Showing posts with label journalists. Show all posts
Showing posts with label journalists. Show all posts

Thursday, March 29, 2012

Bùi Tín, tuổi xế chiều ở Paris


Thứ năm - 29/03/2012 03:19 - Đã xem: 1025

Bùi Tín, tuổi xế chiều ở Paris
Bùi Tín, tuổi xế chiều ở Paris
Tôi biết Bùi Tín từ những ngày Bùi Tín còn đương chức Phó Tổng biên tập Báo Nhân Dân phụ trách tờ Nhân Dân Chủ nhật. Thời đó, Bùi Tín đang nổi danh là một trong những cây viết có hạng của làng báo Việt Nam. Thông qua một người bạn, tôi đến gặp Bùi Tín và được Bùi Tín truyền cho một vài chiêu tác nghiệp. Tôi nhớ mãi bài học mà Bùi Tín hướng dẫn: “Đối với một nhà báo cách mạng, kiến thức thông tuệ và sự nhạy cảm là hai yếu tố đặc biệt quan trọng”.

Bùi Tín đưa dẫn chứng: Ngày giải phóng miền Nam, một nhà báo phương Tây hỏi tôi tại sân bay Tân Sơn Nhất: “Xin ông so sánh tướng Napoléon với tướng Võ Nguyên Giáp”. Tôi trả lời: “Napoléon còn có trận bại Aoxtéclích, còn Tướng Giáp không có trận bại nào, mà chỉ toàn thắng”. Đúng là một bài học có giá trị và rất đáng học tập.
 
Thế rồi, tháng 9/1990, Bùi Tín đi dự hội báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp rồi đào nhiệm luôn. Mới đầu Bùi Tín tung tin xin ở lại thêm một thời gian để chữa bệnh… Nhưng trên thực tế, Bùi Tín đã bí mật hợp tác với 13 hãng thông tấn, báo chí quốc tế và gần chục tờ báo phản động của người Việt ở hải ngoại để đăng tải những bài viết, tham luận chống lại dân tộc Việt Nam như: Kiến nghị của một công dân, Hoa xuyên tuyết, phỏng vấn đài BBC... Với tôi đó là thông tin bất ngờ ngoài dự kiến. Vì thế tôi đã mất khá nhiều thời gian để tìm hiểu.

37 năm bị “bịt miệng” trên “xứ sở tự do” - Kỳ 2


Thứ năm - 29/03/2012 07:45 - Đã xem: 359

(CATP) Trong nhiều năm liên tiếp, bà dân biểu Mỹ Loretta Sanchez và Tổ chức phóng viên không biên giới (Reporters Whithout Borders - RWB) cùng những thế lực cực đoan cứ hùng hổ ca mãi điệp khúc “Đấu tranh cho tự do báo chí ở Việt Nam”. Nhưng trớ trêu thay, ngay trên đất Mỹ, báo chí Việt ngữ - một bộ phận của báo chí Mỹ bị “bịt miệng”, khủng bố, đàn áp man rợ suốt 37 năm qua lại không thấy họ nhắc tới?! Sau hàng loạt nhà báo, chủ báo bị sát hại, thủ tiêu; đến nay nhiều nhà báo, cơ quan báo chí vẫn bị bọn “côn đồ chính trị” quậy phá triền miên, chửi bới hăm dọa, xúc phạm nhân phẩm...

KỲ 2: TRANG SỬ ĐEN TỐI

Theo tài liệu “Lịch sử bạo động của giới chống cộng tại Mỹ” được công bố trên rất nhiều phương tiện truyền thông tại Mỹ (và hiện rất dễ tìm trên Google) cho biết: “Từ năm 1987 đến 1990, có năm nhà báo người Việt bị giết hại tại Mỹ bởi các đội sát thủ mà nhà cầm quyền Mỹ nghi ngờ có liên hệ với các sĩ quan trong quân đội Sài Gòn cũ ở miền Nam Việt Nam đang cư ngụ tại vùng Sài Gòn nhỏ thuộc quận Cam. 

HÀNG LOẠT NHÀ BÁO BỊ “TUYÊN ÁN TỬ HÌNH”

