải thực thi được những chính sách kinh tế, tài chính, thương mại, và cả ngoại giao, quốc phòng phù hợp. Vì thế, trong khi những chính khách khác mải mê tranh cãi tại Quốc hội, sa đà vào những lợi ích và mưu đồ cá nhân hoặc than vãn với nhau, còn Madison đang mải mê với những ý tưởng về Hiến pháp và mô hình nhà nước Liên bang thì Hamilton trở về New York nghiềm ngẫm và trù liệu những chính sách mới mà nước Mỹ rồi sẽ phải thực thi. Tôi rất lấy làm thú vị khi Hmailton còn đặc biệt khôn ngoan khi dự trù trước rằng có thể Washington làm Tổng thống, có thể mình sẽ thành Bộ trưởng Tài chính… Chính những sự chuẩn bị đó khiến ông vượt trên các chính khách khác đương thời khi chính quyền mới được thiết lập và chương trình hành động của ông đã thắng thế.

Đại biểu Quốc hội Hợp bang khi đó khá yếu kém, sa đà vào các tranh cãi vụn vặt. Hầu hết các chính khách khi đó đều chỉ đại diện cho các lợi ích địa phương, cục bộ. Mải mê theo đuổi lợi ích và chức vụ riêng… mà không thảo luận, suy nghĩ nghiêm túc về tầm nhìn và hướng phát triển của dân tộc. Washington và Hamilton gọi họ là những chính trị gia thiển cận, hẹp hòi, theo chủ nghĩa địa phương. Vai trò họ quá mờ nhạt và không mang lại sự thay đổi. Hầu hết các chính khách khi đó loay hoay giữa lợi ích cá nhân và lợi ích đất nước, chẳng biết đi về đâu…

Do kinh tế khó khăn, nhiều cuộc nổi dậy của nông dân xuất hiện ở vài nơi trên nước Mỹ, bất ổn trong xã hội xuất hiện, nông dân mất niềm tin vào chính quyền, ngân khố trống rỗng, uy tín của chính quyền cộng hòa giảm sút nghiêm trọng, và hầu như không ai có được một giải pháp nào toàn diện… Tương lai của liên minh 13 tiểu bang bị nghi ngờ đến mức khi đó Hamilton viết thư cho Washington rằng cả nước Mỹ đang sôi lên và chỉ cần một mồi lửa cũng đủ để bùng lên cả đám lửa. Hamilton nghĩ về một tương lai mạnh mẽ hơn, ông muốn và ủng hộ mô hình chính quyền Anh. Vì thế, ông liên kết với James Madison để vận động theo hướng ông tin tưởng.

Trong bức thư gửi Washington ngày 3 tháng Bảy năm 1787, Hamilton viết:

Trong chuyến đi của tôi về New Jersey và từ khi đến đây, tôi đặc biệt lo âu khi nhận thấy tâm trạng của công chúng và càng tin tưởng rằng Hội nghị Lập hiến này là cơ hội sống còn cuối cùng cho chúng ta thiết lập lại sự thịnh vượng của đất nước trên một nền tảng vững chắc hơn. Tôi cũng nói chuyện với những người hiểu biết, không chỉ ở thành phố này mà còn ở nhiều miền trong tiểu bang. Họ đồng ý rằng một cuộc cách mạng kỳ diệu mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn đang ở trong tâm trí tất cả mọi người. Họ nghĩ rằng do nỗi sợ hãi làm chấn động công chúng nên Hội nghị này sẽ không tiến đủ xa. Họ dường như tin rằng một mô hình nhà nước vững mạnh sẽ phù hợp với sự trông chờ của công chúng hơn là bất kỳ mô hình nào khác. Bất chấp việc những viên chức chính quyền đang làm mọi cách có thể để tạo ra những mối ác cảm về Hội nghị này, xu hướng chung hiện nay dường như đi theo hướng ngược lại.

Xin thú thật với Ngài rằng tôi rất lo âu về những chia rẽ bè phái tại Hội nghị khi tôi rời Philadelphia. Tôi sợ rằng chúng ta sẽ bỏ lỡ “cơ hội vàng” cứu vãn nước Mỹ khỏi sự chia rẽ, tình trạng hỗn loạn vô chính phủ và cảnh nghèo đói. Không có một biện pháp hỗn tạp hay yếu ớt nào có thể giải quyết dứt điểm vấn đề này. Cần phải có quyết định sáng suốt và không có gì mang lại sự thành công cho Hội nghị này bằng sự hài lòng của dân chúng.

Trong suốt thời kỳ trước và sau Hội nghị Lập hiến, Hamilton đã nghiền ngẫm rất nhiều sách lược, xây dựng một tầm nhìn, phát triển ê kíp lãnh đạo và hoạch định chiến lược về kinh tế, tài chính. Chính ông là người dựng ra tầm nhìn cả 100 năm cho nước Mỹ với rất nhiều hành động phi thường như lập ngân hàng quốc gia, thống nhất tiền tệ, thuế khóa, thúc đẩy sản xuất trong nước, tìm kiếm liên minh và quan hệ với nước Anh… Sau này, dù không còn tham chính những học thuyết và chính sách của ông vẫn được thực thi. 

Ngay sau khi nhậm chức, Hamilton đã thuyết phục Washington ký hiệp ước thương mại với người Anh chứ không phải với người Pháp, bất chấp việc Pháp là đồng minh và ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh giành độc lập. Ông cho rằng, để đất nước Mỹ phát triển, cần phải xây dựng mối quan hệ thương mại với cường quốc của thế giới dù cho đó là kẻ thù ngày xưa. Hamilton cũng thiết lập uy tín cho quốc gia, thiết lập Ngân hàng Quốc gia Mỹ, tiền thân của FED sau này, thống nhất các loại tiền của các tiểu bang về liên bang. Ông cũng xây dựng một loạt đạo luật liên quan đến việc đánh thuế và thúc đẩy sản xuất trong nước.

Hamilton là tiêu biểu cho cả một thế hệ lãnh đạo khai sáng, chân chính… Ông nỗ lực làm tất cả những gì có thể, sáng tạo ra những quan điểm mới và chính sách mới, thậm chí diễn giải hiến pháp để bào chữa và bênh vực cho chính sách mà ông sẽ làm…

Alexander Hamilton 

Alexander Hamilton (1757–1804) là luật sư, chính trị gia, chuyên gia tài chính người Mỹ. Ông là Bộ trưởng Ngân khố đầu tiên của Hoa Kỳ, người đã thiết lập hệ thống tài chính - ngân hàng, đặt nền móng cho nền kinh tế Mỹ, khi trở thành Bộ trưởng Ngân khố ông mới 32 tuổi. 

Ông đặc biệt quan tâm đến việc củng cố chính quyền trung ương, nên vào năm 1786, đại diện cho tiểu bang New York tại Hội nghị Annapolis. Tại đây, ông cùng Madison thúc giục Quốc hội Hợp bang triệu tập Hội nghị Lập hiến nhằm soạn thảo mô hình chính quyền mới cho liên bang. Năm 1787, Hamilton tham dự Hội nghị Lập hiến tham gia Ủy ban soạn và có đóng góp rất lớn.

Ông là tác giả chính của tác phẩm The Federalist Papers (Người liên bang) viết chung với James Madison. Những tư tưởng lớn lao chứa đựng trong đó đã đưa tác phẩm này sánh ngang với những danh tác chính trị của nhân loại, làm nền tảng, giải thích rõ ràng về ý nghĩa và mục đích của Hiến pháp Hoa Kỳ.

Năm 1789, Washington đã bổ nhiệm Hamilton giữ chức Bộ trưởng Tài chính, bộ quan trọng nhất trong giai đoạn đầu dựng nước. Được coi là kiến trúc sư của nền tài chính, kinh tế, và cả chính trị ngoại giao Mỹ thời kỳ lập quốc, ông đã xây dựng nền tảng cho một nhà nước hùng mạnh. Ông đã thành lập Ngân hàng Đệ nhất Hoa Kỳ, để tài trợ cho các khoản nợ của liên bang; đảm trách các khoản nợ của các tiểu bang và khuyến khích sản xuất, phát triển quan hệ thương mại với nước Anh. Hamilton tham gia sáng lập Ðảng Liên bang, tiền thân của đảng Cộng hòa sau này để đối trọng lại Jefferson, Madison và Ðảng Cộng hòa - Dân chủ.

