Showing posts with label Law. Show all posts
Showing posts with label Law. Show all posts

Friday, April 6, 2012

Vấn đề lập pháp nhìn từ pháp luật đất đai


02:37-22/02/2012 
Trịnh Hữu Long
Thống kê của Thanh tra Chính phủ được công bố tháng 12/2011 cho thấy, số hồ sơ khiếu nại về đất đai chiếm tỉ lệ không dưới 80% tổng số hồ sơ khiếu nại phát sinh của cả nước, trong đó có tới 50% khiếu nại đúng. Dù muốn hay không, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, đó là chỉ dấu rất rõ ràng cho thấy hệ thống pháp luật về đất đai đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng từ thực tiễn.

Tính bất ổn định của một đạo luật quan trọng


Đất đai là vấn đề hệ trọng của bất cứ quốc gia nào và sự ổn định của vấn đề đất đai liên quan trực tiếp đến sự ổn định của toàn xã hội. Lịch sử Việt Nam cho thấy, đất đai luôn là một trong những vấn đề chính trong các cuộc biến động lớn của xã hội. Trong cương lĩnh đấu tranh giành độc lập dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề đòi lại ruộng đất về cho dân cày luôn là một trụ cột quan trọng, và cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã thành công nhờ đưa ra những khẩu hiệu mang tính cách mạng về ruộng đất như vậy.

Từ năm 1987 đến nay, Nhà nước đã có những nỗ lực khổng lồ trong việc luật hóa các quan hệ xã hội liên quan đến đất đai. Tuy nhiên, nỗ lực này đã không đưa đến một hệ thống các văn bản pháp luật đất đai hoàn chỉnh và ổn định mà trong gần 25 năm qua, đã có tới 3 văn bản luật đất đai mới được ban hành, cùng với 4 lần bổ sung, sửa đổi. Tính trung bình, cứ khoảng 4 năm một lần lại có những thay đổi lớn về chính sách đất đai. 

Wednesday, March 21, 2012

UBTVQH nhất trí về tổ chức cơ quan chống rửa tiền


21/03/2012 
Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
Chiều 21/3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến về những vấn đề lớn còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Phòng, chống rửa tiền và dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi. 

Thảo luận về phạm vi điều chỉnh của dự án Luật Phòng, chống rửa tiền, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách Phùng Quốc Hiển và nhiều đại biểu khác tán thành với phạm vi điều chỉnh như dự thảo Luật, trong đó quy định mang tính nguyên tắc về nội dung “tài trợ khủng bố.” 

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội là cơ quan thẩm tra cũng tán thành với quan điểm này vì thể hiện được sự cam kết của Nhà nước Việt Nam với quốc tế, tránh tác động bất lợi ảnh hưởng đến các giao dịch về tài chính, tiền tệ của Việt Nam trên trường quốc tế. Quy định này chỉ mang tính nguyên tắc, việc xử lý cụ thể sẽ theo quy định của Bộ luật Hình sự và Luật Phòng, chống khủng bố. 

Tuesday, December 6, 2011

06/12 Công bố bốn luật mới


Ngày 06.12.2011, 15:54 (GMT+7)
SGTT.VN - Hôm nay 6.12, văn phòng Chủ tịch nước đã họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố 4 luật vừa được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 2, gồm: luật Đo lường, Khiếu nại, Tố cáo và Lưu trữ.
Luật Đo lường cho phép cơ quan chức năng áp dụng mức phạt từ 1 đến 5 lần số tiền thu lợi bất chính do chủ thể vi phạm gây ra (ảnh chỉ mang tính minh hoạ). Ảnh: Từ An
Về những điểm nổi bật của luật Đo lường, bộ trưởng bộ Khoa học và công nghệ Nguyễn Quân cho biết việc xử phạt các vi phạm về đo lường với số tiền thu lợi bất chính trong suốt thời gian vi phạm lớn hơn mức phạt tiền tối đa tại luật Xử lý vi phạm hành chính thì áp dụng mức phạt tiền bằng từ 1 đến 5 lần số tiền thu lợi bất chính đó.

Friday, October 14, 2011

14/10 Quốc hội cần giám sát tối cao ở lĩnh vực đầu tư công

14/10/2011 | 19:23:00

Thi công công trình thủy lợi. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Sáng 14/10, tại phiên họp thứ ba, Thường vụ Quốc hội đã nghe báo cáo của Chính phủ về lương của ngành Bảo hiểm xã hội và cho ý kiến về dự kiến chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2012.

Về lương của ngành Bảo hiểm xã hội, báo cáo của Chính phủ cho thấy giai đoạn trước khi thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, nguồn kinh phí hoạt động của toàn hệ thống hàng năm được trích từ tiền sinh lời do thực hiện biện pháp bảo toàn các quỹ, theo tỷ lệ phần trăm trên số thực thu Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế hàng năm.

