Showing posts with label Thanglong. Show all posts
Showing posts with label Thanglong. Show all posts

Saturday, June 4, 2011

04/06 "Đường tới thành Thăng Long" lên sóng sau 3 lần chỉnh sửa


Thứ Bảy, 04/06/2011 07:21
(TT&VH) - Chiều qua (3/6), ông Trịnh Văn Sơn - GĐ công ty Trường Thành (đại diện nhà sản xuất), kiêm tác giả kịch bản phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long cho biết, sau 3 lần chỉnh sửa, phim sẽ chính thức lên sóng VTV3 từ ngày 30/6 tới vào các ngày thứ Năm, thứ Sáu hàng tuần. Như vậy, Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long sẽ “thế chân” bộ phim lịch sử Huyền sử thiên đô khi nó mới chỉ dừng ở tập 20. 
Những hình ảnh về bộ phim được hé lộ trước đây.

Năm 2010, khi vừa công bố trailer vài phút, phim truyền hình Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long đã gây tranh cãi gay gắt trong công luận. Lý do bởi một trong hai đạo diễn phim là người Trung Quốc, phim được quay gần như hoàn toàn ở Trung Quốc với hầu hết diễn viên quần chúng là người Trung Quốc... Theo quy định hiện hành, phim truyền hình phát sóng trên các kênh trong nước do đài truyền hình chịu trách nhiệm thẩm định. Tuy nhiên, vì công ty Trường Thành muốn hướng tới phát hành tại thị trường nước ngoài nên phim phải được Hội đồng quốc gia duyệt. Đến nay, sau 3 lần chỉnh sửa, trong đó phải cắt bỏ một số chi tiết hư cấu và giống Trung Quốc, phim đã được quyết định phát sóng.
Hoàng Lê

16/09/2010 Phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long (Bài 2): Nhìn từ bên ngoài


Thứ Năm, 16/09/2010 14:36
(TT&VH) - Trong khi bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long đang chờ quyết định cuối cùng của Hội đồng thẩm định trung ương, các diễn đàn trên mạng vẫn xôn xao ý kiến trái chiều. 

TT&VH ghi nhận những ý kiến của các nhà nghiên cứu, chuyên môn về bộ phim này.

“Nên chiếu thăm dò trong phạm vi hẹp” 

Đó là ý kiến của nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát. Bà cho biết: Tôi đã được xem trailer của Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long trên mạng Internet. Nếu gạch chéo hai gạch không cho nhà sản xuất chiếu là chấm hết. 

Nhưng xét một cách công bằng, trước hết cũng phải ghi nhận lòng thành của một doanh nghiệp tư nhân muốn góp tiếng nói nhân dịp Đại lễ. Chỉ có điều tấm lòng và sự dũng cảm nên ghi nhận, song có lẽ, nhà sản xuất không tinh lắm. 

Nhà sử học Dương Trung Quốc, GS Đinh Xuân Dũng, 
Nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát (từ trái qua phải)
Họ chưa sản xuất phim bao giờ, hoặc quá tự tin ở mình và sự hợp tác với đối tác nước ngoài. Đạo diễn Trung Quốc theo tôi không hiểu hết văn hóa, phong tục tập quán VN. Hoặc họ cốt làm sao cho hấp dẫn... Tình huống này cũng giống như đạo diễn ta đi “làm thuê” vậy. Người dân ở Hoành Điếm chuyên đóng vai quần chúng, đấy là nghề kiếm sống của họ. Không trách họ được, mà trước hết phải trách chính mình. Đáng lẽ nhà sản xuất phải có người trợ lý, hoặc người tinh tường để cũng cái áo ấy, mình thuê của họ, nhưng phải ra chất VN. Quan trọng nhất là phục trang và bối cảnh. Anh thuê của người ta nhưng phải sửa chữa cho phù hợp. Vì thế người cầm trịch phải nắm được văn hóa Việt để biến tấu nó đi. Cái thấy rõ ràng nhất là phục trang và bối cảnh thì phải chú trọng. Dù là dàn diễn viên Việt, mà mặc trong hình thức ấy thì “chết” rồi... 

Nhiều người tưởng sản xuất phim dễ. Nhưng cũng phải ở một cương vị nào đó, hiểu biết nào đó mới đảm đương được công việc nặng nhọc và rất phức tạp này. Nếu không giỏi thì phải có tiền mời nhiều ông cố vấn toàn tâm, toàn ý với dự án của mình... 

Trong quá trình quay của bộ phim này, báo chí có đưa tin, tôi có nắm được. Điều tôi nhận thấy là nhà sản xuất chưa nắm được những điều phức tạp của hoạt động này. Thật là đáng tiếc... 

Hiện giờ, phim mới chỉ được hơn chục thành viên Hội đồng duyệt xem. Vì thế theo thôi, giải pháp là nên chiếu thăm dò trong phạm vi hẹp với sự tham dự của các nhà sử học, đạo diễn điện ảnh, nhà báo... để họ cho ý kiến. 