Năm 1994, Ủy ban bảo vệ phóng viên (Committee to protect jounalists) có trụ sở đặt tại New York, đã đưa ra một báo cáo cụ thể: Tháng 1-1980, văn phòng báo Văn nghệ tiền phong ở Arlington bang Virginia bị ném bom xăng. Nhà báo Nguyễn Thanh Hoàng và con gái 7 tuổi may mắn thoát nạn. Ngày 21-7-1981, Lam Trang Dương, một nhà báo khuynh tả và nhà bình luận về cuộc chiến Việt Nam bị bắn chết trên đường phố San Francisco. Nhóm khủng bố có tên Vietnammese Organization to Exterminate Communists and Restore the Nation (VOECRN - Tổ chức chống cộng và phục quốc) tuyên bố họ là thủ phạm vụ ám sát. Ngày 5-1-1982, Bach Huy Bong, chủ nhiệm một tờ tuần báo nhỏ ở Los Angeles đã bị rượt bắn sau khi rời nhà hàng ở khu China town. Ông bị bắn vì từng cho in bài lên án một nhóm du đãng có tên “Fogmen” (Người nhái) hoạt động ở quận Cam và cho rằng nhóm này là cựu lính hải quân miền Nam Việt Nam. Ngày 24-8-1982, nhà báo Đạm Phong bị bắn chết tại nhà riêng ở Houston. Ông là chủ nhiệm tuần báo Tự Do, đã đăng nhiều bài viết vạch trần thủ đoạn của các nhóm chống cộng lưu vong. Sau khi giết ông Phong, Tổ chức khủng bố VOECRN để lại một danh sách nhà báo bị chúng “tuyên án tử hình”. Ngày 7-8-1987, nhà báo Thinh Nguyen, chủ bút tờ Dân Việt, được “tặng quà” là xác một con chó berger cùng lá thư tuyên bố ông sẽ bị ám sát. Ngày 7-8-1987, Tổ chức khủng bố VOECRN tuyên bố đã giết Tap Van Pham (chủ bút tuần báo Mai ở quận Cam), đốt cháy văn phòng tờ báo vì chúng cho rằng ông đã “cộng tác với cộng sản” (tức đăng quảng cáo chuyển tiền về cho thân nhân ở Việt Nam). Ngày 3-8-1988, Nguyễn Tú A - chủ nhiệm tờ Viet press tại Westminter và hai nhà báo khác bị bọn khủng bố, chống cộng “tuyên án tử hình” vì về thăm quê hương. Ngày 22-11-1989, nhà báo Đỗ Trọng Nhân của tờ Văn nghệ tiền phong bị bắn chết trong ôtô ở quận Fairtax - Virginia. Ngày 22-9-1990, nhà báo Lê Triết bị bắn chết ở ngoại ô Bailey Crossroads - Virginia. Tên ông nằm trong danh sách mà Tổ chức VOECRN để lại trên xác nhà báo Đạm Phong tám năm trước. Ngày 21-7-2007, hàng trăm kẻ cực đoan đã biểu tình chống tờ Việt Weekly ở Garden Grove. Chủ nhiệm Lê Vũ cùng các phóng viên, nhân viên bị sách nhiễu, đe dọa qua điện thoại và email nặc danh. Bọn phản động, khủng bố còn “hứa” sẽ thiêu cháy tòa soạn Việt Weekly...

Wednesday, March 28, 2012

37 năm bị “bịt miệng” trên “xứ sở tự do”


Thứ tư - 28/03/2012 20:05 - Đã xem: 355

(CATP) Nhà báo, chủ báo bị chụp mũ, vu khống, sỉ nhục, bị đánh đập dã man hoặc thủ tiêu, ám sát. Tòa soạn báo bị côn đồ khủng bố, đốt cháy, bao vây gây náo loạn cả năm trời. Nhiều người bị ngăn cấm đọc báo, nghe đài... Đây là thực trạng nhức nhối, kéo dài suốt 37 năm qua, là “khổ nạn” của báo chí Việt trên đất Mỹ. Phan Nhật Nam - một cây bút chống cộng khét tiếng từ trước và sau năm 1975, phải cay đắng thốt lên: “Những người làm văn, làm báo ở đây (Mỹ) đang phải chịu đựng một áp lực tồi tệ”... (Phan Nhật Nam trả lời Lệ Hằng - đã đăng trên nhiều trang web). Nhà văn Nhật Tiến thì than thở: “Không có đủ tự do cho những người cầm bút ở hải ngoại...” (trích từ “Sống và viết trên đất Mỹ” - Thế Uyên tháng 4-1998, đã đăng trên “Tiền vệ”). Tại sao trên xứ sở tự do như Hoa Kỳ lại có chuyện đàn áp báo chí khốc liệt như vậy?

Thứ ba, 27/03/2012 01:43    


Kỳ 1: VÀI NÉT LỊCH SỬ BÁO VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ
Ngày 30-4-1975, kết thúc sự tồn tại của chính thể Việt Nam cộng hòa (VNCH). Hai ngày sau, tại đảo Guam, tờ báo đầu tiên của người Việt tại Mỹ ra đời với tên gọi Chân trời mới. Tại thời điểm đó, trên đảo Guam có hơn 100 ngàn người Việt (gồm binh lính, sĩ quan, công chức chế độ VNCH vừa sụp đổ) được máy bay, tàu chiến bốc ra đang chờ sang Mỹ định cư.

Ồ ẠT RA ĐỜI RỒI... CHẾT YỂU!

Tờ Chân trời mới mỗi tuần ra năm số, mỗi số phát hành từ 5 - 10 ngàn bản. Đến cuối tháng 10-1975, tờ báo này cũng đóng cửa theo trại tạm cư Guam (theo BBC ra ngày 18-4-2005).

Sunday, January 22, 2012

Lê Phú Khải – Tôi nhiều lần từ chối vào Đảng Cộng sản


1 22, 2012

Phạm Thị Hoài thực hiện
Phạm Thị Hoài: Thưa ông Lê Phú Khải, là một công dân ngoài Đảng, ông trải nghiệm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam như thế nào?
Lê Phú Khải: Trong suốt những năm dài sống trong một xã hội chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi thấy mỗi khi Đảng nêu cao khẩu hiệu đoàn kết dân tộc, chiến đấu vì lợi ích dân tộc thì đường lối của Đảng đúng đắn, được nhân dân ủng hộ và Đảng thu được thắng lợi to lớn. Điện Biên Phủ là một dấu son của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lịch sử dân tộc. Nhưng khi nào Đảng đề cao đấu tranh giai cấp, lấy mục tiêu xã hội chủ nghĩa làm tiêu chí cho mọi chính sách và hành động thì Đảng thất bại hoàn toàn, mất lòng dân và uy tín giảm sút. Cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, hợp tác hóa nông nghiệp, v.v… là những thí dụ điển hình về sự thất bại đó.