Sunday, October 2, 2011

02/10 Tiếp tục cho ý kiến về dự án Luật Biển Việt Nam

NGUYỄN VŨ
02/10/2011 20:42 (GMT+7)
pictureTiếp ngay sau phiên họp thứ hai, từ sáng 3/10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ tiếp tục họp phiên thứ ba.
Tiếp ngay sau phiên họp thứ hai, từ sáng 3/10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ tiếp tục họp phiên thứ ba.

Trong các ngày từ 3 - 5/10 và từ 11- 14/10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về báo cáo công tác năm của các cơ quan tư pháp và báo cáo về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 2011.

Saturday, September 3, 2011

03/09 Luật Biển Việt Nam sẽ được trình trong tháng 9


picture
Đảo Đá Lớn thuộc quần đảo Trường Sa (Việt Nam) - Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN.
▪  NGUYỄN VŨ
11:10 (GMT+7) - Thứ Bảy, 3/9/2011

Thủ tướng đã giao Bộ trưởng Bộ Ngoại giao phối hợp chuẩn bị Dự án Luật Biển Việt Nam để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ hai, sẽ diễn ra vào cuối tháng này.

Văn phòng Chính phủ vừa gửi đến các bộ, ngành liên quan ý kiến phân công nhiệm vụ của Thủ tướng về việc chuẩn bị các phiên họp thứ hai và thứ ba của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Theo đó, tại phiên họp thứ hai (từ 19 – 27/9), bên cạnh dự án Luật Biển Việt Nam, một số dự án luật khác cũng sẽ được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến. Như, Luật Quản lý giá; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật Quảng cáo; Luật Bảo hiểm tiền gửi…

Còn tại phiên họp thứ ba dự kiến sẽ diễn ra từ 5 -12/10/2011, bên cạnh báo cáo về kinh tế, xã hội, ngân sách năm 2011, Thủ tướng cũng phân công chuẩn bị Báo cáo về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015.

Báo cáo về kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 và quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020 cũng sẽ được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp này.

Thủ tướng cũng giao Tổng Thanh tra Chính phủ chuẩn bị, trình: Báo cáo về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 2011. Đồng thời chủ trì, phối hợp với Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Văn phòng Chính phủ chuẩn bị, trình Báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2011.

Đây là những nội dung được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội khóa 13 tại kỳ họp thứ hai, sẽ khai mạc vào ngày 20/10 tới.

Tại kỳ họp này, theo Nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh chương trình năm 2011, Quốc hội sẽ thông qua Luật Biển Việt Nam.

Tại không ít phiên thảo luận của Quốc hội, một số vị đại biểu đã tỏ ra rất sốt ruột khi Luật Biển Việt Nam đã được lùi, hoãn khá nhiều lần. 

Vào đầu năm nay, Chính phủ cũng đã đề nghị bổ sung Luật Biển Việt Nam vào chương trình trình Quốc hội khóa 12 xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ chín, (tháng 3/2011).

Tuy nhiên, sau đó Chính phủ lại đề nghị lùi thời hạn trình dự án luật này do còn một số vấn đề chưa thống nhất, cần thêm thời gian nghiên cứu.

