Showing posts with label Thanh Hoa. Show all posts
Showing posts with label Thanh Hoa. Show all posts

Monday, December 12, 2011

12/12 Giám sát có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào hậu giám sát

08:14 | 12/12/2011

Làm thế nào để nâng cao hiệu quả giám sát của QH là vấn đề được nhiều ĐBQH và cử tri quan tâm. Trao đổi với phóng viên Báo Đại biểu nhân dân, ĐBQH Cao Thị Xuân (Thanh Hoá) cho rằng: để nâng cao hiệu quả giám sát, chương trình giám sát phải bám sát vào yêu cầu thực tế của cuộc sống. Hiệu quả của giám sát có hay không phụ thuộc rất nhiều vào hậu giám sát, vào việc tiếp thu các kết luận, các kiến nghị sau giám sát của các cá nhân, các tổ chức chịu sự giám sát , việc thực hiện các kết luận đó có thực sự nghiêm túc không.
Vấn đề bình đẳng giới đang được Nhà nước ta hết sức quan tâm. Tuy nhiên, để thực hiện thành công mục tiêu này đang là một bài toán khó. Theo chị, cần có giải pháp gì để thực hiện thành công mục tiêu bình đẳng giới?

Wednesday, August 17, 2011

17/08 ĐBQH chuyên trách là một vinh dự, nhưng cũng là trọng trách lớn

21:40 | 17/08/2011
ĐBQH chuyên trách là một vinh dự, nhưng cũng là trọng trách lớn, PHÓ TRƯỞNG ĐOÀN ĐBQH TỈNH THANH HÓA LÊ NAM chia sẻ. Và nhiệm vụ rất quan trọng của ĐBQH chuyên trách là làm sao tạo điều kiện tốt nhất và bảo đảm cho hoạt động của Đoàn ĐBQH cũng như mỗi ĐBQH trong Đoàn thực hiện tốt trách nhiệm trước cử tri và nhân dân.
Là đại biểu chuyên trách ở địa phương, theo anh sẽ có thuận lợi và khó khăn gì trong hoạt động?
 ĐBQH Lê Nam: Được bầu làm Phó trưởng đoàn ĐBQH của tỉnh Thanh Hóa và là ĐBQH chuyên trách, với tôi, đây là một vinh dự, nhưng cũng là trọng trách lớn. Tôi cho rằng với ĐBQH chuyên trách, nhiệm vụ rất quan trọng của đại biểu là làm sao tạo điều kiện tốt nhất và bảo đảm cho hoạt động của Đoàn ĐBQH cũng như mỗi ĐBQH trong Đoàn thực hiện được trách nhiệm cũng như lời hứa trước cử tri và nhân dân. Đây là nhiệm vụ khó khăn nhất cũng là thách thức của mỗi ĐBQH và nhất là đối với ĐBQH chuyên trách.
- Trong Nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ XVII của tỉnh Thanh Hóa đề ra mục tiêu cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Với vai trò ĐBQH chuyên trách anh nhìn nhận việc thực hiện mục tiêu này như thế nào  ?
ĐBQH Lê Nam: Như chúng ta biết, Thanh Hóa là tỉnh lớn, có 3 vùng miền núi, trung du; đồng bằng và biển, dân số có thể nói là đông so với các tỉnh trong cả nước. Với hơn 3,4 triệu dân - tiềm năng về nguồn lao động, nguồn tài nguyên hết sức dồi dào. Nhưng Thanh Hóa hiện nay vẫn là một tỉnh nghèo so với tiềm năng vốn có. Trước thực trạng đó, trong những năm qua, đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa đã có nhiều chủ trương giải pháp và đặc biệt là sau Đại hội Đảng bộ lần thứ XVII của tỉnh đề ra mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy thu hút đầu tư một cách mạnh mẽ để cho Thanh Hoá có những bước đột phá trong phát triển KT - XH. Tỉnh cũng đã có nhiều chủ trương giải pháp.Thứ nhất là tăng cường quảng bá làm cho các nhà đầu tư, ở trong nước và nước ngoài hiểu rõ hơn, quan tâm hơn đến tiềm năng, thế mạnh và các khả năng phát triển kinh tế, khả năng đầu tư của tỉnh. Thứ hai, là tỉnh xây dựng các hệ thống đầu tư, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình kinh tế trọng tâm. Đó chính là căn cứ để các nhà đầu tư có cơ sở, nghiên cứu các bước đầu tư vào Thanh Hóa được thuận lợi. Thứ ba, là tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, nâng