Friday, January 20, 2012

Nhà báo Lê Phú Khải và những trang viết về ĐB Sông Cửu Long



Nhà báo Lê Phú Khải sinh năm 1942 tại Hà Nội. Ông từng là giáo viên dạy văn, tình nguyện vào miền Nam công tác rồi trở thành phóng viên thường trú của Đài Tiếng nói VN tại Tiền Giang. Ông sống gắn bó với vùng đồng bằng sông Cửu Long hơn 20 năm và ông đã có những trang viết sâu sắc về tính cách con người và cảnh sắc, văn hóa của vùng đất này. Ông đã xuất bản nhiều tác phẩm báo chí về vùng ĐBSCL như: Đồng Tháp Mười hôm nay, Viết từ đồng bằng Sông Cửu Long, Rắn độc trong tay người, Hồ sơ đồng bằng sông Cửu Long, Sống chung với lũ. Ông là nhà báo chịu khó đi và lăn lộn với thực tế nên những trang viết của ông nóng hổi chất hiện thực. Đa số tác phẩm báo chí của ông là bút ký. Bút ký của Lê Phú Khải thường đề cập đến những sự kiện bức xúc của đời sống được thể hiện bằng ngôn ngữ văn học giàu hình ảnh. Qua mỗi tác phẩm báo chí, tác giả bao giờ cũng bộc lộ chính kiến và quan điểm của mình về cái đúng, cái sai, về chân lý của đời sống.

Wednesday, June 22, 2011

21/06 Các nhà báo đầu thế kỷ 20 qua lời của người thân


21/06/2011 | 07:35:00


Các nhà báo Vũ Trọng Phụng, Trúc Khê và Vũ Bằng (Ghép ảnh: Nguyễn Anh/Vietnam+)

Khi nói đến sự phát triển của một cây bút viết văn hay làm báo nổi tiếng, người ta luôn quan tâm đến thời đại mà tác giả đó sống. Theo giáo sư Hà Minh Đức - vị giáo sư đầu ngành về nghiên cứu văn học và báo chí của nước nhà thì "những thập niên đầu của thế kỷ 20 là thời kỳ hưng thịnh của văn học và của báo chí Việt Nam."

Đó là thời kỳ có nhiều biến động lớn, nhiều sự kiện lịch sử. Mấy chục năm đầu thế kỷ 20, trên các báo xuất hiện các tên tuổi nổi tiếng: Ngô Tất Tố, Trúc Khê, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng… Giáo sư Hà Minh Minh Đức đã khẳng định: "Thời đó cầm bút viết để đảm bảo cuộc sống. Không thể gọi là nhà báo mà viết ít hoặc không viết."

"Vua phóng sự đất Bắc" lăn lộn sống và viết

Phóng viên Vietnam+ đã đến thăm tư gia, thăm mộ của nhà văn-nhà báo Vũ Trọng Phụng, người được mệnh danh là “Ông vua phóng sự đất Bắc.” Có được xem những bức ảnh cùng những món đồ kỷ niệm đơn sơ mà vô giá ông để lại mới thấu hiểu sự lăn lộn vì nghề để sống và viết của Vũ Trọng Phụng.

Giáo sư Hà Minh Đức nhận định: "Thời của Vũ Trọng Phụng, báo chí ngoài mục đích hoạt động của mình, còn hỗ trợ văn học đăng tải dài kỳ các tiểu thuyết trên báo. Có những tác phẩm đăng báo trước, hai ba năm sau mới xuất bản thành sách như 'Số đỏ' của Vũ Trọng Phụng."

Vũ Trọng Phụng viết về thành thị với sự thâm nhập vất vả với cuộc sống thị thành. Vũ Trọng Phụng đã thành công  với tư cách một nhà báo trước là nhà văn. Ông thành danh trước ở các thể phóng sự rồi mới đến tiểu thuyết. Với hàng loạt phóng sự  như “Kỹ nghệ lấy tây,” “Cạm bẫy người,” “Cơm thầy cơm cô...” Vũ Trọng Phụng đã được mệnh danh là “Ông vua phóng sự đất Bắc.” Sau đó mới có các tiểu thuyết đặc sắc như “Giông tố,” “Số đỏ,” “Vỡ đê”…

Ông Nghiêm Xuân Sơn, con rể của nhà văn Vũ Trọng Phụng đã kể về người cha vợ mà ông đã và đang hết lòng để tôn vinh văn nghiệp: "Ông cụ nhà tôi là người có tài mà rất vất vả. Ông không viết văn, làm báo để chơi văn chương bao giờ. Khi viết, ông luôn nghĩ đến mục đích xã hội. Đó là cất tiếng nói bảo vệ điều gì, lên án những thói xấu nào trong xã hội đương thời."

"Ông viết văn để kiếm sống, để nuôi mẹ, nuôi vợ và mụn con gái duy nhất là nhà tôi - bà Vũ Mỵ Hằng. Sinh thời ông đã sống rất nghèo nhưng hết sức tình nghĩa. Xem những giấy tờ ông để lại không thể không cảm động vì tình bạn của các nhà văn, nhà báo thời đó. Họ cùng nghèo khổ mà vẫn bao bọc lẫn nhau lắm. Khi ông Vũ Trọng Phụng cưới vợ, khi vợ sinh con thì bất cứ ai mừng, ai tặng, ai cho cái gì ông cũng ghi lại chi tiết và đầy đủ. Ghi kỹ như lời tự nhắn nhủ trả nghĩa về sau," ông Sơn chia sẻ.

Trên mái ngôi mộ của nhà văn Vũ Trọng Phụng có kẻ bằng sơn một câu nói của nhà thơ Tố Hữu: "Vũ Trọng Phụng không phải là cách mạng nhưng cách mạng phải cảm ơn Vũ Trọng Phụng." Chính  những sự xấu xa, đen tối trong xã hội thực dân nửa phong kiến thời đó được phanh phui dưới ngòi bút của tác giả "Giông tố" mà những người đọc văn Vũ Trọng Phụng càng thêm quyết tâm đổi thay, lật đổ chế độ cũ trong cuộc cách mạng thần kỳ.