Thursday, August 11, 2011

11/08 Các đại lý thương mại cần một hành lang pháp lý

07:57 | 11/08/2011
Do phát triển kinh tế nhanh, dân số đông với cơ cấu độ tuổi trẻ, nước ta có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực phân phối. Nhiều đại lý thương mại đã được lập nên, thu hút đông đảo người dân đến mua sắm. Đây là một khâu quan trọng trong quy trình cung cấp hàng hóa cho người dân, nên rất cần sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan quản lý, để tránh những tranh chấp thương mại và ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng.
Đại lý thương mại có vai trò quan trọng trong việc đưa hàng từ nhà nhập khẩu, từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu của người dân từ nông thôn, thành thị đến miền núi trong mọi nơi, mọi thời điểm. Ví dụ như trong lĩnh vực xăng dầu, 11 doanh nghiệp đầu mối của nước ta đã có 3.800 đại lý trực thuộc và 240 tổng đại lý, đại lý trực thuộc… Tuy nhiên, phần lớn số đại lý thương mại là doanh nghiệp vừa và nhỏ, với vốn điều lệ thấp, chủ yếu vay ngân hàng, cơ sở vật chất kinh doanh sơ sài. Tình trạng hàng giả, hàng nhái, chất lượng không bảo đảm, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng đã diễn ra tại các địa điểm này. Ngoài ra, việc mua đi, bán lại giữa các đại lý khi thiếu nguồn hàng cung ứng, đẩy giá bán lẻ thị trường tăng lên, gây bất ổn về giá vẫn tiếp diễn. Hiện có trên 90% các doanh nghiệp kinh doanh vừa và nhỏ làm đại lý, nhưng phát triển không theo quy hoạch. Một số đại lý đã găm hàng, chờ giá tăng, không chú ý đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân. Những hiện tượng này xảy ra là do mô hình này chỉ được quy định tại một số điều của Luật Thương mại năm 2005 và một số nghị định, thông tư. Chuyên gia cao cấp Vụ Thị trường trong nước, Bộ Công thương Hoàng Đình Cường đề nghị, cần có hành lang pháp lý cho đại lý thương mại. Bởi quản lý một khâu trong hệ thống phân phối có thể giúp ổn định thị trường, cũng như phục vụ tốt cho sản xuất, đời sống.
Nhiều chuyên gia thị trường cho rằng, nếu xây dựng Nghị định về quản lý Nhà nước đối với hoạt động đại lý thương mại thì cần giải quyết rất nhiều vấn đề. Mỗi nhóm hàng hóa có đặc điểm khác nhau nên cần đưa ra thiết chế, quy định hợp lý để quản lý việc phân phối. Trước mắt ưu tiên quản lý đối với một số mặt hàng liên quan đến sản xuất, tiêu dùng thiết yếu đối với đời sống của nhân dân như xăng dầu, phân bón, lương thực, muối, xi măng, sắt thép, thuốc bảo vệ thực vật, tân dược… Đặc biệt là quy định các điều kiện ràng buộc giữa bên giao đại lý và đại lý trong bảo đảm nguồn cung, chất lượng hàng hoá từ thành phố đến vùng nông thôn. Theo Luật sư của Công ty Luật Russin & Vecchi Việt Nam Ngô Việt Hòa, Luật Thương mại 2005 chưa có quy định cụ thể cho hoạt động đại lý thương mại, chỉ dừng lại ở các quy định chung. Nhiều vấn đề pháp lý phát sinh trong quan hệ đại lý chưa được điều chỉnh như xúc tiến thương mại, sở hữu trí tuệ, hạn chế cạnh tranh trong đại lý. Vì vậy, cần có quy định của pháp luật tổng thể hơn, bảo đảm quyền lợi của bên giao đại lý, đại lý trong hợp đồng đại lý, cũng như quyền lợi người tiêu dùng.
Tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang gặp vướng mắc trong quá trình quản lý hoạt động đại lý thương mại như ở nước ta. Nhưng Liên minh châu Âu đã ban hành chỉ thị về Đại lý thương mại, với mục đích bảo đảm cân bằng lợi ích giữa bên giao đại lý và đại lý; đại lý có thể thương lượng hoặc ký kết hợp đồng trên danh nghĩa của bên giao đại lý trong quan hệ với hàng hóa của họ. Các vấn đề pháp luật liên quan đến đại lý thương mại đều được ghi rõ trong hợp đồng giữa hai bên, các quy định đình chỉ, chấm dứt thực hiện hợp đồng… Và có xử phạt nghiêm minh để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Chuyên gia Dự án Mutrap John Downes cho biết, tại nhiều nước trên thế giới đã quy định rõ quyền lợi, nghĩa vụ của cơ sở sản xuất giao hàng và đại lý, cũng như nghĩa vụ thực hiện hợp đồng nghiêm túc. Các cam kết trong cung cấp hàng hóa, hoạt động xúc tiến thương mại, điều kiện bán hàng, thanh toán... được quy định cụ thể để thị trường hoạt động lành mạnh. Như vậy, cơ sở pháp lý cho đại lý thương mại cần có các quy định để vừa bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, vừa mang lại sự công bằng cho thương nhân trong hoạt động trao đổi hàng hóa.
Việc rà soát lại hệ thống pháp luật về đại lý thương mại, kết hợp với kinh nghiệm quốc tế sẽ hỗ trợ cho các nhà quản lý nước ta trong việc phát triển và quản lý hoạt động đại lý thương mại tại Việt Nam, góp phần ổn định thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiệu quả hơn.
Xuân Lan

Wednesday, May 25, 2011

25/05 UBND xã không chứng thực giao dịch về nhà, đất

Thứ Tư, 25/05/2011, 14:27

TT - UBND TP.HCM vừa quyết định chuyển giao toàn bộ thẩm quyền chứng thực các loại hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản khác gắn liền với đất (trừ di chúc) cho các tổ chức hành nghề công chứng từ ngày 1-6.

Ảnh minh họa

Việc chứng thực các loại hợp đồng, giao dịch trên trước đây do UBND xã, phường, thị trấn thực hiện. Như vậy từ ngày 1-6, UBND cấp xã chỉ chứng thực đối với di chúc (kể cả di sản là bất động sản) và các loại hợp đồng, giao dịch khác theo quy định.

Bên cạnh đó, UBND TP quyết định chuyển giao việc chứng thực toàn bộ các hợp đồng, giao dịch từ UBND quận, huyện sang tổ chức hành nghề công chứng. Kể từ ngày này, UBND các quận, huyện không còn thẩm quyền chứng thực các loại hợp đồng, giao dịch.

Riêng việc xác nhận hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao vẫn thực hiện theo quy định hiện hành.