nghiệp vụ của cán bộ làm công tác tại bộ phận một cửa liên thông để bảo đảm cho thủ tục đầu tư của các nhà đầu tư vào Thanh Hóa được nhanh nhất, thuận lợi nhất, nhất là chống được các biểu hiện suy thoái, tiêu cực gây khó khăn cho các nhà đầu tư. Thứ tư, làm thật tốt công tác vận động nhân dân ủng hộ các chủ trương của tỉnh nhất là thông qua việc giải phóng mặt bằng. Điều này, có thể nói Thanh Hóa đã thực hiện rất tốt, đặc biệt là việc hoàn thành giải phóng mặt bằng khu kinh tế trọng điểm Nghi Sơn. Nếu thực hiện hoàn chỉnh khu kinh tế Nghi Sơn và hiện nay dự án khu lọc hóa dầu hàng tỷ đô la, hay là nhà máy nhiệt điện… thì đó sẽ là tiền đề, là động lực để Thanh Hóa cất cánh trong những năm tới.
Tôi cho rằng việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ lần thứ XVII của tỉnh về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh mặc dù mới được triển khai trong khoảng thời gian rất ngắn nhưng đã có những bước đi, có những kết quả cụ thể. Tôi tin rằng mục tiêu này sẽ có kết quả tốt trong thời gian tới.
- ĐBQH sẽ tham gia giải quyết những vấn đề chính sách  kinh tế, xã hội, an sinh... vậy vấn đề cải thiện cuộc sống của người dân ở địa phương theo anh cần có chính sách gì?
 ĐBQH Lê Nam: Hiện nay, Thanh Hóa có hơn 1 triệu đồng bào các dân tộc sinh sống trên hơn 3/4 diện tích tự nhiên của tỉnh. Với diện tích, số dân lớn như vậy nhưng những hộ đói nghèo vẫn tập trung lớn nhất ở các vùng này. Trong những năm qua, với các chính sách của Đảng, nhà nước và chính sách của tỉnh mong muốn làm sao nhanh chóng, giải quyết, thu hẹp diện đói nghèo, cải thiện đời sống của nhân dân. Thanh Hóa đã thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước như thực hiện có hiệu quả Chương trình 30a của Chính phủ, chương trình KT - XH miền núi. Đó là những việc đã thực hiện và thu được kết quả tốt. Tuy nhiên, tôi cho rằng, vẫn còn rất nhiều công việc phải tiếp tục thực hiện để giảm nghèo bền vững, để phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Trong đó, có mấy nhiệm vụ trọng tâm cần quan tâm như miền núi cần phải gắn việc bảo vệ và phát triển rừng với kinh tế lâm nghiệp. Nếu như quan tâm đúng mức và phát triển kinh tế lâm nghiệp thì sẽ có tác động đến xóa đói giảm nghèo, phát triển KT - XH miền núi và làm cho đời sống của người dân miền núi ngày càng tốt hơn.
- Với vai trò là Phó trưởng đoàn ĐBQH, anh có thể cho biết, Đoàn ĐBQH Thanh Hóa tham gia Kỳ họp thứ Nhất QH Khóa XIII quan tâm tới những vấn đề gì?
ĐBQH Lê Nam: Trong Kỳ họp thứ Nhất này, Đoàn ĐBQH Thanh Hóa tập trung vào những vấn đề cơ bản là vấn đề nhân sự trong đó có nhân sự nhà nước, nhân sự QH, nhân sự Chính phủ. Bên cạnh đó, cũng quan tâm một số chính sách khác liên quan đến phát triển KT- XH, ví dụ như những chính sách về miễn giảm các loại thuế cho các doanh nghiệp và các tổ chức cá nhân. Bên cạnh đó là tập trung vào vấn đề đánh giá về tình hình phát triển KT- XH, ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm và tập trung tham gia làm tốt, khẳng định các nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện thắng lợi mục tiêu KT - XH 6 tháng cuối năm 2011… Và có thể nói, đến giờ phút này, Đoàn ĐBQH Thanh Hóa cũng như mỗi ĐBQH trong Đoàn đã đóng góp hết sức trách nhiệm vào việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng số một của kỳ họp lần này, góp phần tạo nên thành công của Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội Khóa XIII. 
- Xin cám ơn anh!
Hà An thực hiện