“Bối cảnh đúng hoàn toàn với lịch sử là điều không tưởng” 

Đó là ý kiến của GS Đinh Xuân Dũng (UV thường trực Hội đồng LL-PB VHNT T.Ư). Ông nói: “Quả là điện ảnh Việt Nam chưa có sự chuẩn bị đầy đủ để có những bộ phim về lịch sử. Trong khoảng 20 năm Hàn Quốc có khoảng 1.000 phim lịch sử... 

Còn với Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long tôi nhận thấy chất Việt Nam độc đáo. Phim thể hiện sinh động, phản ánh trung thực với những nét cơ bản nhất bằng ngôn ngữ điện ảnh về một giai đoạn rất độc đáo của lịch sử dân tộc, giai đoạn Đinh, Tiền Lê và Lý với nhân vật trọng tâm là Lý Công Uẩn. 

Cảnh phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long
Tuy nhiên, bộ phim cũng đứng trước thách thức lớn, hạn chế khi chúng ta không có trường quay, không có đạo diễn thực sự đủ tầm cho phim quy mô lớn, không có lực lượng diễn viên đông đảo, thiếu thốn đạo cụ, trang phục... Có thể sử dụng trường quay, trang phục (may tại Trung Quốc)... thậm chí cả đạo diễn Trung Quốc song tính cách nhân vật, mối quan hệ của người Việt Nam trong phim giữ chuẩn. Và cái nữa cần nhấn là âm nhạc Việt trong phim... 

Tôi có thể kể ví dụ về một tác phẩm múa trước đây, kịch múa Xô Viết- Nghệ Tĩnh, tác phẩm đỉnh cao của nghệ thuật múa Việt Nam. Tác phẩm này thành công chính nhờ đạo diễn người Triều Tiên là Kim Hoàng dàn dựng. 

Bối cảnh đúng hoàn toàn với lịch sử là điều không tưởng. Song từ bộ phim này cũng gợi cho chúng ta thấy cần phải có một trường quay Việt Nam, ê-kíp làm phim lịch sử Việt Nam... Bởi dòng phim lịch sử Việt Nam trong tương lai cần được phát triển. Con người càng vươn lên hiện đại càng phải trở về cái gốc. Lịch sử Việt Nam giúp chúng ta có nhiều bài học. Nhân vật lịch sử của chúng ta độc đáo lắm, vĩ đại lắm...”. 

Chia sẻ với những người tái tạo lịch sử 

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng: “Những người ghi chép lịch sử nước mình hay các nghệ sĩ xưa chưa quan tâm đến phản ánh đời sống thường nhật mà thường chỉ ghi chép sự kiện và biến cố lịch sử. Những khoảng trống lịch sử này chính là mảnh đất màu mỡ để nghệ sĩ sáng tạo. 

Tôi có hỏi một số nhà làm phim Hàn Quốc, rằng một số phim của họ được khán giả VN yêu thích có trung thực với lịch sử không? Họ nói, các nhà làm phim quan tâm đến lịch sử và nguyên tắc sáng tạo của họ là để lại sau mỗi bộ phim vẻ đẹp của lịch sử, từ trang phục đến bối cảnh, tính cách và hành động của nhân vật. 

Tôi cho đó là điều ta cần học hỏi và hy vọng các nghệ sĩ bằng khám phá và sáng tạo có thể đóng góp cho lịch sử những giá trị nhất định. Ngay cả khi tìm ra sự thật cũng không thể nhân danh sự thật để bới móc tổ tiên mình vì cái đích cuối cùng khi tìm về lịch sử là đạo lý và bài học lịch sử. Hãy hàn gắn các đứt đoạn lịch sử bằng việc tôn trọng những gì đã biết và tìm tòi, bổ sung những điều chưa biết. 

Vì vậy, dư luận xã hội nên khuyến khích và chia sẻ với các nhà làm nghệ thuật nói chung và các nhà làm phim nói riêng khi họ tái tạo lịch sử”.

Hải Đông - Thu Hằng (ghi)

Bình luận (2)

FootBall
Mình rất đồng tình với ý kiến cửa nhà sử học Dương Trung Quốc "dư luận xã hội nên khuyến khích và chia sẻ với các nhà làm nghệ thuật nói chung và các nhà làm phim nói riêng khi họ tái tạo lịch sử" Có điều đó thì VN mới có nhiều phim LS hay và chât lưọng
Tu Do  (hahahahp@yahoo.com.vn) (11:34 17/09/2010)
FootBall
Kịch bản hay , diễn viên nổi tiếng ,kinh phí khủng chắc gì đã ra được phim hay. Đạo diễn giỏi đến mấy ( hoặc cố vấn của họ ) không hiểu sâu sắc văn hóa Việt nam thì làm sao được phim lịch sử Việt nam - chưa nói là làm hay?. Không nên xem nhẹ các yếu tố khác : trang phục , bối cảnh , lời thoại ...Ch1nh những cái đó lộ rõ nhất đẳng cấp của nhà làm phim . Suy cho cùng , khi xem thấy ngay ĐẤY LÀ PHIM LỊCH SỬ VIỆT NAM , còn có hay không lại phải tốn khá nhiều giấy mực .
Bá Lập  (nhaatsaanhanoi@gmail.com) (09:27 17/09/2010)

15/09/2010 Phim "Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long" (Bài 1): Phải chỉnh sửa những gì?