K.YÊN


13/07/2005 Những điểm mới của Luật Phá sản năm 2004

Cập nhật lúc 10:53, Thứ tư, 13/07/2005 (GMT+7)
So với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật Phá sản năm 2004 bổ sung quy định mới về việc quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản trong trường hợp đặc biệt (Điều 87). Theo đó, tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản trong các trường hợp sau đây:

- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp tiền tạm ứng phí phá sản do tòa án ấn định, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không còn tiền và tài sản khác để nộp tiền tạm ứng phí phá sản thì tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.

- Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và nhận các tài liệu, giấy tờ do các bên có liên quan gửi đến, tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không còn tài sản hoặc còn nhưng không đủ để thanh toán phí phá sản. Nội dung quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản bao gồm: Ngày, tháng, năm ra quyết định, tên của tòa án và tên thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản; tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, căn cứ của việc tuyên bố phá sản; quyền khiếu nại, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kháng nghị; Cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản. Theo quy định này thì người giữ chức vụ giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên hội đồng quản trị của công ty, tổng công ty 100% vốn Nhà nước bị tuyên bố phá sản không được cử đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào, kể từ ngày công ty, tổng công ty Nhà nước bị tuyên bố phá sản. Người được giao đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được cử đảm đương các chức vụ quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước.

Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, giám đốc (tổng giám đốc), chủ tịch và các thành viên hội đồng quản trị, hội đồng thành viên của doanh nghiệp, chủ nhiệm, các thành viên ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, không được làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản. Tuy nhiên, những điều cấm trên đây không áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản vì lý do bất khả kháng.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, tòa án phải gửi và thông báo công khai quyết định cho doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, viện kiểm sát cùng cấp và đăng trên báo địa phương nơi doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản có địa chỉ chính, báo hằng ngày của trung ương ba số liên tiếp; cho các chủ nợ, những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản có hiệu lực pháp luật, tòa án phải gửi quyết định cho cơ quan đăng ký kinh doanh để xóa tên doanh nghiệp, hợp tác xã trong sổ đăng ký kinh doanh. Trong trường hợp Tòa án Nhân dân tối cao ra quyết định giải quyết khiếu nại, kháng nghị thì thời hạn có thể dài hơn, nhưng không quá 25 ngày.

Luật Phá sản năm 2004 còn bổ sung quy định đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh thì sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản họ không được miễn trừ nghĩa vụ về tài sản đối với chủ nợ chưa được thanh toán nợ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (khoản 1 Điều 90). Các nghĩa vụ về tài sản phát sinh sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Luật Phá sản năm 2004 cũng quy định khá cụ thể về khiếu nại, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản. Theo đó, doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, các chủ nợ, những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản có quyền khiếu nại; Viện Kiểm sát Nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản. Thời hạn khiếu nại, kháng nghị là 20 ngày, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.

Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kháng nghị, tòa án đã ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản phải gửi hồ sơ về phá sản kèm theo đơn khiếu nại, quyết định kháng nghị cho tòa án cấp trên trực tiếp để xem xét, giải quyết. Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản không bị khiếu nại, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kháng nghị.

Việc giải quyết khiếu nại, kháng nghị được tiến hành như sau:

- Ngay sau khi nhận được hồ sơ về phá sản kèm theo đơn khiếu nại, quyết định kháng nghị, chánh án tòa án cấp trên trực tiếp chỉ định một tổ gồm ba thẩm phán xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, tổ thẩm phán phải xem xét, giải quyết và có quyền ra một trong các quyết định sau đây:

- Không chấp nhận khiếu nại, kháng nghị và giữ nguyên quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản của tòa án cấp dưới.

- Hủy quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản của tòa án cấp dưới và giao hồ sơ về phá sản cho tòa án cấp dưới tiếp tục tiến hành thủ tục phá sản.

Quyết định giải quyết khiếu nại, kháng nghị của tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

VŨ HOÀNG LONG (Biên soạn)

24/05 RIA – Công cụ hiệu quả trong xây dựng pháp luật

Cập nhật lúc 15:50, Thứ ba, 24/05/2011 (GMT+7)
NDĐT – RIA là khái niệm đánh giá tác động pháp luật được nhắc đến nhiều trong giới nghiên cứu và xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Lâu nay, các văn bản pháp lý ở ta được ban hành khá tùy tiện, nhiều khi không lường được hết các hậu quả khi các quy định không đúng, không trúng vấn đề.

RIA là công cụ hỗ trợ để “lượng hóa” được những tác động đối với các đối tượng bị điều chỉnh, từ đó hạn chế những quy định kém hiệu quả, giảm tác động xấu đến kinh tế xã hội nói chung cũng như quyền lợi của doanh nghiệp và người dân.

Tác động “máy xén” thể chế

Quyền Giám đốc Cơ quan Phát triển Hoa Kỳ (USAID) tại Việt Nam, ông Michael Foster cho rằng, các quy định kém hiệu quả và không cần thiết đã làm phí phạm các nguồn lực quý giá của Nhà nước cũng như tăng gánh nặng và chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó, việc có một môi trường thể chế hiệu quả với các quy định có chất lượng cao là vô cùng quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Nhiều nước trên thế giới cũng đang xây dựng các quy định pháp luật khuyến khích tăng trưởng kinh tế, tăng cường phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường.