Friday, July 1, 2011

01/07 Những truyền thuyết về cách xây dựng Thành nhà Hồ


Thứ Sáu, 01/07/2011 - 10:44

(Dân trí) - Người xưa đã làm thế nào để xây dựng được một thành trì kiên cố, kỳ vĩ như Thành nhà Hồ? Câu hỏi ấy cho tới nay không ai có thể trả lời chính xác. Có nhiều truyền thuyết về kỹ thuật xây Thành được các nhà nghiên cứu thu thập.
 >> Di sản văn hóa nhân loại Thành nhà Hồ, niềm tự hào của xứ Thanh
Địa thế rồng chầu, rắn cuốn…
Thành nhà Hồ, một công trình kiến trúc bằng đá đồ sộ, một kỳ công được xây dựng từ mồ hôi, nước mắt và máu của người lao động…  
 
Cổng thành phía Tây
 
Cổng thành phía Nam
Năm 1397, Hồ Qúy Ly phục mệnh vua Trần Thuận Tông vào động An Tôn làm 5 việc lớn: Xây thành, đắp lũy, xây dựng cung điện, lập nhà miếu, nền xã, mở đường phố. Thành nhà Hồ tọa lạc giữa hai dòng sông lớn là sông Mã và sông Bưởi bao quanh một vùng đất rộng gần 10 ngàn ha màu mỡ, phì nhiêu, tạo nên một sự biệt lập với các vùng đất chung quanh như một ốc đảo tự nhiên hiểm trở.
Bên trong Tây Đô có nhiều rặng núi đá vôi bao bọc, có cả núi đất xen đá mồ côi. Phía Đông Nam Thành nhà Hồ có núi Đốn Sơn cách 4km che giữ mặt tiền gọi là tiền án. Ở phía Tây Bắc có núi Song Tượng (voi cái, voi con) nằm dựa vào nhau chầu vào vùng đất gọi là Mả Lách. Phía Tây - Tây Nam, tương truyền có 5 ngọn núi đá vôi khu động An Tôn, sau này chia ra hai làng là Yên Tôn Thượng và Yên Tôn Hạ, 3 núi gọi là Kim Ngưu (trâu vàng) và 2 núi gọi là Kim Ngọ (ngựa vàng).
Nhà Hồ đã lấy hết 3 ngọn núi Kim Ngọ, cho nên hiện nay chỉ còn lại 2 núi Kim Ngưu cách thành hơn 1km. Các cửa thành đều được làm theo dạng vòm cuốn. Để lắp ghép được các vòm cuốn, các nghệ nhân phải thiết kế và chế tác ra các phiến đá hình múi cam, hình thang cân, hình thang vuông, hình tứ giác.
 
Cổng thành phía Đông
 
Cổng thành phía Bắc
Để chọn đất này làm đất đóng đô, nhà Hồ phải tìm long mạch, từ long mạch khởi thủy đến long mạch nhập thủy cách nhau hàng ngàn cây số. Theo thuyết phong thủy: Đất quý (long mạch cao, xa và rộng) có nhiều tiểu long chầu vào long chủ. Nếu chúng ta đứng trên các ngọn núi và ngoài thành nhìn phong cảnh bao quanh cũng dễ nhận ra địa thế hiểm trở vùng này, bên ngoài có nhiều dãy núi vòng cung bao bọc vây kín bốn phương tám hướng. Vòng trong sông Mã, sông Bưởi lượn tròn như những chiến hào khổng lồ vây giữ. Trong cùng là đất xây Thành nổi lên như một cái ấn trời đặt đó.
Sau khi nghiên cứu phong thủy, Hồ Quý Ly coi mảnh đất này có thể dựng xây đế nghiệp lâu dài. Ông nói với các con đất này là đất thạch bàn Long - Xà - Lục thập niên ký (đất rồng chầu, rắn cuốn - vững như bàn thạch trụ được 60 năm). Nhưng Hồ Hán Thương là con thứ 2, rất am tường thuật phong thủy, tâu với cha đã xem kỹ đất này đúng là đất rồng chầu, rắn cuốn, nhưng đất còn non nên chỉ mới là: Long - Xà ẩm thủy - Lục niên ký chủ - ở được trên dưới 6 năm thôi.
 