Người chủ bút "thả văn chương"

Tại gia đình của nhà báo, nhà văn Trúc Khê-Ngô Văn Triện, bên ban thờ ông có đôi câu đối do Giáo sư-Anh hùng lao động Vũ Khiêu viết: "Trúc đủ ngàn cây ghi khí tiết/ Khê dài muôn dặm thả văn chương." Không chỉ được biết đến là dịch giả của "Truyền kỳ mạn lục," "Bao công kỳ án," Trúc Khê còn  là nhà báo tiêu biểu trong hoạt động báo chí Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Nhà văn Trúc Khê đã là một tấm gương về lao động lạ kỳ. Trong hơn 20 năm cầm bút ông đã để lại gần 60 tác phẩm, không kể các bài bình luận, biên khảo đăng trên các báo.

Theo Từ điển Văn học Việt Nam, ông đã mở "Trúc Khê thư cục" và tham gia với nhiều nhà xuất bản, báo chí ở Hà Nội, ông từng có thời gian làm Tổng Biên tập, chủ bút báo Thương mại, chủ bút báo Bắc Hà và tham gia viết cho các báo Khuyến học, Văn học tạp chí, Phổ thông bán nguyệt san, Thực nghiệp dân báo, Tiểu thuyết thứ bảy, Nước Nam, Ích Hữu, Tao Đàn, Tri Tân, Đông Tây... Bên cạnh việc làm báo, sách do ông sáng tác và dịch thuật cũng có rất nhiều tác phẩm có giá trị lớn.

Nhạc sĩ Ngô Hoàng Dương, con trai thứ của nhà báo Trúc Khê kể với phóng viên Vietnam+: "Thời đó, cha tôi dịch cùng một lúc ba cuốn sách. Ông ngồi dịch, ba đứa con là chúng tôi ghi chép lại. Ông dịch câu này đọc cho người anh, cầm quyển tiếp theo ông dịch cho người chị, và quyển nữa là cho tôi ghi. Ba chúng tôi cứ mê tơi ghi chép không kịp với việc dịch của cụ."

"Cuộc sống chất nhiều gánh lo lên vai ông, nhưng ông cụ vẫn rất lãng mạn. Dường như đó là nét của nhà báo xưa. Nhà báo thời trước gần văn hơn nhà báo bây giờ chăng. Cha tôi cho đào một hào nước trong vườn lấy đất đắp lên thành gò cao, trên gò trồng hoa và cây ăn quả. Ông đặt tên là Ngô sơn và Đỗ thủy. Đó là họ của cha và mẹ chúng tôi. Cha là núi, mẹ là sông, bảy anh em chúng tôi lớn lên trong không gian lãng mạn rất đẹp ấy. Và cả gia đình chúng tôi sống bằng tiền làm báo, viết văn từ cây bút và trí óc của cha tôi."

"Những ngày đẹp trời, ông thường mời các bạn văn chương mà hầu hết đều làm báo về nhà chúng tôi ở Cầu Diễn, Hà Nội - nơi có Ngô sơn, Đỗ thủy để bình thơ văn, bàn luận các việc của nghề báo lúc bấy giờ khá sôi động," nhạc sĩ Hoàng Dương hồi tưởng.

Nhà báo Vũ Bằng - người tình báo X10

Vũ Bằng là tác giả của cuốn "40 năm nói láo" nhưng theo Giáo sư Hà Minh Đức thì đó là cuốn sách chân thực viết về 40 năm làm nghề báo của nhà báo Vũ Bằng.

Theo nhà phê bình văn học Văn Giá: Cuộc đời của Vũ Bằng có nhiều ngang trái theo những biến động lịch sử của dân tộc. Ông từng bị coi là người không gắn bó với cách mạng. Nhất là bao nhiêu năm ở nhà trường người dạy văn thường nói cho học trò lớp 12 của mình biết: Nguyên mẫu của nhân vật văn sĩ Hoàng trong tác phẩm "Đôi mắt" là Vũ Bằng.

Cô giáo Ngô Lan Anh, trường trung học phổ thông Trần Phú, Hà Nội cho biết: Trong bài văn phân tích nhân vật Hoàng, các thế hệ học sinh ra sức "chê" từ cách ăn mặc, nói năng đến thái độ với nông dân, với cách mạng khiến cho  nhân vật Hoàng trở nên rất đáng ghét, trì trệ và phản động. Nhưng Hoàng trong văn Nam Cao có phải là Vũ Bằng không, và Nam Cao sáng tác truyện ngắn "Đôi mắt" là viết văn chứ không phải viết báo. Vậy nên "áp đặt"  đánh đồng nhân vật văn sĩ Hoàng chính là Vũ Bằng thì "oan uổng" cho nhà báo giỏi này quá.

Theo ông Vũ Hoàng Tuấn, con trai trưởng của nhà văn Vũ Bằng: Mấy chục năm xa gia đình, sống dưới chế độ Mỹ Ngụy ở miền Nam hướng về Hà Nội, cha tôi nhớ mẹ tôi lắm. Ông đã viết 'Thương nhớ mười hai' để gửi gắm nỗi nhớ Hà Nội, nhớ người vợ thảo hiền, đảm đang."

Nỗi oan của nhà báo Vũ Bằng đã được giải cách đây hơn 10 năm, công của nhà phê bình văn học Văn Gíá trong cả quá trình "khôi phục danh dự" cho Vũ Bằng quả là rất lớn. Đó là hành trình tìm được đồng đội và người chỉ huy năm xưa đã liên lạc và giao nhiệm vụ cho Vũ Bằng. Từ năm 2000, nhà báo Vũ Bằng đã được công nhận chính thức là chiến sĩ tình báo có bí danh X10, và được tổ chức biệt phái vào Nam năm 1954.