Theo đánh giá của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương CIEM, công tác lập pháp ở Việt Nam nhìn chung còn thiếu sự tham gia thỏa đáng của công chúng vào quá trình xây dựng chính sách, cũng như chưa tham vấn đầy đủ công chúng và thiếu công cụ phân tích chính sách khoa học để bảo đảm luật đáp ứng được nhu cầu người dân. Tổ soạn thảo văn bản pháp luật thường xây dựng dự thảo văn bản mà không có hiểu biết đầy đủ về phương pháp xác định vấn đề, phương án chính sách, cân đối lợi ích chi phí của từng phương án và phương án thay thế tối ưu để giải quyết một vấn đề bất cập cụ thể.

Cố vấn thể chế cao cấp của Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh thuộc cơ quan hỗ trợ phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID/VNCI) Scott Jacobs cho biết, số lượng văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan trung ương ban hành năm 2009 tại Việt Nam là 8520 văn bản. Trong khi đó, cùng thời gian này tại Mỹ số lượng văn bản pháp quy ra đời là 1.500 văn bản. Theo ông Scott, số lượng các văn bản quy phạm pháp luật thể hiện mức độ can thiệp của Chính phủ vào các mặt đời sống xã hội như đầu tư, tạo công ăn việc làm, tiền lương, thu nhập của người dân... Do đó, nếu văn bản pháp luật bị đưa ra không đúng sẽ khiến cho chi phí xã hội tăng lên gấp nhiều lần lợi ích đặt ra của chính sách, thậm chí sẽ “xóa sổ” cả một ngành nếu như ngành đó bị quá nhiều văn bản chi phối chồng chéo.

Việt Nam sau khi thực hiện Đề án Đơn giản hóa Thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (gọi tắt là Đề án 30) đã đơn giản hóa được 77% số văn bản pháp quy. Tác động kinh tế của việc thực hiện mô hình “máy xén” thể chế này đã đem lại kết quả Việt Nam tiết kiệm cho doanh nghiệp 1,4 tỷ USD GDP /năm, tỷ trọng khoảng 1,5% GDP với số việc làm mới được tạo ra là một triệu lao động/năm.

RIA và sự tiết kiệm chi phí

Theo nghiên cứu của USAID, đối với Việt Nam, việc thực hiện một RIA đầy đủ ước tính sẽ làm phát sinh chi phí khoảng 500USD cho một văn bản quy phạm pháp luật, nhưng sẽ tiết kiệm được cho khối tư nhân gấp 100 nghìn lần số tiền nhờ một hệ thống thể chế ít gánh nặng và hiệu quả hơn. Như vậy, một đồng bỏ ra cho RIA, doanh nghiệp và hộ gia đình tiết kiệm được khoảng 100 nghìn đồng.

Đánh giá tác động pháp luật (RIA) là công cụ tham gia xây dựng pháp luật bao gồm các nội dung: xác định vấn đề bất cập của chính sách, mục tiêu chính sách, giải pháp chính sách để xử lý vấn đề bất cập; đánh giá tác động kinh tế, xã hội, sức khỏe, an toàn, môi trường, luật pháp của các giải pháp chính sách; bằng chứng và số liệu để chứng minh lập luận, biện minh cho sự can thiệp của Chính phủ; chuyển tải thông tin đến cơ quan hoạch định chính sách và các chủ thể có liên quan.

RIA khi được thực hiện tốt giúp giảm số lượng quy định không có chất lượng và không cần thiết. Tại Hàn Quốc trong năm đầu tiên thực hiện RIA, hơn 25% đề xuất quy định bị Ủy ban cải cách quy định bác bỏ. Thí dụ như đối với việc góp vốn trong liên doanh, các quyết định sai về giá mua cao và bán giá thấp gây thất thoát tài sản của Nhà nước hay ngân hàng, công ty bảo hiểm tự đánh giá tài sản của khách hàng gây thiệt thòi cho khách sẽ bị hạn chế. RIA cải thiện tính minh bạch của các quyết định, tăng cường tham vấn công chúng và sự tham gia của nhóm chịu tác động. RIA cũng cải thiện sự gắn kết trong chính phủ và trao đổi thông tin trong nội bộ các bộ.

Như việc thực hiện Đề án 30, các thủ tục hành chính được cải thiện, doanh nghiệp không phải chầu chực xếp hàng chờ làm hàng tá các thủ tục, từ đó tiết kiệm được thời gian công sức để đầu tư vào làm việc khác hiệu quả hơn, chi phí bỏ ra của doanh nghiệp giảm, như vậy gián tiếp tác động tổng thể toàn bộ nền kinh tế. Ông Scott cũng khuyến cáo các nhà làm luật rằng “giới doanh nghiệp họ nhớ rất lâu những quy định đem lại những khó khăn cho công việc của họ”. Có nghiên cứu cho rằng, từ những rào cản đó sẽ khiến giảm lượng đầu tư giảm đi ít nhất trong một vài năm vì những văn bản kiểu như vậy. Hiện nay phương pháp RIA được sử dụng ở 60 quốc gia và lãnh thổ, có tác động đến 70% GDP toàn cầu. Chính phủ các nước ngày càng nhận thức lợi ích khi sử dụng RIA vì sẽ giải phóng được nguồn lực nhiều hơn cho xã hội.