Một đoạn tường thành phía Đông
Quả nhiên sau khi lên ngôi hoàng đế tháng 3 năm 1400 (Canh Thìn), Hồ Quý Ly đã phải nhường ngôi cho Hồ Hán Thương vào tháng 11 năm 1400 và đến năm 1406 Hồ Hán Thương đã thất thủ trước xâm lược Đại Minh; năm 1407 đã bị bắt tại Kỳ La - Hà Tĩnh.
Những truyền thuyết về cách xây thành
Tuy Thành nhà Hồ là một công trình thế kỷ, nhưng do các thư tịch cổ đầu thế kỷ XV không quan tâm ghi chép kỹ lưỡng về thời gian bắt đầu xây dựng, cửa nào xây trước, cửa nào xây sau, hay được tiến hành cùng lúc, cũng như cách khai thác đá, vận chuyển, lắp đặt… Do đó công tác nghiên cứu thành cổ chủ yếu dựa vào truyền thuyết lưu lại trong dân.
Cho đến những năm gần đây, cũng có tài liệu nói xây xong thành chỉ trong 3 tháng. Có tài liệu nói xây dựng 3 năm, 6 năm…
Mỗi bức tường thành được lắp ghép 5 hàng đá phiến ở phần nổi trên mặt đất và 2 hàng chìm dưới mặt đất làm móng, trong 5 lớp đá nổi trên mặt đất thì lớp dưới cùng có chiều cao là 1,1m, lớp thứ 2 cao từ 0,9 - 1m, lớp thứ 3 cao từ 0,7 - 0,8m, lớp thứ 4 cao 0,5 - 0,6m, lớp trên cùng cao từ 0,35 - 0,4m.
 
Đoạn tường thành phía Tây
 
Viên đá dài nhất tại cổng thành phía Tây
 
Theo truyền khẩu của nhân dân quanh vùng, chỉ trong vài năm thành đã xây dựng gần xong, chỉ còn lại có 4 cổng thành cứ lắp gần xong lại sập, mỗi ngày có dăm người chết, nhặt được cả rổ ngón tay, ngón chân bị chẹt, nhà vua vô cùng lo lắng, phải treo thưởng hậu cho người hiến kế. Có người đã hiến kế rằng: Phải đắp đất cát bên trong làm cốt để xếp đá lên dựng thành vòm cuốn, xong rồi moi đất cát ra. Thành vừa xây xong Quý Ly cướp ngay ngôi báu. 
Từ quan sát hiện trạng Thành nhà Hồ còn lại đến ngày nay, có thể nhận định rằng: Sau 3 năm Thành nhà Hồ về cơ bản đã lắp đặt xong, nhưng chưa hoàn thiện. Trong quá trình chấp chính, vừa ở vừa xây dựng, cơi nới các lớp gạch nung thành hình răng lược tạo ra lỗ châu mai trên 4 mặt Thành.
Mốc thời gian này phù hợp với truyền miệng của nhân dân quanh vùng: Nhà Hồ vừa xây dựng vừa ở cả thảy chỉ được 6 năm. Với mốc 6 năm cũng trùng hợp với câu nói của Hồ Hán Thương: Đất này là đất Long - Xà ẩm thủy - Lục niên ký chủ.
Thực tế cho đến năm 1407, khi nhà Hồ thất bại thì thành vẫn chưa được xây dựng hoàn thiện. Vật chứng rất rõ ràng là: Cửa thành phía Đông và phía Tây còn đang bỏ dở, mới lắp đặt xong vòm cuốn, chưa lắp xong 2 mặt cổng thành còn để đá mỏ để lắp đặt sau. Ngoài ra có một đoạn thành gần góc chính Bắc chừng 30m lắp ghép tường thành bằng đá mồ côi chưa được gia công đẽo gọt, vì phải xây dựng xong các bức tường thành trước khi quân Minh sang đánh nước ta.
Nơi khai thác, chế tác và cách vận chuyển đá
Để xây dựng được một kinh đô như Thành nhà Hồ, ngày ấy phải sử dụng một khối lượng khổng lồ các loại vật liệu xây dựng.
 