---

(*) Giám đốc Alpha Books



Sunday, October 9, 2011

09/10 Bài 1: Một bản hiến pháp hiệu quả và phù hợp


08:28-09/10/2011Ba trụ cột cho sự phát triển thịnh vượng, bền vững của nước Mỹ
Nguyễn Cảnh Bình*

James Madison (1751-1836), người được mệnh danh
là cha đẻ bản Hiến pháp Mỹ
Một ngôi nhà lớn cũng như một quốc gia hùng mạnh không thể chỉ xây dựng trên một trụ cột. Thực tiễn cho thấy nhà nước Mỹ thịnh vượng, bền vững như ngày hôm nay được xây dựng trên nhiều trụ cột, trong đó trụ cột thứ nhất chính là bản hiến pháp phù hợp với dân tộc Mỹ, khai thác được tiềm năng và đảm bảo khuôn khổ cho sự phát triển của đất nước.
Không một công ty, một doanh nghiệp nào khi mới thành lập tự nhiên đã là người khổng lồ, không một quốc gia nào tự nhiên sinh ra đã hùng mạnh. Quá trình phát triển của nước Mỹ trở thành một cường quốc như hiện nay cũng là sự hội tụ của nhiều yếu tố và trải qua nhiều biến động và thăng trầm của lịch sử và phát triển lâu dài. Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, khi mới thành lập, nước Mỹ là một vùng đất hứa và là một quốc gia trung bình, có tiềm năng phát triển, chưa phải là cường quốc như Anh, Pháp, Tây Ban Nha… Vượt qua nhiều biến động thăng trầm từ những ngày dựng nước, đến công cuộc giải phóng nô lệ của Abraham Lincoln, vượt qua Chiến tranh thế giới thứ nhất dưới thời Woodthrow Wilson, đến cuộc đại khủng hoảng kinh tế và Chiến tranh thế giới thứ hai của thời kỳ Roosevelt những năm 1940, nước Mỹ mới trở thành một cường quốc. Rồi trải qua cuộc Chiến tranh Lạnh thời kỳ Kennedy và sự sụp đổ của Đông Âu năm 1989, Hoa Kỳ mới thực sự trở thành siêu cường…

Nước Mỹ được xây dựng nên như ngày hôm nay là nhờ ba trụ cột: (1) Một bản hiến pháp hiệu quả, phù hợp với dân tộc Mỹ, khai thác được tiềm năng của đất nước và đảm bảo khuôn khổ cho sự phát triển. Đại diện tiêu biểu là James Madison, Cha đẻ bản Hiến pháp Mỹ; (2) Vai trò của những chính trị gia, nhà lãnh đạo xuất chúng, có tầm nhìn đã hoạch định và thực thi được các chính sách phù hợp với bản Hiến pháp đã được thiết lập. Nhân vật tiêu biểu nhất là Alexander Hamilton, Bộ trưởng Tài chính đầu tiên. (3) Một nền giáo dục lành mạnh, thực tiễn để đào tạo ra các thế hệ công dân khai sáng, có kiến thức và hiểu biết, từ đó hình thành các thế hệ lãnh đạo tương lai tài giỏi cho đất nước… Nhân vật tiêu biểu là Thomas Jefferson, Tác giả Tuyên ngôn Độc lập, Tổng thống thứ ba của Mỹ.

Các thế hệ lãnh đạo đầu tiên của nước Mỹ nhận thức và hiểu được rằng, nền độc lập giành được từ người Anh là chưa đủ để đảm bảo việc xây dựng một quốc gia thịnh vượng. Năm 1787, khi tham dự Hội nghị Lập hiến, George Mason người soạn Tuyên ngôn Nhân quyền cho bang Virginia đã viết thư cho con trai: “Cuộc Cách mạng giành độc lập từ nước Anh và quá trình xây dựng chính quyền mới lúc đó chẳng là gì so với công trình vĩ đại [Ý nói là việc soạn bản Hiến pháp] đang ở trước mắt cha... Việc thiết lập chính quyền này có thể sẽ mang lại hạnh phúc hay đau khổ cho hàng triệu người, cả hiện nay và trong tương lai. Đó vẫn là mục tiêu cao cả, đầy hấp dẫn và thách thức sự hiểu biết của loài người.”

Các sử gia trên thế giới đều đánh giá rằng có hai văn bản quan trọng nhất làm cơ sở cho sự hùng mạnh và bền vững của nước Mỹ là bản Tuyên ngôn Độc lập được soạn năm 1776 và Hiến pháp Mỹsoạn thảo năm 1787. Có thể nói bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ mà sau này được Hồ Chủ tịch trích dẫn trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước ta năm 1945 chính là bản tuyên bố sứ mệnh, mục tiêu của người dân Mỹ mong muốn xây dựng một quốc gia độc lập, thịnh vượng... Còn bảnHiến pháp Mỹ là bộ luật tối cao, là khuôn khổ, là công cụ để người dân và chính phủ Mỹ đạt được mục tiêu mà Tuyên ngôn Độc lập đã nói. Có thể coi Tuyên ngôn Độc lập là văn bản thể hiện ý chí, khát vọng và tình cảm còn bản Hiến pháp Mỹ thể hiện lý trí, sự khôn ngoan và sự trù liệu kỹ càng để người dân Mỹ đạt được mục tiêu đó.
Trong những bản hiến pháp đang có hiệu lực trên thế giới hiện nay, Hiến pháp Mỹ là bản hiến pháp cổ xưa nhất với lịch sử tồn tại trên 220 năm và đến nay, bản Hiến pháp Mỹ đã được sửa đổi 27 lần nhưng trừ 10 tu chính án đầu tiên là Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights) ban hành ngay sau khi thông qua hiến pháp thì những lần sửa đổi sau chỉ sửa, bỏ đi hay thêm các điều khoản nhỏ chứ không phải viết lại mới hoàn toàn. Về căn bản, cấu trúc của chính quyền, quyền hạn, tổ chức, cách bầu chọn các cơ quan của Liên bang Hoa Kỳ vẫn không thay đổi so với khi Hiến pháp được soạn ra… Các sử gia và chính khách Mỹ đều khẳng định rằng bản Hiến pháp Mỹ đã đặt nền tảng cho quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, góp phần quan trọng biến một miền đất của 13 tiểu bang lỏng lẻo và yếu kém bên bờ Đại Tây Dương đang đứng trước nguy cơ tan rã và nội chiến đã trở thành một quốc gia hùng mạnh như hiện nay. 

Tại Hội nghị lập hiến, Benjamin Franklin đã kêu gọi những đại biểu khác ủng hộ bản Hiến pháp và tự đánh giá bản thân: “Tôi thừa nhận rằng lúc này có nhiều điểm trong bản Hiến pháp tôi không thể chấp nhận, nhưng tôi không chắc rằng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận nó. Tôi đã sống đủ lâu để hiểu rằng chúng ta không nên dựa quá nhiều vào sự phán xét của chính bản thân mình. Tôi thường thấy mình sai lầm ngay tại những điều ưng ý nhất. Khi tôi càng nhiều tuổi, tôi càng nghi ngờ sự phán xét của chính mình và quan tâm chú ý hơn đến những nhận xét của người khác. …Với những suy nghĩ đó, thưa Ngài Chủ tịch, tôi đồng ý với bản Hiến pháp này với mọi lỗi lẫm của nó, nếu có, bởi tôi nghĩ rằng chúng ta cần một chính quyền chung… Tôi cũng nghi ngờ rằng không một Hội nghị nào có thể làm ra được một bản Hiến pháp tốt đẹp hơn. Thưa Ngài, tôi nghĩ bản Hiến pháp này cũng làm những kẻ thù của chúng ta ngạc nhiên, những kẻ đang tin tưởng trông chờ rằng chúng ta cũng giống như những người xây dựng Tháp Babel; rằng các tiểu bang của chúng ta đang ở bên bờ miệng vực của sự tan rã, gặp nhau tại đây chỉ để cắt cổ họng của người khác."