Khi trao đổi cùng người viết bài này, ông Hoàng Tuấn đã rưng rưng kể: Khi cha tôi qua đời ông vẫn chưa hề được khôi phục danh dự. Có những người cho ông là nhà báo không có tinh thần yêu nước. Ngày ông mất, chúng tôi đi đăng cáo phó cho ông, bản báo còn bỏ đi chữ 'nhà báo, nhà văn' Vũ Bằng mà thay vào đó là 'ông' Vũ Bằng. Ngày nhận được giấy chứng nhận, tôi đã đặt ngay lên ban thờ và thắp cho cha mình  những nén nhang báo cáo cùng ông./.

Nguyễn Anh (Vietnam+)

21/06 Cởi mở với báo chí - vừa là trách nhiệm vừa là vinh dự của nghị sỹ


07:30 | 21/06/2011
PHÓ CHỦ NHIỆM ỦY BAN ĐỐI NGOẠI NGÔ QUANG XUÂN ủng hộ và cổ súy cho sự cởi mở của các nghị sỹ với báo chí. Là đại diện của dân, các nghị sỹ có thể phản ánh những tâm tư, nguyện vọng của cử tri không những tại nơi mình được bầu cử mà của bất kỳ người dân từ mọi vùng miền đất nước. Khi các nghị sỹ lên tiếng, trước hết là phải xuất phát từ lợi ích của người dân, của cộng đồng mà họ là người được bầu ra, là người đại diện. Đó vừa là trách nhiệm nhưng cũng là vinh dự của các nghị sỹ. Ông cho rằng, báo chí cần chủ động tạo mối quan hệ rộng rãi và cởi mở hơn với tất cả các ĐBQH - đây là mối quan hệ tương tác vì lợi ích chung của cử tri, của đất nước và dân tộc.
Hàng trên, từ trái qua phải: Tổng bí thư, Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng; Phó chủ nhiệm UB
Đối ngoại Ngô Quang Xuân. Hàng sau: Chủ nhiệm VPQH Trần Đình Đàn; Chủ nhiệm UB Đối ngoại Nguyễn Văn Son tại Hội nghị những người đứng đầu Quốc hội G20
- Thưa Phó chủ nhiệm, là nhà ngoại giao chuyên nghiệp của Việt Nam, từng giữ cương vị Đại sứ tại Liên Hiệp Quốc, WTO… chắc hẳn Phó chủ nhiệm có nhiều kinh nghiệm, trải nghiệm tiếp xúc với báo chí nước ngoài. Phó chủ nhiệm có thể chia sẻ đôi điều về mối quan hệ giữa nghị sỹ các nước với báo chí của họ?
Ở đâu cũng vậy, báo chí là một bộ phận rất quan trọng và không thể thiếu được của mỗi xã hội. Qua quan sát Nghị viện các nước, tôi thấy mối quan hệ giữa nghị sỹ và giới báo chí cũng là mối quan hệ chính trị - xã hội diễn ra thường xuyên, bình thường hàng ngày. Những tin tức hay các cuộc phỏng vấn cũng có khi là từ các cuộc gặp tình cờ giữa các nhà báo với các nghị sỹ, cũng có khi là từ những cuộc gặp đã hẹn trước... Họ có thể gặp nhau tại hành lang nghị trường hoặc ở bất kỳ địa điểm nào trong cuộc sống xã hội, cũng có khi ở tại những trường quay hay các cuộc họp báo của các nghị sỹ. Nói chung đó là những hoạt động, sinh hoạt xã hội cởi mở, thẳng thắn và linh hoạt...
- Như Phó chủ nhiệm có nói, ở các nước, nghị sỹ các nước rất cởi mở với báo chí, trừ trường hợp bận quá, còn lại, họ hiếm khi từ chối trả lời báo chí. Họ tiếp xúc với báo chí một cách thẳng thắn và tự nhiên. Tất nhiên, ở đây có yếu tố về văn hóa, quốc gia, dân tộc, luật pháp… của từng nước nhưng theo ý kiến của Phó chủ nhiệm thì nghị sỹ - đại biểu của dân – có nên cởi mở với báo chí hay không?
Tôi ủng hộ và cổ súy cho sự cởi mở của các nghị sỹ với báo chí. Là đại diện của dân, các nghị sỹ có thể phản ánh những tâm tư, nguyện vọng của cử tri không những tại nơi mình được bầu cử mà của cả bất kỳ người dân từ mọi vùng miền đất nước. Hoặc các nghị sỹ có thể chia sẻ quan điểm, ý kiến của mình về các vấn đề liên quan đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa. Khi các nghị sỹ lên tiếng, trước hết là phải xuất phát từ lợi ích của người dân, của cộng đồng mà họ là người được bầu ra, là người đại diện. Đó cũng vừa là trách nhiệm nhưng cũng là vinh dự của các nghị sỹ.
- Phó chủ nhiệm thấy quan hệ giữa nghị sỹ với báo chí ở nước ngoài và nước ta có gì khác biệt không?
Là đại diện của đất nước và dân tộc ở nước ngoài, Đại sứ có nhiệm vụ phải tranh thủ tiếp xúc, tuyên truyền với nhân dân nước sở tại, với thế giới về đất nước, con người, về đường lối đối ngoại, lịch sử, văn hóa và nhiều nội dung khác nhằm nâng cao vị thế, tôn vinh hình ảnh Việt Nam. Từ kinh nghiệm của mình, tôi thấy trong hoạt động của một Đại sứ nên tránh sự phân biệt đối xử với các đối tượng quan hệ khi thấy không có sự cần thiết, kể cả với giới truyền thông và báo chí nữa. Như tôi nói ở trên, quan hệ giữa nghị sỹ và báo chí ở các nước tôi đến làm việc rất cởi mở, thường xuyên và linh hoạt. Đương nhiên, ở mỗi nước có những điểm giống nhau và có mức độ khác nhau.
- Ở nước ta, không phải ĐBQH nào cũng thường xuyên tiếp xúc với báo chí, thậm chí có ĐBQH kiên quyết “nói không” với báo chí. Thực tế nghị trường Việt Nam cho thấy, không phải ĐBQH nào cũng được sự quan tâm, săn đón của báo chí. Ở đây, có nên hiểu những nghị sỹ thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng là những người nổi tiếng hay không?
Nói thế nào nhỉ? Tôi nghĩ không tới mức có ĐBQH “kiên quyết nói không” với báo chí đâu. Có thể có những trường hợp chưa xuất hiện cơ hội tiếp xúc để thể hiện, cũng có thể vì những lý do khác nữa, có thể cũng có người còn rụt rè, chưa quen hoặc không thích giao tiếp với báo giới... Cũng nên quan niệm đó cũng là một hiện tượng trong muôn vàn hiện tượng của đời sống xã hội mà thôi. Đương nhiên, những ĐBQH thường xuyên xuất hiện trước báo chí thì họ được công chúng biết đến nhiều hơn, họ trở nên nổi tiếng hơn. Tôi cũng nghĩ các phóng viên nên làm cuộc thử nghiệm, cũng nên chủ động tạo mối quan hệ rộng rãi và cởi mở hơn với tất cả các ĐBQH, đây cũng là mối quan hệ tương tác vì lợi ích chung của cử tri, của đất nước và dân tộc.
- Phó chủ nhiệm có nói, mối quan hệ giữa ĐBQH với báo chí là quan hệ tương tác, vì lợi ích chung của cử tri, của đất nước và dân tộc. Vậy báo chí có đóng góp như thế nào đến các hoạt động của nghị viện, thưa Phó chủ nhiệm?
Chúng ta đã có Luật Báo chí. Vị trí của báo chí luôn được đề cao trong đời sống chính trị - xã hội của dân tộc và đất nước. Hoạt động của QH cần sự hỗ trợ đắc lực của báo chí nhằm đưa tới người dân, các cộng đồng cử tri sự hiểu biết của mình về QH, về nội dung và ý nghĩa cũng như sự thực thi tích cực, đúng đắn luật pháp và những quyết sách của QH. Nhân ngày báo chí cách mạng Việt Nam, xin chân thành chúc các nhà báo, phóng viên – những chiến sỹ trên mặt trận dư luận – ngày càng thành công trong sự nghiệp của mình.
- Xin cám ơn Phó chủ nhiệm!
T. Tâm thực hiện