Đoạn tường thành phía Nam
 
Đoạn tường thành phía Bắc
Có nhiều chuyên gia xây dựng đã đến tham quan, nghiên cứu đặt ra câu hỏi: Có phải khu chế tác đá ngay tại xung quanh chân núi các dãy Kim Ngọ, thuộc xã Vĩnh Yên và Vĩnh Tiến hay không? Hay là sau khi khai thác đá ở các núi Kim Ngọ, người xưa cho chuyển các phiến đá thô về quanh chân thành rồi mới gia công đẽo gọt?
Nhiều chuyên gia nghiên cứu nghiêng về nhận định sau khi khai thác đá thô trên núi xuống chỉ qua sơ chế chuyển ngay về các bãi đá trong thành rồi mới tiếp tục gia công đẽo gọt. Hiện nay còn thấy cả bên trong và bên ngoài thành đá nát chất thành từng đám khá dày, do phải chế tác đẽo gọt các phiến đá hình thang ghép thành vòm cuốn. Nhưng các phiến đá lắp ghép 4 bức tường thành chủ yếu được đẽo gọt bên trong các bờ thành để tiện cho việc kéo trượt theo mặt nghiêng của bờ thành được lắp cao dần theo từng hàng đá bên ngoài.
Điều mà các du khách đến Thành nhà Hồ đều trầm trồ, thán phục là bằng cách nào mà các nghệ nhân và thợ đã tách được các phiến đá khổng lồ nặng vài chục tấn từ trên núi xuống. Cách đây đã 600 năm, chắc chắn thuốc mìn chưa có. Các loại thuốc nổ vô cùng quý hiếm, chỉ đủ chế ra đạn súng Thần công, lấy đâu nổ đá?
Có nhà nghiên cứu đã khẳng định toàn bộ đá xây dựng thành đều được khai thác bằng phương pháp thủ công. Nếu dùng chất nổ dù ít đến đâu thì đá cũng bị om, rạn nứt. Việc khai thác đá xây dựng thành trì cho đến ngày nay vẫn là một điều khó hiểu.
 
Từ cổng thành phía Nam nhìn sang cổng phía Bắc
Việc vận chuyển những khối đá khổng lồ từ nơi khai thác về thành cũng là một điều kỳ diệu, phi thường. Truyền thuyết trong vùng đã kể lại, người chỉ huy đã cho xây dựng một con đường lát bằng đá để vận chuyển đá từ nơi khai thác về thành. Hiện nay vẫn còn di tích con đường vận chuyển đá ở thôn Tây Giai, xã Vĩnh Tiến.
Khi vận chuyển người xưa dùng các con lăn dùng sức trâu, bò kéo và những tảng đá lớn hàng chục tấn thì dùng sức voi. Sự thực, 4 bức tường thành không phải được cấu tạo đơn giản như nhiều người nghĩ, bên trong là một con đê bằng đất, bên ngoài xếp một tường đá dựa vào vách đất… Đây được xem là công trình xây dựng "độc nhất vô nhị" ở Việt Nam từ trước đến nay.
Thành nhà Hồ đã được công nhận là Di sản Văn hóa của nhân loại, gắn với niềm tự hào là trách nhiệm giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị vốn có của Di sản vô giá này.
Duy Tuyên
(Theo tác giả Phạm Văn Chấy
Thành nhà Hồ và những câu chuyện xây thành đắp lũy
NXB Thanh Hóa)

Tuesday, May 31, 2011

30/05 Các địa phương tiếp tục công bố kết quả bầu cử HĐND tỉnh


 (30/05/2011)
Trong các ngày từ 26 đến 29/5, Ủy ban bầu cử các tỉnh Bình Dương, Thanh Hóa, Quảng Bình, ĐắcLắc, Bình Thuận, Cà Mau, Tiền Giang đã công bố kết quả bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016.

* Tỉnh Bình Dương: Ủy ban bầu cử (UBBC) tỉnh Bình Dương đã công bố kết quả bầu cử đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016; theo đó số đại biểu được bầu là 63 trong số 94 số ứng cử viên tại 15 đơn vị bầu cử. Tỉnh đã bầu đủ số lượng 63 đại biểu HĐND tỉnh theo qui định, các đại biểu trúng cử đạt từ 56,88% số phiếu hợp lệ trở lên; công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội cuộc bầu cử được đảm bảo.

UBBC tỉnh xác định kết quả bầu cử đại biểu HĐND tỉnh như sau: tổng số cử tri trong danh sách 1.079.854; tổng số cử tri đã đi bầu 1.073.172; tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 99,38 %; số phiếu hợp lệ bằng 99,11% số phiếu thu vào.


* Tỉnh Thanh Hóa: Uỷ ban bầu cử tỉnh Thanh Hoá đã công bố danh sách các ứng cử viên trúng cử HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016. Theo đó đã có 94 đại biểu trong tổng số 195 đại biểu ứng cử đã trúng cử HĐND tỉnh, thiếu 1 đại biểu so với ấn định cho HĐND tỉnh (95 đại biểu).

Thanh Hoá có 31 đơn vị bầu cử. Tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 99,41%. Không có đơn vị bầu cử nào phải tổ chức bầu cử thêm, bầu cử lại. Đại biểu trúng cử có phiếu bầu hợp lệ cao nhất đạt 95,02%. Đại biểu trúng cử có phiếu bầu hợp lệ thấp nhất là 56,96%.