Trong suốt 10 năm sau cuộc cách mạng Mỹ 1776-1786, chính dân tộc Mỹ đó, những con người đó, đất đai đó với 13 tiểu bang khá độc lập với nhau liên minh với nhau dưới một bản Hiến pháp mờ nhạt năm 1781 mang tên Các điều khoản Hợp bang đã tạo nên tình trạng rất lộn xộn, thậm chí có nguy cơ tan rã do thiếu vắng một chính quyền hiệu quả. Theo mô hình này, cả 13 tiểu bang chỉ thuần túy tham gia liên minh với nhau chứ không có một chính quyền chung. Cơ quan điều hành khi đó là Quốc hội Hợp bang, nhưng về hình thức cũng chỉ giống như đại hội đại biểu các tiểu bang nhưng không có thực quyền, không có bộ máy hỗ trợ, không có tòa án, không có quân đội nên không thể điều hành liên minh hiệu quả, khiến nước Mỹ đứng trước nguy cơ nội chiến và tan rã. Trước thực trạng đó, James Madison cho rằng, điều đầu tiên cần là phải xây dựng được một mô hình, một thể chế phù hợp và hiệu quả, tức là cần soạn thảo một bản hiến pháp mới, làm nền tảng cho một quốc gia muốn thịnh vượng và bền vững.

Đây là ý tưởng rất thông minh bởi lúc đó hầu hết các chính trị gia đương thời sa lầy vào những cuộc tranh luận vô bổ tại Quốc hội Hợp bang mà Madison cho là những tranh luận vụn vặt. Hầu hết những người dân Mỹ và cả các chính khách khác đều bất bình với những rối ren lộn xộn. Khi cuộc sống không được đảm bảo, sự lộn xộn về kinh tế và cả chính trị khiến đất nước không phát triển nên họ đã chỉ trích chế độ đương thời và mong muốn sự thay đổi. Những tiếng la ó có ở khắp mọi nơi, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân xuất hiện đòi lật đổ chính quyền cộng hòa non trẻ do mất niềm tin. Thậm chí, còn có đề xuất 13 tiểu bang khi đó nên chia thành ba quốc gia Bắc, Trung, Nam hoặc mời một vị hoàng gia ở châu Âu sang làm Vua nước Mỹ. Nhiều chính trị gia khác thể hiện thái độ bất mãn hoặc thờ ở, bàng quan với thời cuộc. 

Nhưng James Madison và Alexander Hamilton đều có cách tiếp cận và xử lý vấn đề với tinh thần xây dựng và sáng tạo. Cả hai nhân vật này khi đó mới 36 và 30 tuổi. Họ đều là những chính trị gia trẻ, tiêu biểu cho thế hệ chính khách thứ hai của Mỹ, đã hợp tác và chia sẻ quan điểm với nhau và cùng thống nhất mục tiêu chúng là nỗ lực vận động xây dựng một chính quyền Liên bang mới, mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn. Họ đều thống nhất rằng nước Mỹ cần một chính quyền liên bang mạnh và hiệu quả chứ không phải là một nên dân chủ thái quá và lộn xộn. Với suy nghĩ đó, Madison và Hamilton đã nỗ lực vận động chính giới Mỹ tổ chức Hội nghị Lập hiến tại Philadenphia từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1787, tập hợp các chính khách và lãnh tụ có uy tín của cả 13 tiểu bang để soạn thảo ra một bản Hiến pháp mới.

Lịch sử thế giới đã chứng kiến nhiều quốc gia hùng mạnh nhưng rồi lại lụi tàn, từng có nhiều đế chế ban đầu được lập nên bởi những vị vua khai sáng, uy tín và đức hạnh, nhưng rồi lại chấm dứt bằng chế độ độc tài, chuyên chế hoặc rồi lại vô kỷ cương, vô chính phủ với một ông vua bù nhìn, nhu nhược, ngu dốt… Vì thế, Madison hiểu rằng để xây dựng được một mô hình chính quyền hiệu quả, thì cần phải hiểu cặn kẽ mọi ngóc ngách của các mô hình chính quyền từng tồn tại trên thế giới rồi tìm ra một mô hình phù hợp. Để chuẩn bị cho Hội nghị Lập hiến, mùa Xuân-Hè năm 1786, Madison rời bỏ mọi công việc tại chính quyền tiểu bang và liên bang, một mình lặng lẽ trở về ngôi nhà của ông ở Montperlier, tiểu bang Virginia mải mê vùi đầu vào hàng trăm cuốn sách. Ðó là những cuốn rất nổi tiếng của các tác giả Thế kỷ Ánh sáng như Khế ước Xã hội, Tinh thần Pháp luật, Về Một Cộng đồng hoàn hảo và những cuốn khác về lịch sử tồn tại và diệt vong của các nhà nước Hy Lạp và La Mã cổ đại, Hợp bang Thuỵ Sĩ thế kỷ 14, Liên bang Bỉ, Phổ giữa thế kỷ 17... Madison đặt mục tiêu tìm ra những nguyên lý và trở ngại cho sự hoạt động bền vững của chính quyền. Madison nghiền ngẫm những ý tưởng và rồi viết những điều ông thấy bổ ích về những đặc điểm hình thành và nguyên nhân sụp đổ của các mô hình trên thế giới vào cuốn sổ nhỏ có tên là Những ghi chép về các mô hình liên bang cổ xưa và hiện đại. Rồi ông tự ghi chép và phân tích những điều yếu kém của thể chế Hợp bang của Mỹ khi đó vào cuốn Những trục trặc trong hệ thống chính quyền Mỹ. Ông quá thông minh và đã rất thực tiễn khi hiểu rằng để xây dựng một mô hình nhà nước Mỹ vững mạnh thì cần phải tìm ra những nguyên lý đúng đắn trên cơ sở cả lý thuyết và thực tiễn. 

Tìm hiểu tất cả những điều đó đã dẫn Madison đến kết luận rằng, dù hoàn toàn đồng ý với Jefferson rằng “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” nhưng Madison lại cho rằng rồi đây trong cuộc đời, mỗi người chúng ta sẽ trở nên rất khác nhau. Chúng ta trưởng thành khác nhau, sở hữu những tài sản và trí tuệ khác nhau và tất yếu sẽ có những quan điểm khác nhau. Hơn nữa, con người rồi sẽ tự tìm những biện pháp để bảo vệ tài sản và quan điểm của mình, đó là những nhóm lợi ích. Ông viết thêm: “Mọi xã hội văn minh tất yếu đều chia thành những tầng lớp khác nhau với lợi ích khác nhau, tất yếu sẽ tạo ra những con nợ và chủ nợ, người giàu và người nghèo, nông dân, nhà buôn hay người thợ sản xuất...” Ðối với Madison, sự bình đẳng có nghĩa là các tầng lớp, phe phái và các nhóm lợi ích khác nhau đó phải có cơ hội và điều kiện tự bảo vệ mình và để kiểm soát lẫn nhau. Do vậy, ông kết luận rằng “Ước nguyện lớn lao nhất của một chính quyền là sự cân bằng đủ để trung lập những xung đột đó, để kiểm soát bộ phận dân chúng này không chiếm dụng quyền và áp bức các bộ phận khác, và tự kiểm soát mình khỏi việc ban thành những đạo luật đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội.” 

Từ những nghiền ngẫm này, Madison bắt đầu hình thành phác thảo của riêng ông về mô hình chính quyền liên bang Mỹ. Ông cũng viết rất nhiều thư cho Jefferson, Washington và các chính trị gia khác để thảo luận về mô hình này. Nhờ những kiến thức từ lý thuyết, thực tiễn và những trao đổi, tranh luận mà khi tới dự Hội nghị Lập hiến, Madison đã có sự chuẩn bị hơn hết thảy các đại biểu khác. Quan điểm và những lập luận về mô hình nhà nước liên bang của ông đã thuyết phục được hội nghị. Dù không phải tất cả các dự định của ông được thông qua nhưng phác thảo của ông đã trở thành nền tảng cho mô hình nhà nước liên bang Hoa Kỳ. Các đại biểu khác không có sự chuẩn bị chu đáo như ông tới mức ông được ca ngợi rằng là người duy nhất hiểu cặn kẽ mọi vấn đề về Hiến pháp trong khả năng mà trí tuệ con người có thể vươn tới được, bởi ở ông là sự kết hợp tuyệt vời giữa một chính trị gia xuất sắc và một học giả uyên thâm. Ông là bộ não, là “Cha đẻ bản Hiến pháp Mỹ”

Vấn đề mấu chốt đối với ông là phải xây dựng được một hệ thống chính quyền đại diện cho dân chúng theo một cách thức phù hợp nhất, ổn định nhưng không quá bảo thủ, năng động nhưng không quá vội vàng và đủ đảm bảo sự bình đẳng giữa nhóm lợi ích khác nhau đó. Ví dụ như đa số không được đàn áp thiểu số và ngược lại thiểu số không chiếm đoạt quyền của đa số, ví như tránh nguy cơ những con nợ hợp sức tự xoá bỏ những món nợ, ngược lại các chủ nợ không được chèn ép và bức bách họ. Trong khi một số đại biểu ủng hộ mô hình chính quyền tập trung mạnh bằng cách sáp nhập tất cả các tiểu bang thành một quốc gia duy nhất; một số khác muốn duy trì quyền tự quyết và tự chủ của tiểu bang và các tiểu bang chỉ liên minh với nhau; còn đa số các đại biểu khác không có chính kiến và thiếu sự hiểu biết sâu sắc về chính quyền thì Madison kiên quyết ủng hộ mô hình nhà nước liên bang.