Hệ thống pháp lý ở Việt Nam còn đang có rất nhiều hạn chế và nhiều Luật còn trong quá trình xây dựng. Việc sử dụng các công cụ hữu hiệu để xây dựng pháp luật là rất cần thiết. Đơn cử như việc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 02/2011/TT-NHNN quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng VND là 14%/năm trong thời gian vừa qua nhưng không thực thi được khi các ngân hàng thương mại đều nhất loạt vượt trần, bất chấp các quy định của pháp luật. Nếu có công cụ RIA, cơ quan soạn thảo chính sách sẽ hạn chế được những hệ quả không mong muốn của một quyết định. RIA sẽ cung cấp thêm thông tin để các nhà hoạch định chính sách có những options (sự lựa chọn) nhiều hơn cho quyết định của mình. Thí dụ như đánh giá tác động của mức lãi suất 14%/năm thị trường sẽ phản ứng như thế nào, ở mức lãi suất 15% hay 16%/năm sẽ như thế nào. Công cụ RIA buộc các quy định sẽ phải trả lời được những đánh giá tác động khác nhau từ những sự tham vấn rộng rãi trong cộng đồng xã hội, như vậy đồng thời cũng là một cách thức truyền tải thông điệp của chính sách và giúp doanh nghiệp định hướng được yêu cầu từ nhà quản lý và có những ứng xử phù hợp và từ đó cũng hạn chế những cú sốc đối với cả nền kinh tế.

THÙY VÂN

Sunday, April 17, 2011

09/04 "Nhận xét thiếu khách quan về nhân quyền"


Cập nhật lúc 09/04/2011 09:17:05 PM (GMT+7)
Người phát ngôn Nguyễn Phương Nga nói Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Anh, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, một vài tổ chức đã có những nhận xét thiếu khách quan về tình hình nhân quyền của Việt Nam.
Ngày 9/4, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước nhận xét của các cơ quan trên, bà Nga nhấn mạnh tại Việt Nam, các quyền tự do cơ bản của người dân được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật và được đảm bảo trên thực tế.

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc đảm bảo quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Người dân Việt Nam tham gia đầy đủ và tích cực vào mọi mặt của đời sống xã hội. Quyền con người được đảm bảo và phát huy là nhân tố quan trọng tạo sự đồng thuận xã hội, đưa đến thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Người phát ngôn Nguyễn Phương Nga. Ảnh: Bộ Ngoại giao


Saturday, October 30, 2010

29/10 27 văn bản quy định chi tiết các luật có hiệu lực từ 1/1/2011

6:14 PM, 29/10/2010

(Chinhphu.vn) – Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định ban hành Danh mục 27 văn bản quy định chi tiết thi hành các luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2011.


Sẽ có 3 Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật các tổ chức tín dụng - Ảnh
minh họa

Trong số 27 văn bản trên có 20 Nghị định và 7 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm quy định chi tiết thi hành 10 luật gồm: Luật Nuôi con nuôi, Luật Trọng tài thương mại, Luật Người khuyết tật, Luật Bưu chính, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Luật An toàn thực phẩm, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thi hành án hình sự, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng.

Trong số các luật trên, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sẽ có 7 văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể, Bộ Công Thương soạn thảo 2 Nghị định, 2 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trình trong tháng 11,12/2010; các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính, mỗi Bộ soạn thảo 1 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và trình trong quý I/2011.

Đối với Luật Thi hành án hình sự sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2011, Thủ tướng giao Bộ Công an soạn thảo 8 Nghị định và trình trong tháng 3 và 4/2011.

Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan trong quá trình soạn thảo; thống nhất quan điểm, nội dung trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; bảo đảm tiến độ, chất lượng dự thảo văn bản và đầy đủ các thủ tục theo quy định.

Xem Danh mục 27 văn bản quy định chi tiết thi hành các luật có hiệu lực từ 1/1/2011 tại đây.

Thu Nga

Thursday, October 28, 2010

27/10 Dự thảo Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em

5:50 PM, 27/10/2010

(Chinhphu.vn) –Thực hiện Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 1/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã dự thảo Chương trình hành động quốc gia (CTHĐQG) vì trẻ em giai đoạn 2011-2020.

Mọi trẻ em đều có quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục một cách tốt nhấtTheo dự thảo này, Chương trình được triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc, có sự ưu tiên nguồn lực cho 12 địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nhất, thu ngân sách không đủ chi là Trà Vinh, Sóc Trăng, Ninh Thuận, Quảng Nam, Đăk Nông, Kon Tum, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lai Châu, Điện Biên và Lào Cai.