Tuesday, June 21, 2011

20/06 Đại biểu Quốc hội rất cần báo chí

07:28 | 20/06/2011
ĐBQH rất cần báo chí. Qua báo chí, ĐBQH nắm bắt được rất nhiều thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, tình hình mỗi địa phương. Báo chí cũng là nơi phản ánh rất nhiều tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và như vậy cũng có thể coi báo chí như là một kênh tiếp xúc cử tri gián tiếp của ĐBQH.
Thêm nữa, khi cần nghiên cứu sâu về một vấn đề nào đó, ĐBQH có thể trông cậy báo chí như là một nguồn thông tin phong phú và bổ ích, như là một người bạn tâm giao và cao hơn, nhiều khi như là một người thầy. Khi tham gia các hoạt động của QH, nhất là khi tham gia thảo luận tại các Kỳ họp QH, tôi đều nghiên cứu, sử dụng những thông tin trên báo chí. Báo chí giúp tôi nắm bắt được cuộc sống một cách toàn diện và đa chiều hơn, tiếp xúc được nhiều hơn với thực tiễn sinh động, phong phú.
Nhân dân cũng rất cần báo chí. Tuy nhiên ở đây tôi chỉ đề cập  tới cử tri – những người bằng lá phiếu của mình bầu ra ĐBQH. Theo luật pháp, QH có quyền giám sát tối cao và ĐBQH tham gia vào việc thực hiện thẩm quyền đó. Nhưng ai giám sát QH và ĐBQH? Đó chính là nhân dân, là cử tri. Sự giám sát của cử tri qua nhiều kênh, trong đó có một kênh rất quan trọng là báo chí. Qua báo chí, cử tri biết được hoạt động của ĐBQH, biết quan điểm, suy nghĩ của ĐBQH; qua đó đánh giá hoạt động của ĐBQH, biểu thị sự đồng tình ủng hộ hoặc không tán thành, thậm chí phản đối. Người ĐBQH phải tiếp nhận, phân tích, sàng lọc những thông tin đó để bổ sung, điều chỉnh, để làm tốt hơn nhiệm vụ người đại biểu nhân dân của mình.
Ở Thái Nguyên,, ngay từ đầu nhiệm kỳ QH khóa XII, Đoàn ĐBQH tỉnh đã phối hợp với báo, đài địa phương có chuyên mục “ĐBQH và HĐND với cử tri”. Chúng tôi cũng có trang Web riêng “Đại biểu dân cử Thái Nguyên” nên có thể nói, báo chí ở địa phương đã hỗ trợ, giúp đỡ chúng tôi rất nhiều để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình. Với cá nhân, tôi luôn gắn bó, quý mến và trân trọng báo chí. Trong cuộc đời công tác của mình, tôi đã có thời gian làm Giám đốc - Tổng biên tập Đài Phát thanh truyền hình Thái Nguyên. Tôi thường xuyên đọc báo và rất mừng vì báo chí của chúng ta ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Hoạt động của QH và ĐBQH, nhất là trong các kỳ họp của QH luôn được báo chí quan tâm và phản ánh kịp thời. Tuy nhiên, nhiều tờ báo mới tập trung phản ánh hoạt động của QH và ĐBQH tại các kỳ họp, còn giữa 2 kỳ họp thì vẫn ít thông tin. Vì giữa 2 kỳ họp, QH và ĐBQH không hề ngừng, nghỉ mà còn rất nhiều hoạt động khác. Trong kỳ họp, nhiều báo tập trung phản ánh những phiên họp toàn thể tại hội trường, chưa quan tâm phản ánh thảo luận tại tổ mà tôi nghĩ thảo luận tổ rất hay vì có nhiều đại biểu tham gia phát biểu, nhiều ý kiến rất thẳng thắn và trực diện.
Nghị trường QH có những vấn đề nóng và cả những vấn đề mang tính chất nhạy cảm. Việc có đưa những vấn đề đó lên báo chí hay không, điều đó nằm trong nguyên tắc nghề nghiệp báo chí. Còn với cá nhân tôi, dù báo chí có hỏi tôi những vấn đề nhạy cảm hay không nhạy cảm thì tôi vẫn có thể trả lời trong khả năng hiểu biết và chính kiến của mình. Trong nhiệm kỳ vừa rồi, tôi đã được các nhà báo hỏi về khai thác bauxite ở Tây Nguyên, về mở rộng địa giới thủ đô Hà Nội, về đánh giá trả lời chất vấn của một số thành viên Chính phủ... tôi đều trả lời theo nhận thức và suy nghĩ, quan điểm của mình.
Đỗ Mạnh Hùng
Phó trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Nguyên
L. Hiển ghi