Sau này, Madison cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thông qua Hiến pháp ở Virginia, rồi hợp tác với Alexander Hamilton viết loạt các bài luận Người Liên bang để giải thích và vận động người dân Mỹ hiểu và phê chuẩn Hiến pháp.

James Madison (1751-1836)
Là một người cực kỳ thông minh và, ngay từ khi là sinh viên trường Princeton năm 1771, James Madison đã đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực chính quyền và luật pháp. Năm 1775 khi mới 24 tuổi, Madison tham gia Ủy ban cách mạng của quận Orange; 25 tuổi, tham dự Hội nghị soạn thảo bản Hiến pháp cho tiểu bang Virginia. Trong những năm 1776-1777, ông tham gia Viện dân biểu thị xã, sau đó, tham gia Hội đồng Hành pháp tiểu bang. 30 tuổi, Madison đại diện cho tiểu bang Virginia tại Quốc hội Hợp bang. Mặc dù là đại biểu trẻ nhất, nhưng ông đã đóng một vai trò rất quan trọng trong các cuộc tranh luận. Ông là người chỉ đạo ngầm đằng sau các cuộc họp ở Hội nghị Mount Vernon (1785), rồi tham gia Hội nghị Annapolis tiền đề cho Hội nghị Lập hiến (1786) và là người có nỗ lực lớn nhất vận động tổ chức Hội nghị Lập hiến. 

Madison được mệnh danh là "Cha đẻ của Hiến pháp Mỹ" vì sự đóng góp lớn lao trong việc soạn thảo văn kiện này cũng như trong quá trình thông qua Hiến pháp. Là một trong những lãnh tụ của Hạ viện Mỹ (1789-1797), Madison đóng góp chính vào Tuyên ngôn nhân quyền. Năm 1792, ông và Jefferson đã thành lập Ðảng Cộng hòa - Dân chủ để chống đối các chính sách tài chính – kinh tế của Hamilton và Đảng Liên bang.

Ông cũng có công lớn soạn Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill Of Rights) bảo vệ quyền tự do của con người và cùng Thomas Jefferson sáng lập đảng Dân chủ Mỹ. Ông cũng trở thành Tổng thống thứ 4 của Mỹ. Trên cương vị này, ông có điều kiện và tư cách để thực thi những chính sách và chính bản hiến pháp mà ông góp phần soạn nên…

---
(*) Giám đốc Alpha Books



Saturday, July 16, 2011

14/07 Khoa học thiếu nhân lực và chế độ đãi ngộ hợp lý

04:23-14/07/2011 
P.V
Trong ngày 12/7, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã cùng đoàn công tác là đại diện các Bộ ngành, tới làm việc với hai cơ quan nghiên cứu khoa học hàng đầu Việt Nam là Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam (Viện KHCN) và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (Viện KHXH).
Những vấn đề thời sự  

Tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng, hai Viện đã có những báo cáo khái quát và chi tiết, qua đó xác định những thực trạng kinh tế xã hội mà đất nước và nền khoa học Việt Nam đang đối diện. 

Một số vấn đề gắn với lợi ích chiến lược quốc gia được các nhà khoa học đề cập với Phó Thủ tướng là cải tổ cơ cấu kinh tế, duy trì hòa hợp ổn định tôn giáo, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, nghiên cứu biển, địa chấn… và đặc biệt là nghiên cứu các luận cứ khoa học nhằm bảo vệ chủ quyền biển là những vấn đề chiến lược của quốc gia mà Chính phủ cần quan tâm tạo điều kiện cho các nhà khoa học. Bên cạnh đó, trong bối cảnh quốc tế đang lo ngại trước những tổn thất do động đất và sóng thần, và trong tình hình Việt Nam đã và sẽ thực hiện những công trình trọng điểm, như thủy điện Sơn La, hay Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận, một hệ thống cảnh báo địa chấn là vô cùng cần thiết. Vì vậy, các nhà khoa học đề xuất Chính phủ ủng hộ đề án “tăng cường mạng lưới trạm quan sát động đất phục vụ báo tin động đất và cảnh báo sóng thần Việt Nam”. Ngoài những vấn đề được các nhà khoa học đề xuất, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Viện KHCN đặc biệt lưu tâm về vấn đề nghiên cứu bảo đảm an toàn mạng Internet trong bối cảnh vấn đề này đang dần trở nên vô cùng quan trọng trên thế giới hiện nay.  

Thiếu nhân lực và chế độ đãi ngộ hợp lý 

Lãnh đạo hai Viện đều cho rằng, để có thể giải quyết những vấn đề lớn của quốc gia, đội ngũ các nhà khoa học cần được tăng cường nhân lực và có chế độ đãi ngộ thích đáng. Trong đó, lực lượng nghiên cứu biển được đề xuất phải tăng cường số lượng cao gấp ba lần hiện nay trong vòng 10 năm tới. Viện KHCN hiện vẫn còn những chuyên gia tốt được đào tạo từ Liên Xô cũ, nhưng thế hệ này sắp đến tuổi về hưu. Vì vậy, cần cấp tốc gửi các cán bộ trẻ đi đào tạo tại nước ngoài. Ngay ở Viện có tiềm lực khoa học mạnh như Viện Toán học (thuộc Viện KHCN) cũng phản ánh về tình trạng thiếu chuyên gia trong các lĩnh vực toán học quan trọng như thống kê, mô phỏng, mô hình, mật mã. Viện trưởng - GSTS Ngô Việt Trung bày tỏ lo ngại vì chế độ đãi ngộ cho các nhà khoa học chưa hợp lý, khiến không thu hút được các cán bộ trẻ thay thế cán bộ về hưu, đặc biệt là tình trạng các cán bộ trẻ không trở về sau khi ra nước ngoài học tập nghiên cứu. Ông đề nghị Chính phủ có những giải pháp cụ thể, ví dụ như xem xét thí điểm cấp nhà ở công vụ cho các nhà khoa học.

Trong lĩnh vực KHXH do thiếu chế độ đãi ngộ nên rất thiếu chuyên gia trong những lĩnh vực đặc biệt như nghiên cứu tiếng Sanskrit để đi sâu am hiểu tình hình Phật giáo Nam Tông miền Tây Nam Bộ, hay nghiên cứu Hán Nôm để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Đánh giá tổng quan về những hạn chế đối với chế độ làm việc và đãi ngộ nhà khoa học, PGS.TS Trần Đình Thiên nhận định rằng thực chất các nhà khoa học Việt Nam hiện nay đang là những viên chức hành chính khoác áo nhà khoa học, nằm trong những “cơ quan hành chính bậc thấp nhất trong các cơ quan hành chính”. 

Chia sẻ với các nhà khoa học, đồng chí Nguyễn Quân -  Thứ trưởng thường trực Bộ Khoa học & Công nghệ - cho rằng các cán bộ nghiên cứu khoa học đang chịu nhiều thiệt thòi hơn so với mặt bằng chung của cán bộ công chức, “hiện nay chỉ có cán bộ ngành khoa học và nghệ thuật là chưa có phụ cấp nào ngoài lương”. 

Chính phủ ủng hộ đầu tư cho nhân lực làm KH 


Theo Phó Thủ tướng, trong thời gian qua, năng suất và hiệu quả lao động ở Việt Nam có xu hướng giảm. Trong đầu tư, các địa phương nhìn chung mới chỉ có phương án về “tiền và đất”, ngoài ra cứ “giả định rằng người đã có sẵn”. Cái nhìn phiến diện này gây ra sự thiếu chuẩn bị về đào tạo con người. Chưa có địa phương, lãnh đạo ngành nào đặt đầu bài nghiêm túc cho ngành giáo dục về vấn đề đào tạo nhân lực để phát triển.