Chương trình hướng đến đối tượng trẻ em dưới 16 tuổi và có mở rộng đến nhóm trẻ em dưới 18 tuổi có hoàn cảnh đặc biệt. Chương trình dự kiến được thực hiện với tổng kinh phí 1.250 tỷ đồng.
Mục tiêu của Chương trình là tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em và thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của trẻ em. Bảo đảm cho mọi trẻ em đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (BVCSGD) một cách tốt nhất;...

6 hoạt động chủ yếu

Dự thảo Chương trình hành động quốc gia (CTHĐQG) vì trẻ em giai đoạn 2011-2020 bao gồm 6 hoạt động chủ yếu.

Thứ nhất, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông vận động chính sách, vận động xã hội và chuyển đổi hành vi thực hiện quyền trẻ em và các mục tiêu vì trẻ em.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống phát lý có liên quan đến việc thực hiện Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, nhất là Luật Bảo BVCSGD trẻ em.

Thứ ba, hoàn thiện hệ thống chính sách phúc lợi xã hội dành cho trẻ em, nhất là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em nghèo, trẻ em sống trong các gia đình thu nhập thấp và trẻ em dân tộc thiểu số cư trú ở các địa bàn khó khăn.

Thứ tư, xây dựng và thực hiện các chương trình BVCSGD trẻ em.

Thứ năm, xây dựng và nhân rộng các mô hình bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị tổn thương ở các vùng miền.

Thứ sáu, tiếp tục nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành mà nhiệm vụ của họ có liên quan đến BVCSGD trẻ em, thực hiện các quyền của trẻ em.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, hiện tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên tổng số trẻ em nước ta vẫn ở mức cao và có xu hướng gia tăng, cụ thể năm 2001 là có khoảng 1,4 triệu em chiếm 5,5% tổng số trẻ em, năm 2010 tăng lên 1,54 triệu chiếm tỷ lệ trên 6%.

Hàng năm có từ 1.000 đến 1.400 em bị xâm hại tình dục, 2.000 đến 3.900 em bị bạo lực, 12.000 đến 18.000 người chưa thành niên vi phạm pháp luật, trong đó có khoảng 15% phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Theo kết quả nghiên cứu về nghèo trẻ em giữa Unicef và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2007 - 2008, Việt Nam có tới 28% trẻ em sống trong tình trạng nghèo vào năm 2007 dựa theo cách tiếp cận đa chiều về nghèo trẻ em bao gồm: nghèo về dinh dưỡng; nghèo về chăm sóc sức khỏe; nghèo về giáo dục; nghèo về nhà ở; nghèo về nước sạch; nghèo về vệ sinh môi trường; nghèo về vui chơi, giải trí và nghèo về bảo trợ xã hội.

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo Quyết định phê duyệt Chương trình và góp ý.

Cổng TTĐT Chính phủ

27/10 Quốc hội góp ý lần đầu dự thảo Luật phòng, chống mua bán người

4:52 PM, 27/10/2010

(Chinhphu.vn) - Các vấn đề được đại biểu tập trung cho ý kiến là tên gọi của dự thảo luật, đối tượng, phạm vi điều chỉnh, các hành vi bị cấm và các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ nạn nhân trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng.

Một phiên họp tổ của Quốc hội.


Hôm nay 27/10, Quốc hội thảo luận ở tổ về Luật phòng, chống mua bán người, được trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu.

Làm rõ khái niệm “mua bán” và “buôn bán”

Đa số các đại biểu tán thành sự cần thiết ban hành Luật phòng, chống mua bán người, nhằm phòng ngừa và nghiêm trị các hành vi liên quan đến loại tội phạm này đang có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp và ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt, tình trạng mua bán trẻ sơ sinh xảy ra nhiều ở một số địa phương.

Tuy nhiên, công tác quản lý Nhà nước còn nhiều bất cập, sơ hở, việc phát hiện tội phạm hầu như mới chỉ dựa vào sự tố giác của nạn nhân hoặc gia đình bị hại…

Các đại biểu Lê Thị Nga (Thái Nguyên), Dương Ngọc Ngưu (Thanh Hóa) đề nghị dự thảo Luật phải làm rõ khái niệm “mua bán” và “buôn bán” người, bởi đây là những khái niệm khác nhau, hiểu theo nghĩa khác nhau khi áp dụng thực tiễn.

ĐB Lê Thị Nga cho rằng, đã là “buôn bán” thì phải có “trao đi đổi lại”, có trả tiền nên dự thảo Luật cần quy định rạch ròi. Trong quy định của dự thảo Luật, chưa có sự phân biệt giữa hành vi mua bán người với việc chuyển giao, tiếp nhận người trong các trường hợp cho nhận con nuôi, môi giới kết hôn, môi giới lao động hợp pháp.