Thứ Tư, 15/09/2010 11:39
(TT&VH) - Khi trailer dài chưa đầy 3 phút và một số ảnh phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long xuất hiện trên mạng internet, bộ phim dài gần 900 phút này lập tức bị “soi” cực kỳ kỹ. “Người trong cuộc” - những người thực hiện và đã xem trọn vẹn 19 tập nói gì về bộ phim này? 

4 vấn đề phải “chỉnh sửa, xử lý” 

Đó là nhận xét được Hội đồng trung ương thẩm định phim truyện và lãnh đạo Cục Điện ảnh đưa ra. 

Cụ thể, Hội đồng này cho rằng: Các nhà làm phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long đã xây dựng được một bộ phim có tính chuyên nghiệp cao, hấp dẫn người xem, dàn diễn viên thể hiện xuất sắc ở tất cả các tuyến nhân vật, việc thể hiện nhân vật Lê Long Đĩnh đã được làm theo đúng góp ý trong văn bản giám định kịch bản. 

Cảnh trong phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long
Tuy nhiên, sau khi xem phim, Hội đồng cũng đề nghị: “Vì đa số các cảnh quay được thực hiện tại Trung Quốc, nên có thể dễ gây cho người xem có cảm nhận đây là một bộ phim truyền hình của Trung Quốc, một số chi tiết và lịch sử cần được tái hiện làm đúng với lịch sử để tránh phim mang dáng dấp dã sử của Trung Quốc như giám định kịch bản đã nêu. Đề nghị chỉnh sửa và xử lý một số vấn đề sau: 

1. Cắt một số cảnh quay quá quen thuộc của Trung Quốc dễ gây sự hiểu nhầm cho khán giả như cảnh vua đi lại ở cầu dích dắc trên mặt hồ, một số đại cảnh có đông diễn viên là người Trung Quốc, trang phục Trung Quốc, sửa lại một số lời thoại mang dáng dấp của phim dã sử Trung Quốc cùng một số lời thoại hiện đại. 

2. Bỏ bớt lời thoại của Lý Công Uẩn nói với vua Lê Hoàn về việc nhà Chu 800 năm hưng thịnh để lặp lại, cảnh đứng trước núi cao lại khen đây là thành Đại La. 

3. Một số vấn đề liên quan đến lịch sử cần sửa lại (phần này đã được góp ý trong văn bản giám định kịch bản là cần phải bám vào chính sử để thể hiện), như việc Lê Hoàn lên ngôi và cuộc kháng chiến chống quân Tống, sự kiện Lê Hoàn đánh Tống được ghi trong sử như một trong những trang oai hùng tại sông Bạch Đằng, Tây Kết nhưng trong phim lại đưa ra một địa danh không có thực là Chu Tước như vậy là sai với lịch sử. Câu nói Lê Hoàn ra lệnh cho quân sĩ ai đánh thì chém đầu, cẩm nang của sư Vạn Hạnh không cần đánh sau 21 ngày quân giặc tự động rút lui sẽ gây ra suy diễn, việc lập Quốc sư cho Vạn Hạnh, câu nói về con Lý Công Uẩn sau này đi thi sẽ đỗ Trạng Nguyên không hợp vì thời đó chưa có Trạng Nguyên. 

4. Chỉnh sửa lại phần kết, để làm sao thể hiện được đây là nhu cầu phát triển của nước Đại Cồ Việt cần có một kinh đô xứng tầm mà Lý Công Uẩn sáng suốt nhận ra, chứ không phải là bắt chước Trung Quốc”. 

“Những chỉnh sửa chỉ là tiểu tiết”? 

Ngày 14/9, TT&VH đã liên hệ với nhà sản xuất bộ phim này - Công ty Truyền thông Trường Thành. Ông Trịnh Văn Sơn (Giám đốc công ty) cho biết, ông là người chấp bút cho kịch bản và cố vấn là nhà biên kịch Trung Quốc, Kha Chương Hòa. Sau hơn nửa năm trời ông Sơn cùng ê-kíp làm phim “ăn nằm, ở dề” tại trường quay Hoành Điếm (Trung Quốc) và gần một tháng thực hiện khoảng 30% cảnh quay tại VN, ông khẳng định, kịch bản bám sát các sự kiện lịch sử được phản ánh trong sử sách, đặc biệt là cuốn Đại Việt sử ký toàn thư và tiếp thu ý kiến của Hội đồng thẩm định kịch bản của Cục Điện ảnh VN trước khi đưa vào sản xuất. 