Đối với nhu cầu tăng cường nhân lực làm khoa học, Phó Thủ tướng yêu cầu các Viện phải phối hợp chặt chẽ với hai trường Đại học Quốc gia để tính toán nhu cầu cán bộ nghiên cứu cho khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, và đưa ra những đề xuất thật cụ thể về nhu cầu và lộ trình đào tạo nhân lực cùng chế độ đãi ngộ, từ đó Chính phủ mới có cơ sở nghiên cứu và đưa ra quyết định phân bổ nguồn lực hợp lý. Ông cũng ủng hộ ý tưởng của Viện Toán về việc thành lập các nhóm nghiên cứu chuyên sâu làm toán ứng dụng nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn như bảo vệ mật mã, hay an toàn mạng. Về vấn đề này, Thứ trưởng Nguyễn Quân cho rằng cần áp dụng thí điểm chế độ chính sách ưu đãi cho các cán bộ làm nhiệm vụ khoa học của quốc gia, như chế tạo vệ tinh, tên lửa hành trình, giải mã gene… Ông cũng đề nghị Chính phủ ủng hộ ý tưởng xây dựng một bảo tàng khoa học, nhằm khơi dậy và nuôi dưỡng tình yêu khoa học ở thế hệ trẻ.    

Vấn đề tự chủ trong khoa học công nghệ 

Việc tự chủ đề xuất đề tài nghiên cứu và tự chủ trong tài chính là một trong những vấn đề Phó Thủ tướng chú trọng lưu ý các Viện trong các buổi làm việc. Ông cho biết đã có những cơ quan nghiên cứu mạnh dạn đề xuất cho phép thành lập ra những công ty cổ phần để triển khai kinh doanh kết quả nghiên cứu. Ông khẳng định Chính phủ ủng hộ các hoạt động tự chủ tài chính của các Viện nghiên cứu, bất kể khi nào “nhà khoa học được lợi, Viện được lợi, và Nhà nước cũng được lợi”.

Về vấn đề này, Thứ trưởng Nguyễn Quân cho rằng Chính phủ đã cung cấp tương đối đầy đủ cơ sở pháp lý để các viện nghiên cứu đứng ra tự chủ về tài chính. Tuy nhiên, việc triển khai còn những khó khăn. Các cơ quan nghiên cứu vẫn “rất rụt rè trong việc đăng ký thành lập các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động tự chủ”. Theo ông có ba nguyên nhân chính. Thứ nhất là vướng mắc về xác định quyền sở hữu trí tuệ đối với những kết quả nghiên cứu được Nhà nước cấp kinh phí. Thứ hai là thị trường sở hữu trí tuệ còn kém phát triển, và thiếu cơ chế định giá tài sản sở hữu trí tuệ, khiến việc nhà khoa học gặp khó khăn khi muốn kinh doanh hoặc góp vốn cổ phần bằng kết quả nghiên cứu. Thứ ba là các viện nghiên cứu vẫn còn tâm lý lo ngại, e rằng sau khi thành lập ra các doanh nghiệp tự chủ, nếu sau này doanh nghiệp thành công sẽ mang theo các tài sản trí tuệ tách ra khỏi viện. Ông cho rằng lo ngại này là không cần thiết, vì các viện nghiên cứu có thể duy trì cổ phần của mình trong các công ty họ thành lập ra. 

Quan trọng là ở đầu ra 


Báo cáo thẳng thắn với Phó Thủ tướng, PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng khoa học Việt Nam thiếu một cơ chế đánh giá và cạnh tranh đầu ra. Khác với các công trình nghiên cứu của nước ngoài trước và sau khi in ra đều phải đối diện công khai với “những ý kiến phản biện gay gắt”, đa số các công trình khoa học của Việt Nam hầu như chỉ biết đến bởi những hội đồng dễ dãi đầy tính “thông cảm”, và sau khi in ra thì nằm im trên giá sách, coi như đã “thuộc về lịch sử”. 

Nếu duy trì tình trạng này, khoa học Việt Nam sẽ không thể giải quyết được những vấn đề cấp bách mà thực tiễn đặt ra. Trả lời câu hỏi của Phó Thủ tướng về việc liệu các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội của Viện KHXH đã thực sự là sản phẩm hữu ích cho các ngành, các địa phương, GSTS Võ Khánh Vinh, Phó Chủ tịch Viện KHXH đặt lại câu hỏi liệu “các cơ quan và nhà lãnh đạo đã sẵn sàng tiếp nhận sản phẩm nghiên cứu của nhà khoa học”. Ông khuyến nghị rằng bản thân các cơ quan quản lý cũng cần có đội ngũ nhà khoa học đủ trình độ để đánh giá, thẩm định các sản phẩm nghiên cứu, từ đó chắt lọc ra những kết quả thực sự hữu ích.     
                                                
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho biết Chính phủ sẽ cho tăng cường cả nghiên cứu và quản lý Nhà nước trong khoa học về biển. Chính phủ sẽ cân nhắc thành lập một Ban Chỉ đạo Quốc gia về biển, gồm đại diện từ các Bộ, ngành. Đồng thời sẽ cho xây dựng một chương trình dữ liệu về tài nguyên sinh học biển.

Khác với các công trình nghiên cứu của nước ngoài trước và sau khi in ra đều phải đối diện công khai với “những ý kiến phản biện gay gắt”, đa số các công trình khoa học của Việt Nam hầu như chỉ biết đến bởi những hội đồng dễ dãi đầy tính “thông cảm”, và sau khi in ra thì nằm im trên giá sách, coi như đã “thuộc về lịch sử”.

Thursday, July 14, 2011

14/07 Đà Lạt sẽ có khu công nghệ sinh học lớn nhất nước

04:49-14/07/2011 
Báo Lao Động
TS Phạm S - Giám đốc Sở KH&CN Lâm Đồng cho biết, nếu không có gì thay đổi, vào đầu năm 2012, một khu công nghệ sinh học và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao lớn nhất Việt Nam sẽ được hình thành tại tỉnh Lâm Đồng.
Khu CNSH và NN ứng dụng CNC Đà Lạt đặt tại khu quy hoạch đô thị đại học ở xã Đạ Sar, huyện Lạc Dương, cách TP Đà Lạt khoảng 15 km, có tổng diện tích 250 ha, kinh phí đầu tư ban đầu khoảng 2.000 tỷ đồng.

Hiện Lâm Đồng được đánh giá là địa phương không những tiên phong trong ứng dụng CNSH, mà còn là Trung tâm NN CNC lớn nhất Việt Nam. 

Theo TS Phạm S: Mặc dù phương án thành lập Khu CNSH và NN ứng dụng CNC Đà Lạt chưa hoàn tất (dự kiến trong tháng 8 tới sẽ xong và trình Bộ KH&CN phê duyệt), nhưng hiện nay, Lâm Đồng đã nhận được sự ngỏ lời hợp tác của nhiều đơn vị trường, viện, doanh nghiệp... trong cả nước và quốc tế như Trường Đại học Nông - Lâm TP HCM, Đại học Quốc gia TP HCM, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện Sinh học nhiệt đới và Bảo vệ môi trường, Viện Chiến lược và Chính sách Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công ty cổ phần Tập đoàn dược phẩm Vimedimex, một số doanh nghiệp của các nước Hà Lan, Bỉ, Úc, Mỹ, Israel...    

Wednesday, July 13, 2011

13/07 Viện KH&CN Việt Nam đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước

04:02-13/07/2011Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: 
Theo TTXVN

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và các cán bộ,
lãnh đạo Viện KH&CN Việt Nam
Tại buổi làm việc với Viện KH&CN Việt Nam vào sáng 12/7. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã đánh giá cao những tiến bộ không ngừng của Viện, đặc biệt là việc chuyển giao khoa học công nghệ trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau đã không ngừng gia tăng về quy mô, chất lượng.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh, Nhà nước sẽ tiếp tục ưu tiên tăng đầu tư cho Viện để tăng cường cơ sở vật chất, sớm đạt trình độ Viện nghiên cứu tiên tiến trong khu vực, đồng thời sẽ quan tâm "đặt hàng" các nhiệm vụ, các chương trình khoa học công nghệ lớn gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước. Trước mắt, Viện cần chú trọng thăm dò lòng biển, tài nguyên biển, tổ chức kinh tế trên mặt biển và ven biển... Tập thể cán bộ, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu cần ý thức rõ về trách nhiệm của mình để thực hiện nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả nhất. 