*Tỉnh Quảng Bình: Ủy ban bầu cử tỉnh Quảng Bình đã tổ chức phiên họp thứ ba để thông qua kết quả bầu cử đại biểu QH khóa XIII và bầu đại biểu HÐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

Theo báo cáo của Ủy ban bầu cử tỉnh, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu đạt 99,42%, trong đó có 123/159 xã, phường, thị trấn tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 100%.

Kết quả, cử tri đã bầu được 6/6 đại biểu QH khóa XIII (đủ số lượng ấn định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội); 50/50 đại biểu HÐND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 (đủ ấn định của Thường trực HÐND tỉnh); 148/149 đại biểu HÐND cấp huyện, thiếu một đại biểu; đối với đại biểu HÐND cấp xã, đã bầu được 3.947/4.053 đại biểu, thiếu 106 đại biểu. Trong đó có 17 đơn vị bầu cử phải bầu thêm.

* Tỉnh Đắc Lắc: Ủy ban bầu cử (UBBC) tỉnh Ðắc Lắc tổ chức phiên họp thứ 6 thông qua biên bản xác nhận kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII.

Theo kết quả tổng hợp của UBBC tỉnh Ðắc Lắc, tổng số cử tri của ba đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu HÐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016 trên địa bàn tỉnh gồm có 1.161.298 người. Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu đạt 99,89%; số phiếu hợp lệ 1.152.271 phiếu, đạt tỷ lệ 99,34% so với tổng số phiếu bầu.

* Tỉnh Bình Thuận, Ủy ban bầu cử tỉnh Bình Thuận đã công bố danh sách những người trúng cử đại biểu HÐND tỉnh nhiệm kỳ 2011 - 2016. Theo đó, từ 87 người ứng cử, cử tri của 17 đơn vị bầu cử trong toàn tỉnh Bình Thuận đã bầu được 52 đại biểu HÐND tỉnh nhiệm kỳ 2011 - 2016, đạt 100% số đại biểu ấn định cho HÐND tỉnh Bình Thuận nhiệm kỳ này.

Trong số 52 đại biểu vừa trúng cử HÐND tỉnh Bình Thuận nhiệm kỳ 2011 - 2016, có 19 đại biểu tái cử, mười đại biểu nữ, hai đại biểu ngoài Ðảng và hai đại biểu là người dân tộc thiểu số.

*Tỉnh Cà Mau, Ủy ban bầu cử tỉnh Cà Mau đã chính thức công bố danh sách 54 đại biểu trúng cử Hội đồng Nhân dân tỉnh khóa XIII, nhiệm kỳ 2011-2016.

Trong số đại biểu trúng cử vào Hội đồng Nhân dân tỉnh Cà Mau khóa này có 14 nữ, chiếm 25,93%; dân tộc 4 người, chiếm 7,4%; tôn giáo 3 người, chiếm 5,55%; ngoài đảng 3 người, chiếm 5,55% và đại biểu tái cử 15 người, chiếm 27,7%.

Đại biểu trúng cử với số phiếu cao nhất (88,77%) là ông Phạm Chí Dũng. Đại biểu trúng cử có số phiếu thấp nhất là 53,10%.

Tại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, tỉnh Cà Mau thành lập 14 đơn vị bầu cử, 1.292 tổ bầu cử; có 850.741 cử tri tham gia bỏ phiếu, đạt tỷ lệ 99,37%.

* Tỉnh Tiền Giang, ông Nguyễn Văn Danh, Chủ tịch Ủy ban bầu cử tỉnh đã ký quyết định công bố danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016.

Trong số 64 đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh nhiệm kỳ mới, có 14 đại biểu nữ (21,88%), 6 đại biểu ngoài đảng (9,38%), 17 đại biểu tái cử (26,56%), 3 đại biểu tôn giáo (4,69%), 1 đại biểu dân tộc (1,56%) và đại biểu trẻ (3,13%).

Đặc biệt, trên 93% đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh nhiệm kỳ mới có trình độ đại học và sau đại học (có 2 tiến sỹ).

Đến thời điểm này, tất cả Ủy ban bầu cử cấp huyện và cấp xã trong tỉnh Tiền Giang cũng đã công bố danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng Nhân dân của địa phương./..

TH ( tổng hợp)
http://dangcongsan.vn
..................................................................................................................................................