Ông Sơn cũng cho phóng viên xem bộ hồ sơ chi tiết về các mẫu phác thảo trang phục và phác thảo các cảnh quay lên tới hàng chục cuốn. 

“Để thực hiện bộ phim này, chúng tôi đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, tham vấn các chuyên gia đầu ngành trong nước và mời hợp tác những người có uy tín ở từng lĩnh vực chuyên sâu. Chẳng hạn, về phục trang, GS-TS Đoàn Thị Tình (Trung tâm Bảo tồn phát huy nghệ thuật dân tộc) đã chụp ảnh các tượng thờ, tượng điêu khắc và tượng đá ở đền chùa VN và trên cơ sở đó, vẽ phác thảo từng trang phục. Ở mỗi bản vẽ, chúng tôi đều có sự so sánh, đối chiếu với các trang phục cùng thời của Trung Quốc và nhận ra các trang phục VN có nhiều điểm khác nếu không muốn nói là đẹp và cầu kỳ hơn. Cũng có những trang phục về cơ bản giống nhau nhưng họa tiết hay hoa văn trên thân áo, ống tay khác hẳn. Các mẫu thiết kế bối cảnh do hoạ sĩ Phan Cẩm Thượng phác thảo, cùng với hoạ sĩ người Trung Quốc thống nhất và thường phải có ba phương án đưa ra để chọn bối cảnh hay trang phục hợp lý hơn cả”, ông Sơn nói. 

Ông Sơn khẳng định những chỉnh sửa chỉ là tiểu tiết. Ông cùng các nhà làm phim đã sớm thực hiện theo yêu cầu của hội đồng và hy vọng phim sẽ sớm ra mắt khán giả. 

Bài 2:  Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long: Nhìn từ bên ngoài

Hải Đông - Thu Hằng




Bình luận (7)

FootBall
luôn luôn ủng hộ phim này!mặc dù chưa xem!
nguyễn thanh hải  (lies.inlove@yahoo.com) (07:35 16/04/2011)
FootBall
Những gì là lịch sử chúng ta nên thừa nhận, mất lịch sử là một thì mất cột nguồn
ABC  (dfajl@yahoo.com.vn) (12:14 02/03/2011)
FootBall
phim lịch sử Việt Nam thật ít trong khi bề day lịch sử của chúng ta dã trải qua hơn 4000 năm thật đáng tiếc!!!!!
Phung Van Toan  (conthuyenlacloi_tinhyeu_9260@yahoo.com) (10:40 26/01/2011)
FootBall
Bạn nói thì nghe hay lắm!Chứ nếu đóng phim ở phim trường Việt Nam thì lấy đâu ra?. Lúc đó bối cảnh xấu thì lại chê. Chính thế mới phải sang Trung Quốc. Nhưng ở đây ta chỉ mượn địa điểm thôi. Chứ trang phục, diễn viên, diễn xuất ... vẫn là của Việt Nam đấy chứ. Cùng lắm ta có nhờ ông đạo diễn Trung Quốc góp sức. Vì đạo diễn cổ trang ở VN còn yếu kém. Như thế này thì không thể gọi là mất văn hóa được. Không những thế,qua bộ phim này,đạo diễn VN còn học hỏi được thêm kinh nghiệm. Bạn đừng nói là học để sau này bắt chước mà làm theo TQ nhá. nhìn mấy phim Hàn Quốc đi. Họ cũng phải học cách làm phim của TQ đấy. Có khác chăng là HQ đầu tư xây dựng cung điện,trang phục hoành tráng hơn VN thôi.Cũng phải vì họ là nước phát triển. Còn chúng ta không có nhiều vốn đầu tư đi mượn địa điểm cũng không nên chê trách.Hơn nữa cả bộ phim ngốn gần 100 tỉ đồng. Đóng phim rồi vất vào trong kho có phải phí không? Vừa phí tiền vừa tốn công sức.Theo tôi thấy cứ chiếu phim để dân ta coi. Dù sao phim cũng bám sát lịch sử, con cháu ta xem không bị mất gốc đâu.
Nguyen Phuong Anh  (pamychiki@yahoo.com) (11:06 14/11/2010)
FootBall
Qua' Dung' nhung minh thay cung~ hay lam' ma
nguyen di tung  (nhocxxcm@yahoo.com.vn) (06:54 04/10/2010)
FootBall
Là một sinh viên, Mặc dù là bản thân tôi cũng chưa được xem trọn bộ phim. Nhưng qua giới thiệu tôi cũng được biết chút ít về bộ phim. Tôi cũng thấy không hài lòng về bộ phim. chúng ta kỉ niệm đại lễ ngàn năm Thăng Long thì những gì chúng ta muốn thể hiện phải là của chúng ta. Dân chúng chắc cũng không chào đón một sự kiện lớn của dân tộc mình trong bối cảnh như thế. Tôi mong mọi người xem xét lại có nên cho ra mắt công chúng bộ phim này hay không? Người Việt Nam phải biết lịch sử của mình nhưng là trong bối cảnh của đát nước mình, nhân dân mình....
Nguyễn Thị Hiền  (beconhocnhay@gmail.com) (12:55 30/09/2010)
FootBall
Trong nhiều ngày qua, cư dân mạng và rất nhiều người dân đều bày tỏ thái độ không đồng tình với bộ phim "Lý Công Uẩn-Đường tới Thăng Long". Hầu hết, họ cho rằng bộ phim mang văn hoá Trung Quốc nhiều hơn văn hoá Việt. Nếu quả vậy thì thật đáng buồn. Chúng ta làm Đại lễ, cái cốt yếu là văn hoá Việt, sự hình thành và phát triển cội nguồn, hào khí sông núi Việt chứ không phải sự hoành tráng gì đấy, nhất là sự hoành tráng khi đi vay mượn văn hoá. Tổ tiên Đại Việt ta đã đổ biết bao xương máu, trí tuệ, văn hoá…để có một nền văn hoá riêng biệt Việt Nam như ngày hôm nay. Lại nhớ khi xưa, Bác Hồ không đồng tình quan điểm với một số chí sĩ yêu nước, nhờ ngoại ban để giải phóng dân tộc, nhưng đó mới chỉ là vấn đề chính trị, mất nước, chúng ta vẫn còn cơ hội giành lại độc lập, nhưng mất văn hoá, mất cội nguồn liệu chúng có giành lại được không?. Bộ phim "Lý Công Uẩn-Đường đến Thăng Long" với những người dân như chúng tôi chưa được xem trọn bộ, chỉ vài nét qua quảng cáo, qua hình ảnh trên mạng mà thôi. Vì thế tôi cũng chưa rõ lắm về vấn đề văn hoá Trung Hoa trong bộ phim cho nên không khẳng định gì nhiều. Với những người làm phim, những người có trách nhiệm, nhất là Bộ văn hoá và những cơ quan liên quan, hãy cùng nhau ngồi lại, bàn bạc tìm ra phương giải quyết thích hợp nhất. Kinh phí làm phim là của dân, văn hoá trong phim cũng là của dân, cả hai không thể mất. Song, phải đặt văn hoá dân tộc Việt lên hàng đầu, tuyệt đối không thể mất văn hoá. “Đừng để có tội với một ngàn năm sau”
phan quoc khuong  (khuongquocphan@yahoo.com) (03:2