Phó Thủ tướng yêu cầu Viện cần nghiên cứu, rà soát nhu cầu nguồn nhân lực từng ngành nghề cụ thể để có cơ chế chính sách về tiền lương, điều kiện làm việc, tuổi nghỉ hưu thích hợp... nhằm thu hút nhân tài và sử dụng hiệu quả cán bộ khoa học trình độ cao. 

GS.TS Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện KH&CN Việt Nam cho biết: trong giai đoạn 2006-2010, Viện đã tiến hành các nghiên cứu phát triển công nghệ gắn với thực tiễn, phục vụ hiệu quả cho sự phát triển đất nước, tập trung vào những lĩnh vực quan trọng như: công nghệ thông tin và vũ trụ; công nghệ sinh học và sinh thái nông nghiệp bền vững; phòng tránh, giảm nhẹ hậu quả thiên tai và viễn thám; khoa học công nghệ biển... Viện đã triển khai tốt chương trình KHCN về công nghệ vũ trụ giai đoạn 1 với các nội dung như: nghiên cứu công nghệ vệ tinh nhỏ quan sát mặt đất; ứng dụng ảnh viễn thám hệ thống định vị GPS phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng; nghiên cứu chế tạo thiết bị, trạm mặt đất... Viện thành lập thêm Viện hóa sinh biển nhằm tập trung nguồn lực cho công tác điều tra, nghiên cứu cơ bản và khai thác ứng dụng nguồn tài nguyên biển phong phú của Việt Nam. 

Trong lĩnh vực nông nghiệp, Viện có rất nhiều kết quả ứng dụng công nghệ sinh học tạo các giống cây trồng cho năng suất cao như: giống lúa mới mang gen tạo acid béo omega-7, nâng cao chất lượng gạo, phục tráng giống lúa nếp đặc sản; sản xuất chế phẩm phòng chống nấm cho ngô, đỗ tương; tạo giống hồ tiêu chuyển gen kháng rầy rệp; chế tạo vật liệu giữ ẩm có khả năng hút, giữ nước ứng dụng trong nông lâm nghiệp... 

Viện còn ký kết hợp tác khoa học công nghệ với 13 tỉnh, thành phố và các Bộ, ngành nhằm nhanh chóng ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn một cách hiệu quả. Điển hình như Đề tài “Xây dựng công nghệ cảnh báo, dự báo ngập lụt vùng hạ lưu hệ thốn sông Hương và chuyển giao cho địa phương” đã cung cấp thông tin khá chính xác và kịp thời để tỉnh Thừa Thiên – Huế có cơ sở chỉ đạo nhân dân trong việc phòng, tránh lũ lụt; Dự án Hoàn thiện công nghệ sản xuất thuốc trừ ốc bươu vàng TOBI.25H đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép ứng dụng rộng rãi, hiện giá thành rẻ hơn 30% so với giá nhập ngoại, được nông dân đón nhận với nhu cầu sử dụng ngày càng cao. 

Trước đó, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã thăm và lắng nghe các ý kiến về tình hình hoạt động khoa học công nghệ của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu tại Viện toán học, Viện Công nghệ sinh học và Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần, Viện Vật lý địa cầu thuộc Viện KH&CN Việt Nam.

Friday, July 8, 2011

08/07 GS Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp

01:47-08/07/2011 
Theo ĐVO và Bee.net.vn

Nhà sử học Phan Huy Lê nhận được thông báo chính thức trở thành Viện sĩ Thông tấn nước ngoài của Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn, Pháp, hôm 5/7.

Ông là giáo sư ngành khoa học xã hội đầu tiên của Việt Nam được nhận vinh dự này.


Cuộc bầu chọn của Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn (Académie des Inscriptions et Belles-Letres) của Pháp diễn ra trong phiên họp ngày thứ sáu 27/5. Giáo sư Phan Huy Lê được bầu làm Viện sĩ Thông tấn nước ngoài (Membre Correspondant étranger de l’ Académie) vào vị trí ghế bành (fauteuil). Vị trí này trước đây của ngài Francisco Rico (Tây Ban Nha). 



Thursday, July 7, 2011

07/07 Cần tận dụng tối đa sự hỗ trợ chuyên môn từ quốc tế

09:39-07/07/2011 
GS. Pierre Darriulat
Việt Nam nên tận dụng tối đa sự hỗ trợ chuyên môn từ quốc tế, đồng thời đảm bảo chương trình hạt nhân của mình tuyệt đối minh bạch. Nếu không làm vậy, kết quả sẽ là thảm họa. Sẽ là có tội nếu ai đó kiêu ngạo cho rằng Việt Nam không cần phải thể hiện trước Thế giới khả năng sẵn sàng của mình trước khi bước chân vào cuộc chơi này.

Trong một bài báo gần đây trên Tia Sáng, tôi đã bình luận về những phản ứng [của công chúng và giới chuyên môn] sau sự cố Fukushima, và thử tìm ra các bài học, trong đó có những điều có thể được rút ra và đặt vào bối cảnh của Việt Nam. Sau bài báo này và qua những khuyến nghị từ hội nghị cấp bộ trưởng được IAEA tổ chức gần đây tại Vienna từ ngày 20 tới 24 tháng 6 năm 2011, Tạp chí Tia Sáng đã đề nghị tôi bày tỏ rõ hơn những quan điểm của mình về cơ hội Việt Nam gia nhập câu lạc bộ năng lượng hạt nhân.


Trước hết, tôi xin phép trình bày lại những luận điểm chính trong bài báo trước của mình. Đối với phương Tây, sự cố Fukushima làm dấy lên làn sóng phản đối năng lượng hạt nhân, mà tuy đa phần là cảm tính, nhưng cũng không thể xem nhẹ. Sự thiếu vắng thái độ có trách nhiệm đối với năng lượng hạt nhân – hay nói cách khác là sự thiếu một quyết tâm làm chủ năng lượng hạt nhân thay vì chống lại nó – đã lên tới mức khiến người ta chỉ muốn vứt bỏ cho xong. Không ai có thể áp đặt năng lượng hạt nhân vào một xã hội chối bỏ nó.
Rõ ràng là từ lâu đã cần phải có một chương trình đào tạo nghiêm túc, cần những chính sách thu hút nhân tài, và cần có một Viện chuyên đào tạo và phát triển năng lực cho các nhà khoa học, kỹ sư, và nhà quản lý, những người vận hành nhà máy hạt nhân. Nhưng dù có muộn còn hơn không.
Tuy nhiên, ở Châu Á, cụ thể là Trung Quốc và Ấn Độ, những luận điệu từ các nhóm tổ chức phương Tây chống năng lượng hạt nhân, đề cao năng lượng tái sinh lại không có mấy tác dụng. Dù người khác muốn hay không, Ấn Độ và Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục phát triển các chương trình năng lượng hạt nhân của mình. Việt Nam ở cùng một bối cảnh điều kiện địa chính trị và kinh tế tương đương cũng có thể gia nhập câu lạc bộ điện hạt nhân. Tuy nhiên đây là một thử thách lớn đối với Việt Nam trong việc chuẩn bị các điều kiện cần đáp ứng, mà tới nay chúng ta vẫn chưa thấy những dấu hiệu cho thấy thử thách này được giải quyết với mức quyết tâm cần thiết. 

Tôi không đủ tư cách khẳng định Việt Nam nên hay không nên theo đuổi một chương trình năng lượng hạt nhân. Đây là một quyết định chính trị, đòi hỏi một tầm nhìn về một tương lai địa chính trị và kinh tế của quốc gia vượt quá khả năng và kiến thức của tôi. Nhưng điều tôi có thể nêu ra, là những quan điểm về các điều kiện mà Việt Nam cần đáp ứng nhằm đảm bảo một sự vận hành an toàn. 