20/06 Báo chí là cầu nối Đại biểu Quốc hội với nhân dân

07:30 | 20/06/2011
Báo chí phản ánh khá chân thực nhiều góc cạnh của đời sống. Đây là một trong những kênh thông tin đầu vào rất quan trọng của các đại biểu dân cử, đặc biệt là ĐBQH vì ĐBQH là người đại diện cho nhân dân cả nước nhưng không phải lúc nào đại biểu cũng có thể sâu sát được những vấn đề của người dân ở địa phương khác.
Nhờ báo chí, dù là ĐBQH ứng cử ở An Giang và hoạt động chủ yếu ở các tỉnh Nam bộ, tôi vẫn có thể biết được đời sống của người dân Hà Nội, Cao Bằng, Hà Giang như thế nào, người dân ở những địa bàn đó đang quan tâm đến vấn đề gì, mong muốn điều gì. Những năm gần đây, báo chí cũng đã tích cực phản ánh các hoạt động của QH, các cơ quan của QH và ĐBQH đến đông đảo cử tri cả nước, góp phần làm cho tiếng nói của QH, các cơ quan của QH và các ĐBQH đến gần với cử tri hơn. Báo chí góp phần làm cho QH, các ĐBQH và cử tri cả nước thấu hiểu nhau nhiều hơn.
Báo chí vừa là người bạn thân thiết của ĐBQH vừa tạo áp lực buộc các ĐBQH phải làm tốt nhiệm vụ của mình. Nhiều ĐBQH đã thấy được vai trò, sức mạnh của báo chí và sử dụng các thông tin của báo chí phục vụ có hiệu quả cho hoạt động của mình. Chẳng hạn các Phiên họp toàn thể của QH thì không phải ĐBQH nào cũng có cơ hội để phát biểu quan điểm của mình. Hay do thời gian phát biểu của mỗi đại biểu có giới hạn nên có vấn đề đại biểu chưa tán thành, muốn tiếp tục tranh luận tại diễn đàn của QH cũng rất khó. Vì thế, đại biểu có thể bày tỏ quan điểm về những vấn đề này thông qua báo chí. Hay các Phiên thảo luận tổ, tôi chỉ có thể biết được quan điểm của các đại biểu ở Tổ mình chứ sao có thể nắm được hết nội dung thảo luận tại các tổ khác? Nhưng nhờ có sự tham gia tích cực của báo chí, tôi có thể biết được quan điểm của những đại biểu khác như thế nào. QH Khóa XII vừa qua có những dự án hoặc vấn đề rất phức tạp trình QH cho ý kiến như dự án đường sắt cao tốc Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh hay sự việc xảy ra tại Vinashin. Báo chí đã cung cấp rất nhiều thông tin bổ ích cho các ĐBQH, từ ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, kinh nghiệm thế giới đến ý kiến của các ĐBQH, dư luận cử tri... Điều này giúp ĐBQH có cái nhìn đa chiều hơn và cân nhắc, quyết định thận trọng hơn. Cũng có nghĩa là chất lượng các quyết đáp của QH cũng sẽ tốt hơn.
Có người hỏi tôi là, sao hay trả lời phỏng vấn của báo chí thế? Có sợ những câu hỏi nhạy cảm không? Tôi đã cười và trả lời rằng, không có vấn đề nhạy cảm mà chỉ có cách đặt vấn đề nhạy cảm thôi. Có những vụ việc mà qua cách đặt vấn đề của một vài phóng viên đã trở nên rất nhạy cảm như vụ việc của Vinashin chẳng hạn. Vừa qua, tôi thấy, một số ĐBQH cũng không hài lòng lắm khi bài phỏng vấn của mình được đăng lên. Có đại biểu than trời ơi, tôi nói góc độ này mà sao báo chí lại đưa như vầy nè. Thế là khó cho đại biểu rồi. Dĩ nhiên đây chỉ là hiện tượng thôi. Đại biểu cũng cần có kỹ năng xuất hiện trên báo chí, chỉ nên nói những vấn đề mình thực sự am hiểu và nói phải kín kẽ. Song các phóng viên cũng cần làm cho đại biểu tin tưởng hơn để họ sẵn sàng bày tỏ những quan điểm, ý kiến của mình. Các phóng viên, nhất là phóng viên nội chính, ngoài khả năng viết, nắm bắt vấn đề, sự nhạy cảm cần thiết của một người làm báo, tôi nghĩ cần am hiểu tổ chức bộ máy nhà nước, quyền và trách nhiệm của từng cá nhân trong bộ máy. Khi hiểu đúng những vấn đề này thì cách nhìn nhận, đánh giá các sự kiện sẽ đúng hơn, hợp lý hơn và sẽ dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội đúng đắn hơn.