Wednesday, June 1, 2011

01/07/2009 Về mạng lưới chợ Hà Nội xưa và nay


THỨ TƯ, 01 THÁNG 7 2009 14:18 NGUYỄN VINH PHÚC


Hà Nội xưa gọi là Kẻ Chợ, có nghĩa là vào thời đó Hà Nội – chính tên là Thăng Long – là nới hội tụ các ngành nghề, là nơi họp chợ, đáp ứng nhu cầu của Kinh đô là thị trường to nhất nước ta ngày ấy. Mà chợ Thăng Long thì bao gồm một mạng lưới thương nghiệp lớn nhỏ rải rác khắp đô thanh. Mật độ chợ dày đặc nhất là chốn mà nay ta gọi “khu phố cổ”. Chợ ở Hà Nội cổ đã xuất hiện từ rất sớm. Năm 1035, Vua nhà Lý “mở chợ Tây nhai với hành lang dài” (ở vào quãng chợ Ngọc Hà). Cũng thời gian nay, “Vua Thái Tông cho mở chợ về Cửa Đông (quãng phố Hàng Buồm ngày nay), hàng quán chen chúc sát đến bên đền Bạch Mã, rất huyên náo”.

Chợ Đồng Xuân 
Trong thế kỷ XVII – XVIII, mạng lưới chợ ở Thăng Long đã phát triển mạnh mẽ. Vì là nơi đô hội, tụ tập đông người, có nhiều phố xá nên mật độ các chợ ở đây dầy đặc hơn ở các nơi khác, nhất là tại khu 36 phố phường buôn bán tập trung. Riêng các chợ lớn ở Thăng Long có nộp thuws da trâu, Phan Huy Chú đã kể ra 8 chợ. Đó là các “chợ Cửa Đông, chợ Cửa Nam, chợ Huyện, chợ Đình Ngang, chợ Bà Đá, chợ Văn Cử, chợ Bác Cử và chợ Ong Nước”. Đến thế kỷ XIX, Đại Nam thống nhất chí ghi thêm các chợ Mới (quãng phố Hàng Chiếu), chợ Đông Thành (quãng phố Hàng Vải – hàng Gà), chợ Yên Thọ (Ô Cầu Dền), chợ Yên Thái (Bưởi).
Địa điểm họp chợ - cũng như ở các địa phương khác, các chợ ở Thăng Long – Hà Nội thường được lập nên ở những nơi công cộng, thuận tiện cho việc giao thông đi lại, trao đổi buôn bán, nhìn chung chợ thường được họp ở các cửa ô, cửa thành và bờ sông, bờ kênh.
Cửa ô là nơi dân chúng thuộc các làng xã phụ cận mang hàng hóa vào Kinh thành trao đổi với khối dân chúng nội thị.
Cửa thành là nơi ra vào, trao đổi thường xuyên giữa khối quan liêu – quân sĩ trong hoàng thành và khối bình dân ngoài phố xá. Hàng ngày, các gia nhân, nha lại của vua quan đã ra ngoài thành mua sắm một khối lượng lớn các thức ăn, vật phẩm cần thiêt. Vì thế chính ở cạnh các của thành, đã sớm xuất hiện các khu chợ đông đúc, sầm uất. Chợ Cửa thành xưa nhất của Thăng Long có khả năng là chợ Cửa Tây, thành lập từ đời Lý. Chợ Cửa Đông cũng là một chợ cổ và sầm uất, vì cửa Đông Môn (thời Lý Trần là của Đông Hoa) trực tiếp ăn thông ra khu vực buôn bán của Kinh thành (ở vào quãng Hàng Đường – Hàng Buồm bấy giờ). Thời nhà Nguyễn, Hàng Vải, Hàng Gà có chợ bán thực phẩm có tên là Hàng Gà. Chợ Cửa Nam là một chợ lớn của Thăng Long – Hà Nội, vì Cửa Nam (thời Lê là Cửa Đại Hưng) là nơi ra vào chính của vua chúa, quan lại và “tất cả những ai có việc phải đi đến Hoàng Thành”.

Chợ Cửa Nam 
Hai bên bờ sông Tô Lịch cũng là nơi họp chợ đông đúc, buôn bán tấp nập. Các chợ mọc lên hai bên bờ sông Tô, một số là chợ đặc sản, như các chợ Gạo (đầu cửa sông Tô), chợ Hàng Cá. Chợ cầu Đông (quãng ngã tư Hàng Đường – Chợ Gạo ngày nay) là một chợ bên bờ sông Tô, nổi tiếng của kinh thành, đã đi vào nhiều câu ca dao. Chợ Bạch Mã (tên gọi khác của chợ Cửa Đông) liên sát đó (quãng phố Hàng Buồm ngày nay), họp sát bờ sông Tô, trên bến dưới thuyền, hoạt động buôn bán rất tấp nập, đặc biệt là các phú thương Hoa Kiều.
Phạm Đình Hổ nhớ lại quang cảnh chợ phiên Bạch Mã cuối thể kỷ XVIII: “… Là một chợ buôn bán tấp nập huyên náo. Những quân trộm cắp hay thừa cơ cướp giật, có khi thò tay vào túi người ta móc lấy hết cả. Có khi chúng cố ý làm chợ ồn ào, đổ xô nhau mà chạy để rồi cắp bọc quần áo người ta hoặc khuân đồ vật hàng hóa”. 
Ngoài những nơi kể trên (cửa ô, cửa thành, bờ sông) còn phải kể đến một số lượng lớn các chợ lưu động, không tên của Thăng Long – Hà Nội, ở đó những người buôn bán rong, vặt vãnh, đã dọc theo các đường phố, những ngã ba, ngã tư, những khoảng đất trống, tóm lại là ở tất cả mọi nơi có người qua lại, ngồi bán hàng không cần hàng quán. Đây là cảnh một chợ loại đó và những năm 80 của thế kỷ XIX: “Việc thành lập một cái chợ không tốn kém gì cả, mà chỉ cần đến thời tiết tốt. Người nông dân ngồi ngay xuống đất, trên đường phố, hàng hóa để trong một vuông vải hay trong một cái làn, thậm trí trên đất bụi, nếu như họ không sợ làm hư hỏng loại hàng đó”.
Thời gian họp chợ: ở Thăng Long, việc chợ họp theo chu kỳ có lẽ đã có từ lâu lắm. Trần Cương Trung (sứ Trung Quốc sang Việt Nam đời Trần) đã có nhận xét là: “chợ cứ 2 ngày họp một lần”.
Tuy nhiên, khi xét cụ thể về thời gian họp chợ ở Thăng Long – Hà Nội thì các ý kiến không thống nhất. Dampier cho rằng: “Ở Kẻ Chợ, chợ họp trong tất cả mọi ngày”. Trong khi đó A.Rhodes, Baron, và Marini lại chép là “chợ ở Kẻ Chợ mỗi tháng có 2 phiên” (ngày rằm và mùng một). Còn Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút thì cho rằng ở Kinh kỳ “phiên chợ là các ngày 1, 6, 11, 14, 15, 21, 26, 30” (một tháng 8 phiên).