Trong bài báo trước, tôi đã viết, “Mọi vấn đề liên quan tới năng lượng hạt nhân phải được xem xét trong điều kiện kinh tế, công nghệ và xã hội cụ thể. Việc cần thiết và khẩn cấp hiện này là phải xác định ngay những vấn đề mà Việt Nam đã có sự chuẩn bị để giải quyết và những lĩnh vực chuyên môn khác có thể cần. Sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn; nguy cơ mất tự chủ trong lĩnh vực này không phải là nhỏ. Phải đánh giá cẩn thận đội ngũ nhân viên có tài, có chuyên môn về công nghệ hạt nhân để xác định không chậm trễ quy mô của việc đào tạo tăng cường rõ rằng là rất cần thiết. Người dân cần phải được chuẩn bị kỹ lưỡng để hiểu và chấp nhận quyết định khởi động chương trình điện hạt nhân. Các hệ quả ngắn hạn và dài hạn về tài chính cũng cần phải được hiểu rõ trong bối cảnh kinh tế hiện nay của đất nước. Việc quy hoạch dự án phải được đặt dưới điều kiện rằng mỗi bước thực hiện phải được bảo đảm rằng đất nước đã sẵn sàng đạt được nó một cách thành công.


Các quyết định không được sao chép từ các nước khác. Mỗi vấn đề phải được đánh giá và thấu hiểu trong điều kiện và đặc trưng riêng của Việt Nam
”.

Chỉ chăm chăm phê phán là điều vô ích; người ta phải có tinh thần xây dựng. Đây là tinh thần tôi muốn đạt được khi viết những dòng trên đây. Nhưng khi đọc qua những dòng này, rõ ràng người ta dễ có ấn tượng (rất có thể là ấn tượng sai) rằng, cho tới nay, chưa có điều kiện trong những điều được nêu trên đây đã được nỗ lực giải quyết với mức quyết tâm cần thiết. Còn nếu có, thì có lẽ công chúng vẫn chưa nhận ra. Từng vấn đề được nên trên đây cần phải là mục tiêu của một kế hoạch, và kế hoạch này phải được quảng bá đầy đủ tới công chúng. Người ta có thể lo ngại rằng dù bây giờ làm thế thì cũng đã là muộn. Rõ ràng là từ lâu đã cần phải có một chương trình đào tạo nghiêm túc, cần những chính sách thu hút nhân tài, và cần có một Viện chuyên đào tạo và phát triển năng lực cho các nhà khoa học, kỹ sư, và nhà quản lý, những người vận hành nhà máy hạt nhân. Nhưng dù có muộn còn hơn không. 

Công chúng không thể bị đẩy ra ngoài cuộc, chúng ta đã học được bài học về tầm quan trọng của sự chấp thuận từ công chúng đối với chính sách hạt nhân của quốc gia. Nhưng không dễ để duy trì thành công kênh thông tin giữa nhà chức trách và công chúng. Chúng tôi đã thất bại trong công tác này ở các nước phương Tây.

Fukushima
 đã gây ra một hiệu ứng tâm lý rất mạnh (chưa kể những bài học rút ra từ hậu quả của sóng thần). Việt Nam nên tận dụng những kết luận của cuộc Hội thảo tại Vienna để tích cực dựa vào các chuyên gia nước ngoài giúp đánh giá mức độ sẵn sàng của mình [cho việc xây dựng một chương trình hạt nhân]. Cụ thể, Hội nghị này đã nhấn mạnh rằng “các nước mới theo đuổi các chương trình hạt nhân nhất thiết phải thực hiện đầy đủ Các Tiêu chuẩn An toàn IAEA, gắn các bài học rút ra từ tai nạn Fukushima vào sự phát triển chương trình hạt nhân của mình và nhằm thể hiện khả năng hoàn toàn sẵn sàng vận hành các nhà máy hạt nhân trước khi tiến hành khởi động lò phản ứng hạt nhân đầu tiên”. Hội thảo cũng khẳng định rằng “IAEA có thể hỗ trợ bằng cách tiến hành thẩm định độc lập đối với các báo cáo đánh giá an toàn [hạt nhân] quốc gia, thông qua dịch vụ từ các nhóm chuyên gia quốc tế, qua đó sẽ công bố công khai các kết quả. Điều này có thể giúp tăng cường tính công khai và đáng tin cậy của những báo cáo đánh giá an toàn [hạt nhân] quốc gia.

Tuesday, July 5, 2011

05/07 Cuộc chạy đua giữa Ấn Độ và Trung Quốc

09:37-05/07/2011 
F.A.Z. 23.5. 2011
Erich Weede*
Trung Quốc (TQ) đã bỏ xa Ấn Độ về kinh tế và trong hai chục năm tới Ấn Độ hầu như không có cơ hội đuổi kịp TQ. Tuy nhiên sau đó là thời cơ để Ấn Độ vươn lên vì TQ bị già hóa và thiếu lực lượng trẻ.
Liệu trong tương lai gần Ấn Độ có đuổi kịp được TQ hay không? Ai có dịp chứng kiến tận mắt hai quốc gia này đều có thể  mạnh dạn trả lời  câu hỏi trên là “không”.  Tầu hỏa của Ấn Độ chạy ì ạch, nặng nhọc  đã vậy so với TQ thì tầu Ấn Độ rất không đúng giờ. Trong khi đó ở TQ trên một số tuyến đường người ta đã sử dụng những loại tầu hỏa có tốc độ cao hơn cả những con tầu ở Đức. Tình hình giao thông đường bộ cũng tương tự.  Ở Ấn Độ đường cao tốc đang ở diện quy hoạch trong khi đó ở TQ mọi sự đang diễn ra. Chỉ xét riêng về khâu hạ tầng cơ sở cũng thấy sự khác biệt rõ rệt  giữa hai quốc gia này.  

Quan sát sự phát triển kinh tế từ những năm tám mươi đến nay giữa hai nước này cũng có hình ảnh tương tự. Trong ba chục năm qua TQ có tốc độ phát triển nhanh hơn Ấn độ. Trong khi thu nhập bình quân đầu người ở TQ tăng gần tám lần thì ở Ấn Độ chỉ đạt khoảng hai lần.  Tại Ấn Độ có khoảng 10 triệu chỗ làm việc phục vụ công nghiệp xuất khẩu trong khi đó ở TQ con số này là trên 100 triệu. 

Ấn Độ tiến hành cải cách theo hướng kinh tế thị trường sau TQ. Nhưng điều quan trọng hơn là trong nhiều năm liên tục TQ đạt mức tăng trưởng xấp xỉ 10% một năm, mãi đến những năm gần đây Ấn Độ mới đạt được mức tăng trưởng như của TQ

Nhà nước Ấn Độ cạn tiền


Để có được sự tăng trưởng tuyệt vời như TQ, Ấn Độ phải nhanh chóng khắc phục những yếu kém về  hạ tầng cơ sở.  Nhưng nhà nước Ấn Độ lại không có tiền. Không chỉ nhà nước trung ương mà cả các bang, các địa phương ở Ấn Độ đều lâm vào tình trạng  thâm hụt ngân sách và nợ nần. Về nguyên tắc thì việc đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở có thể dựa vào nguồn vốn của nước ngoài, nhưng để làm được việc đó thì Ấn Độ còn phải khẩn trương  thay đổi cả về chính sách cũng như giảm tệ quan liêu.  

Hệ thống pháp luật, nền dân chủ, tiếng Anh và vấn đề nhân khẩu học

Khi xem xét các yếu tố lợi thế tiềm ẩn của Ấn Độ so với TQ người ta thấy có bốn yếu tố nổi bật: di sản của hệ thống pháp luật Anh quốc, nền dân chủ, tiếng Anh và sự phát triển nhân khẩu  học thuận lợi hơn.

Quyền tư hữu được bảo đảm và sự độc lập của tòa án,  tóm lại nhà nước pháp quyền, được coi là những điều kiện thể chế hóa không thể thiếu để phát triển kinh tế. Về điểm này Ấn Độ về cơ bản có lợi thế hơn so với TQ, nhưng cũng chỉ về cơ bản mà thôi. Ở cả hai quốc gia châu Á này đều có vấn nạn tham nhũng rất nặng nề. Tòa án Ấn Độ thường rất chậm chạp khi đưa ra các phán quyết đến mức bị coi như cố tình trì hoãn pháp lý. Sự can thiệp chính trị không chỉ diễn ra ở TQ mà cả ở Ấn Độ trong việc „bảo vệ pháp luật“ – với ý nghĩa bảo vệ trước luật pháp. Vì thế tự do báo chí ở Ấn Độ cũng chỉ là một lợi thế tiềm tàng. So với TQ thì vấn đề lạm dụng quyền lực ở Ấn Độ có thể bị chỉ trích một cách tự do  và công khai hơn. Nhưng cho đến nay không phải nhờ thế mà nhà nước và chính quyền  ở Ấn Độ trong sạch hơn.