Nhiệm kỳ QH Khóa XII, báo ĐBND được UBTVQH nâng cấp thành báo loại I; trở thànhTiếng nói của QH, Diễn đàn của ĐBQH, HĐND và cử tri. Điều này có ý nghĩa lớn lắm. Lần đầu tiên, chúng ta có một cơ quan ngôn luận đường hoàng, đĩnh đạc của QH. Với tôi, Báo ĐBND như một cẩm nang, là một người bạn thân thiết trong quá trình hoạt động. Những thông tin của Báo ĐBND chính thống, đĩnh đạc, hấp dẫn độc giả và nhất là không có những thông tin theo kiểu chộp giật. Tôi nghĩ làm được điều này không phải là dễ. Báo ĐBND theo sát các hoạt động của QH, có những bài viết rất sâu sắc về các dự án Luật, các chuyên đề giám sát của QH; nhiều bài viết gợi mở cho ĐBQH rất nhiều ý tưởng thú vị, làm cơ sở để đại biểu đào sâu nghiên cứu, đóng góp cho QH. Không biết tôi có chủ quan không nhưng qua những bài viết, những bài phỏng vấn ĐBQH được đăng tải trên Báo ĐBND, tôi thấy các bạn đã góp phần quan trọng vào việc làm cho người dân tin yêu hơn ở cơ quan quyền lực nhà nước tối cao, tin yêu hơn ở các ĐBQH, ở một chừng mực nào đó, các bạn khiến cho chính chúng tôi  cũng thấy yêu nghề đại diện cho dân của mình hơn và có trách nhiệm hơn. Tất nhiên, về tính thời sự, phản ánh nhanh chóng những vụ, việc xảy ra ngoài cuộc sống thì Báo ĐBND chưa bằng các báo khác. Thế mạnh của Báo ĐBND là khai thác những vấn đề vĩ mô, những vấn đề thuộc về bản chất của đời sống, của việc thực hiện quyền lực của QH, Chính phủ và HĐND các cấp... Song, tôi nghĩ cũng nên dành sự quan tâm cho các vấn đề cụ thể hơn; tăng liều lượng các bài viết về việc thực hiện lời hứa của ĐBQH với cử tri...
Nhân ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, tôi mong báo chí nói chung, Báo ĐBND nói riêng tiếp tục nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn, nâng cao chất lượng các bài viết để báo chí phát huy được sức mạnh đối với xã hội mà như người ta nói là báo chí là quyền lực thứ tư. Báo chí cần làm tốt công tác định hướng dư luận xã hội. Khi một vấn đề xảy ra thì dư luận cũng sẽ có người đồng tình, có người không. Những người làm báo cần thấy được vai trò của mình trong đời sống xã hội để có trách nhiệm hơn đối với mỗi thông tin được đăng tải.
Lê Thị Dung
Phó trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH An Giang
B. Long ghi

Sunday, March 27, 2011

27/03 Nhà báo Nhật viết về chiến tranh VN qua đời


Thứ Bảy, 27/03/2010, 11:30 (GMT+7)
TTO - Nhà báo Minoru Omori, nhà báo Nhật Bản nổi tiếng với các bài viết về chiến tranh Việt Nam, đã qua đời do bệnh viêm phổi, thọ 88 tuổi.
Nguồn tin từ gia đình nhà báo Omori cho biết ông mất ngày 25-3 tại một bệnh viện ở nam California (Mỹ) sau một thời gian điều trị.
Bài viết và hình ảnh về nhà báo Omori đăng trên Kyodo News
Theo hãng tin Kyodo News, Omori đã chứng tỏ mình là một nhà báo xuất sắc khi còn là phóng viên báoMainichi Shimbun. Năm 1960, ông được trao giải thưởng Vaughn Prize (hiện gọi là Vaughn-Ueda Prize), giải thưởng vinh danh các nhà báo Nhật Bản vì có những đóng góp lớn trong các vấn đề quốc tế.
Năm 1965, ông được nhận giải thưởng của Hiệp hội các nhà biên tập và xuất bản báo chí Nhật Bản với loạt bài phóng sự nổi tiếng có tựa đề Đông Dương trong bùn và lửa.
Năm 1966, Omori rời tờ Mainichi Shimbun sau khi viết nhiều bài về chiến tranh Việt Nam, và các bài viết này bị Đại sứ Mỹ tại Nhật khi đó là Edwin Reischauer phản ứng.
Từ năm 1976, ông chuyển đến sinh sống tại California, Mỹ, hoạt động với tư cách một nhà báo tự do và là giảng viên Khoa lịch sử trường ĐH California.
MINH ANH (Theo Kyodo News)