Phố Hàng Bạc 
Các mặt hàng buôn bán: chợ ở Thăng Long – Hà Nội là một loại chợ lớn trong toàn quốc, cho nên số lượng các mặt hàng buôn bán cũng rất lớn và phong phú. Hầu như tất cả mặt hàng trong và ngoài nước đều bầy bán ở đây.
Hàng nông sản: Do vị trí thuận lợi, đầu mối của các trục giao thông thủy bộ, do mật độ dân cư đông đảo và sự có mặt thường trực của một bộ máy hành chính – quân sự to lớn với những nhu cầu tiêu thụ hàng ngày của nó, một khối lợn nông sản khổng lồ từ các địa phương lân cận đã đổ về các chợ ở Thăng Long – Hà Nội để rồi được bán buôn bán lẻ trực tiếp cho người tiêu thụ. Đó là gạo, nông hải sản, thực phẩm, rau quả…
Hàng thủ công nghiệp: So với các mặt hàng nông sản thì hàng thủ công nghiệp không chỉ bầy bán tại các chợ mà còn bán nhiều tại các phố dành riêng cho từng mặt hàng, như các phố Hàng Đào bán tơ lụa, Hàng Ngang bán xiêm áo, Hàng Bạc bán đồ trang sức, kim hoàn, Hàng Đồng bán đồ đồng, phó Hài Tượng bán giầy dép, phố Bát Sứ bán đồ sứ… Tuy nhiên, đối với quảng đại quần chúng bình dân và nhất là đối với những người nông dân các vùng phụ cận kéo về Kẻ Chợ - Hà Nội trong các ngày phiên chợ thị họ vẫn thích mua trực tiếp các loại hàng đó ở ngay tại chợ, nó tiện lợi và cũng có thể giá rẻ hơn. Trước hết đó là các dụng cụ hàng ngày của người nông dân như cầy cuốc, nối niêu bát đĩa, các loại hàng vải vóc thông dụng mà quần chúng gọi là hàng tấm, các loại thuốc men cần dùng. Một số chợ buôn bán tập trung các mặt hàng đặc sản như chợ Hàng Tơ ở Hàng Đào buôn bán tơ lụa, chợ Bưởi chuyên bán các loại giấy sản xuất ở Yên Thái, Hồ Khẩu.
Phương thức mua bán: ở Việt Nam trung đại, từ lâu chợ vẫn là một nơi trao đổi tiếp xúc toàn diện giữa các cộng đồng người của các vùng lân cận, về các mặt kinh tê, văn hóa, lối sống và thông tin đại chúng. Ở Thăng Long – Hà Nội, chợ không những là một nơi trao đổi và tiếp xúc giữa các tầng lớp người trong phạm vi nội bộ đô thị và chủ yếu là một trung tâm trao đổi tiếp xúc giữa Kẻ Chợ và các vùng phụ cận. Nó là một sự đối ngoại thường trực, toàn diện giữa thành thị và nông thôn.
Nông dân các vùng phụ cận mang sản vật nông nghiệp hoặc thủ công nghiệp của mình vào bán tại các chợ, rồi dùng tiền đó mua sắm một ít các vật dụng cần thiết cho công việc sản xuất vào đời sống hàng ngày. Ở chợ Thăng Long – Hà Nội còn có một loại người buôn bán chuyên nghiệp, bán hàng trong các lều quán dựng sẵn, nhưng phần lớn cũng chỉ là những người buôn bán nhỏ hoặc trung bình.