Không nên coi dân chủ là một động lực phát triển hoặc kìm hãm phát triển. Qua các công trình nghiên cứu về kinh tế có thể thấy không có những khác biệt rõ rệt giữa dân chủ và chế độ độc tài đối với tốc độ phát triển. Trong khi các nền dân chủ thường có xu hướng đạt tốc độ trung bình về tăng trưởng như nền kinh tế thế giới  thì ở các nước chuyên chế thường có tốc độ  thấp hơn nhiều hoặc cao hơn nhiều so với bình quân  thế giới.  Lịch sử kinh tế nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa thể hiện rõ điều này. Dưới thời Mao Trạch Đông tăng trưởng kinh tế TQ  chậm hơn tăng trưởng của nền kinh tế thế giới. Sau cái gọi là „đại nhẩy vọt“ và chuyển các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp thành đại công xã  thường kèm theo cả lò cao ở nông thôn để đẩy mạnh công nghiệp hóa , từ đó theo các công trình nghiên cứu cũ đã có trên 30 triệu người bị chết đói và theo những tư liệu mới đây thì con số này lên tới 40 triệu người.

Dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình và những người kế cận ông ta từ năm 1979 Trung Hoa đã tạo nên một sự thần kỳ về kinh tế. Nhưng cái „chuỗi may mắn“ nhờ có một chính phủ thành thục về kinh tế này liệu còn kéo dài được bao lâu nữa hay rồi đây  TQ lại rơi vào một ban lãnh đạo ôm ấp  những kế hoạch không tưởng?

Tiếng Anh và lao động trẻ

Còn về tiếng Anh, một ngôn ngữ về kinh tế và khoa học kỹ thuật mang tính toàn cầu, thì rõ ràng Ấn độ, một thuộc địa cũ của Anh, hiển nhiên có nhiều lợi thế hơn TQ. Giới tinh hoa Ấn Độ đều thông thạo tiếng Anh. Trong khi đó ở TQ ngay cả đến các giáo sự giảng dạy  về kinh tế và khoa học xã hội sự hiểu biết về tiếng Anh, đánh giá một cách lịch sự,  cũng chỉ ở mức „khiêm tốn“. Tuy vậy hiện có tình trạng suy giảm về trình độ sử dụng tiếng Anh trong công chúng Ấn độ. Trước đây vào những năm sáu mươi ở các thành phố lớn ở Ấn Độ không có chuyện lái xe tắc xi không biết tiếng Anh, ngày nay điều này có thể diễn ra. 

Nếu như Ấn Độ có chủ bài thì đó là lực lượng trẻ đông đảo ở nước này. Ở TQ dân chúng đang nhanh chóng già đi. Thực chất chính sách một con của TQ không dẫn đến tình trạng mỗi người phụ nữ không có quá một đứa con, nhưng trong thực tế tỷ suất sinh đẻ của TQ cũng tương đương như Đức , mỗi phụ nữ có khoảng  1,3 đứa con. Cho đến nay điều lạ lùng là chính phủ TQ vẫn kiên trì chính sách một con mặc dù chỉ khoảng hai thập niên nữa dân số TQ sẽ già đi một cách nhanh  chóng .  Dân TQ  trước khi trở nên giầu có thì đầu đã bạc, khác với  điều đã diễn ra ở châu Âu hay Nhật bản già nua. Vấn đề già nua lại càng bị trầm trọng hơn do tình trạng thiếu phụ nữ ở TQ. Khoảng  80 triệu đàn ông TQ sẽ không xây dựng nổi gia đình vì không kiếm được vợ. Đành rằng ở Ấn Độ cũng không có sự cân bằng  về tỷ lệ nam nữ, nhưng ở đây vấn đề này không đến mức quá nghiêm trọng.

Không ai có thể tin chắc  rằng, với những con át chủ bài cuả mình, trong tương lai gần Ấn Độ có thể đuổi kịp TQ. Tuy nhiên người ta có thể lưu ý rằng ngay cả ở hai nước này người ta chưa hiểu hết về những yếu tố có ý nghĩa quyết định đến tốc độ tăng trưởng mạnh như vũ bão của hai quốc gia này. Quyền sở hữu tư nhân ở TQ còn rất thiếu vững chắc vì vậy  tốc độ tăng trưởng cao diễn ra trong một thời gian dài không khỏi không gây ngạc nhiên. Phải chăng cuộc chạy đua dành các nhà đầu tư đã làm cho chính phủ trung ương và chính quyền ở địa phương phải làm ra bộ họ muốn tôn trọng sở hữu tư nhân như là  vốn sản xuất. Nhưng điều đó không có nghĩa là đã làm rõ được sư mâu thuẫn ở TQ giữa tăng trưởng và quyền sở hữu tư nhân không có gì bảo đảm. Điều xẩy ra ở Ấn Độ cũng thật ngạc nhiên, nhà nước Ấn thường bị thâm hụt ngân sách kinh niên, hạ tầng cơ sở kém phát triển và thị trường lao động vẫn bị điều tiết một cách thái quá nhưng trong những năm gần đây tỷ lệ tăng trưởng liên tục tăng. Trong hai thập niên tới Ấn Độ không thể có cơ may rút ngắn được khoảng cách với Trung quốc. Chỉ khi nào TQ mang khuôn mặt già nua khi đó vận may mới mỉm cười với Ấn độ.

Trung Quốc hay Ấn Độ

Trong thế kỷ 21 sẽ diễn ra cuộc chạy đua chiếm ngôi cường quốc kinh tế  hùng mạnh nhất thế giới giữa hai quốc gia có dân số hàng đầu thế giới là TQ và Ấn Độ.

Những cải cách ở TQ bắt đầu sau  khi ông Mao qua đời  vào năm  1976 và nền kinh tế bị tê liệt bắt đầu chuyển động và tăng tốc. Năm 1980 thu nhập bình quân của người TQ chỉ bằng già một nửa so với 
Ấn Độ. Cả hai nước đều rất nghèo.

Ngày nay Trung quốc đã vượt xa đối thủ Ấn độ: theo số liệu của IMF thu nhập bình quân đầu người của TQ đạt trên  7500 đôla, hơn gấp đôi so với Ấn độ, khoảng  3340 đôla. Trong khoảng nửa thập niên TQ có thể chiếm 18% tổng sản phẩm xã hội của toàn thế giới và vượt Hoa kỳ. Ấn Độ chỉ đạt khoảng  6 %  sản lượng thế giới.  Nhưng hiện đang có sự dịch chuyển về số dân: năm  1980 TQ có khoảng  1 tỷ dân và khi tăng lên đến 1,3 tỷ thì dừng lại. Trong khi đó dân số Ấn Độ tiếp tục tăng: nắm 1980 Ấn Độ có  700 triệu người nay đã lên đến 1,2 tỷ. 

Đến cuối thập niên này dân số Ấn Độ sẽ cao hơn dân số TQ  và Ấn Độ sẽ là nước đông dân nhất thế giới. Một số nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng về lâu dài Ấn Độ có cơ hội  vượt TQ chủ yếu nhờ tăng trưởng dân số.

Jagdish Bhagwati giáo sư kinh tế tại đại học Princeton  cho rằng„ trong nhiều năm TQ đã có thể sử dụng đội quân thất nghiệp đông đảo theo kiểu Karl Marx để nhanh chóng đạt tăng trưởng, nhưng giờ đây lực lượng lao động trở nên khan hiếm và tiền lương tăng lên,  trong khi đó nguồn lao động của Ấn Độ vô cùng phong phú.“

Tuy nhiên theo Bhagwati  để đạt được thành tựu kinh tế lớn hơn Ấn Độ phải thực hiện cải cách: tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả và thực hiện tự do hóa một cách toàn diện.

                                                                                                                      Xuân Hoài dịch

* Giáo sự xã hội học và khoa học chính trị tại ĐH tổng hợp Bonn và là chuyên gia về chính trị kinh tế học.