Đa số những người đi chợ mua bán tại các chợ ở Thăng Long – Hà Nội là giới phụ nữa. Các lái buồn và giáo sĩ phương Tây khi đến Việt Nam đều nhận xét là phụ nữ Việt nam nói chung và phụ nữ Kẻ Chợ nói riêng đã có một “năng khiếu đặc biệt” về buôn bán. Marini đến Kẻ Chợ có nhận xét là: “những người phụ nữ ở đây mải mê với thương mại và họ không ngừng bận rộn về việc bán, mua”. Du khách Trung Quốc Phan Đỉnh Khuê đến Kẻ Chợ năm 1688 thì cho là “việc buôn bán ở Kẻ Chợ bao giờ cũng do giới phụ nữ đảm nhiệm”. Cuối thể kỷ XIX, Dumoutier quan sát tỉ mỉ hơn những phiên chợ ở Hà Nội, thấy là “cứ trong 100 người đi chợ, người ta đếm được 84 người đàn bà con gái”.
  • Ảnh bên : Phương án cải tạo chợ Hàng Da 
Đến thời Pháp thuộc, các chợ vẫn được duy trì, xây dựng cầu chợ hẳn hoi, để gom các chợ nhỏ vào thành một chợ lớn. Như chợ Đồng Xuân làm năm 1896 là gồm các chợ Bạch Mã, chợ Cầu Đông. Chợ Hàng Da và là gom các chợ Hàng Gà, chợ Đông Thành Thị. Chợ Mơ là gom các chợ Yên Thọ (Ô Cầu Dền) chợ Trung Hiện, Chợ Cửa Nam là gom các chợ Cửa Nam, Đình Ngang, Ong Nước… cũng thời này có thêm loại chợ Đuổi. Số là các chợ lớn cứ sẩm tối, là Khán chợ đuổi hết người ra khỏi khuôn việc chợ để khóa cổng. Những người bị đuổi này liền tụ tập ở gần đó. Vả lại dân ngheo cũng nhiều người lúc ấy mới đi làm về, cũng tìm tới chợ Đuổi để mua hàng. Ban đầu họ họp ở đầu Chợ Đuổi (tức phố Tuệ Tĩnh nay) sau do thành phố mở mang, lính cấm dồn  chợ về chỗ ngoại ô Vân Hồ. Ngày nay các chợ cũ vẫn hoạt động, song dân chúng muốn mua bán thuận tiện nên sinh ra các thứ chợ cóc bên vỉa hè, họp chớp nhoáng và buổi tan tầm (có nơi chợ cóc mà họp cả ngày). Chung tôi cho rằng sự tồn tại chợ cóc là một hình ảnh không văn minh, mang tính tiểu nông manh mún. Song giải quyết không dễ, vì những người bán hàng ở đây đại bộ phận là dân nghèo ngoại ô, triệt để phá chợ cóc thì ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của họ (thực tế là thành phố đã nhiều phen dẹp chợ cóc song chỉ độ 1, 2 ngày đâu lại hoàn đấy). Lại thêm thời gian của người mua, đa số là công nhân viên, đi làm về, sà vào vỉa hè mua mớ rau, con cá cũng rất tiện, đỡ phải gửi xe lích kích, tốn tiền. Cách ngôn Pháp có câu: La civilisation se voit sur la route (văn minh thể hiện trên đường phố) thì rõ Hà Nội chưa văn minh. Đó là một vấn nạn.
Tôi còn một ý nghĩ nữa về việc cải tạo nâng cao tầng các chợ như Cửa Nam, Hàng Da. Quãng chợ toàn là đương hẹp, phố phường đông đúc quá rồi. Nay các chợ đó thành văn phòng, siêu thị, xe cộ ra vào rầm rập suốt ngày thì ở ngã tư Nguyễn Khuyến – Lê Duẩn – Hai Bà Trưng – Cửa Nam sự đi lại sẽ ra sao? Cả ngã tư Nguyễn Quang Bích – Đường Thành – Hàng Da cũng ăm ắp ô tô ra vào siêu thị văn phòng và cả vào chợ Hàng Da mới thì giao thông sẽ ra sao? Tôi chưa hình dung nổi.
Nguyễn Vinh Phúc 
(Bài tham luận tại Hội thảo "Hà Nội : thành phố thân thiện và sống tốt cho cộng đồng" (Hanoi : a Livable City for all) diễn ra trong hai ngày 1-2/7/2009) 

Monday, October 11, 2010

04/10 Khánh thành công trình Cung trí thức TP Hà Nội

Sáng 4/10, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đã gắn biển công trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội cho công trình Cung trí thức thành phố Hà Nội.

Cung trí thức thành phố Hà Nội được khởi công từ ngày 30/6/2007, tại địa điểm xây dựng Khu đô thị mới Cầu Giấy, quận Cầu Giấy (Hà Nội) với hình thức đầu tư xây dựng chuyển giao (BT).

Chủ đầu tư là văn phòng Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội, nhà đầu tư thực hiện Dự án là Tổng Công ty Cơ khí xây dựng (COMA).

Công trình có tổng diện tích 6.668m2, gồm hai khối nhà 3 tầng và 15 tầng; tổng diện tích sàn 15.960m2. Tổng mức đầu tư trên 200 tỷ đồng.

Tòa nhà này được thể hiện với phong cách kiến trúc hiện đại, mang đặc trưng của thể loại công trình văn phòng. Công trình bảo đảm nhu cầu làm việc cho khoảng 1.500 người.

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Phí Thái Bình, Hà Nội là trung tâm văn hóa của cả nước, nơi có hàng trăm trường đại học, viện nghiên cứu và các hội, hiệp hội của các ngành nghề khác nhau. Hà Nội cũng là nơi hội tụ những nhà tri thức, nhà khoa học, các văn nghệ sỹ có trình độ cao; góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô.

Tuy nhiên, hiện nay đa số các hội, hiệp hội chưa có trụ sở. Việc đưa vào hoạt động Cung trí thức không chỉ góp phần giải quyết khó khăn về trụ sở của các đơn vị này mà còn tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sự đóng góp, cống hiến của các văn nghệ sỹ, trí thức đối với công tác xây dựng Thủ đô.

Lãnh đạo thành phố Hà Nội cũng giao Sở Xây dựng quản lý và tạo điều kiện để các hội, hiệp hội trong tháng 11/2010 có thể tiếp nhận văn phòng làm việc; tổ chức quản lý, khai thác, phát huy tối đa hiệu quả công trình phục vụ tốt nhất các hoạt động của giới trí thức, văn nghệ sỹ Thủ đô./.


Minh Nghĩa (TTXVN/Vietnam+)