Phó Trưởng Đoàn ĐBQH Thái Nguyên Đỗ Mạnh Hùng cho rằng, đa số các thuật ngữ quốc tế dùng từ buôn bán người vì tội phạm liên quan đến con người là đặc biệt, phải dùng từ buôn bán người mới lột tả hết được ý nghĩa. Theo ý kiến của đại biểu, nên lấy tên gọi là Luật phòng, chống buôn bán người.

Cần xử lý cả người không giúp đỡ nạn nhân

Về các hành vi bị cấm, Khoản 10, Điều 7, dự thảo Luật quy định xử lý nghiêm khắc với hành vi “Dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không đúng pháp luật đối với hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người”.

Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Hoà (ĐB Bắc Ninh) trăn trở, trong thực tế, những hành vi vô cảm đối với nạn nhân của việc mua bán người là những hành vi đáng sợ và cần lên án nhất. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa đề ra hình thức cấm từ chối giúp đỡ các nạn nhân hoặc những người bị mua bán.

“Chúng ta cần quy định nghiêm cấm các hành vi này”, đại biểu đề nghị.

Tán thành quan điểm trên, Phó Chủ tịch HĐND TP. Hồ Chí Minh Huỳnh Thành Lập nhấn mạnh, cần nói rõ cố tình không tố giác tội phạm, từ chối hoặc chậm trễ giúp đỡ nạn nhân, xử lý thông tin. Nếu cơ quan chức năng hoặc người có thẩm quyền nhận được tin báo liên quan đến mua bán người mà từ chối, chậm trễ giúp đỡ nạn nhân cũng là hành vi bị nghiêm cấm.

Về các hình thức hỗ trợ nạn nhân bị mua bán, các đại biểu cho rằng, đây là điều kiện hết sức cần thiết để nạn nhân sớm hòa nhập cộng đồng, tránh việc họ tiếp tục trở thành nạn nhân, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống mua bán người ở nước ta và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Theo đó, các hình thức hỗ trợ nạn nhân bị mua bán được dự thảo Luật quy định như hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại; hỗ trợ y tế; tâm lý; trợ giúp pháp lý; hỗ trợ học văn hóa, học nghề; trợ cấp khó khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn; đồng thời, xác định từng loại đối tượng được hưởng các chế độ hỗ trợ tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và nhu cầu cần được hỗ trợ của nạn nhân.

Lê Sơn

Sunday, September 5, 2010

09/07 Nghị định 71/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 23/6/2010 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở

Với 7 chương, 84 điều, Nghị định quy định chi tiết về phát triển nhà ở, trong đó có dự án phát triển nhà ở, nhà ở thương mại, phát triển và quản lý quỹ nhà ở công vụ, phát triển và quản lý nhà ở xã hội, xây dựng nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân. Nghị định còn quy định chi tiết về sở hữu, quản lý sử dụng nhà ở bao gồm nhà chung cư, biệt thự tại đô thị/ giao dịch về nhà ở/ quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và của tổ chức, cá nhân nước ngoài/ quản lý nhà nước về nhà ở. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 8/8 tới, thay thế Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 6/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở. Tạp chí Quê Hương trích đăng phần liên quan đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài (chương V).

Chương 5.

QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI VÀ CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NƯỚC NGOÀI


Điều 65. Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và của tổ chức, cá nhân nước ngoài

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam nếu thuộc các đối tượng và có đủ điều kiện quy định tại Điều 1 của Luật số 34/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai. Thời hạn sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài là ổn định, lâu dài.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài khi thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư thì được sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở. Trường hợp mua nhà ở tại Việt Nam thì được sở hữu nhà ở theo quy định của Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị quyết này.

Điều 66. Giấy tờ chứng minh đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định tại Điều 1 của Luật số 34/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai phải có các giấy tờ sau đây để chứng minh về đối tượng:

a) Đối với người có quốc tịch Việt Nam thì phải có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị; trong trường hợp mang hộ chiếu nước ngoài thì phải có một trong các giấy tờ chứng minh còn quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật về quốc tịch;

b) Đối với người gốc Việt Nam thì phải có hộ chiếu nước ngoài kèm theo giấy tờ xác nhận là người gốc Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp để chứng minh có gốc Việt Nam.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng dưới đây thì có quyền sở hữu (không hạn chế số lượng nhà ở tại Việt Nam) thông qua hình thức mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, đổi nhà ở hoặc được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án phát triển nhà ở của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (đối với dự án tại các khu vực được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức bán nền theo quy định của pháp luật về đất đai) để người mua xây dựng nhà ở cho bản thân và các thành viên trong gia đình tại Việt Nam:

a) Các đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

b) Các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này nhưng phải thuộc một trong các diện:

- Người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư có Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;

- Người có công đóng góp với đất nước, bao gồm: người được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng có giấy tờ chứng minh được hưởng chế độ ưu đãi do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp; người có thành tích đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương, Huy chương, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; người tham gia vào Ban Chấp hành các tổ chức chính trị - xã hội của Việt Nam; của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ cấp tỉnh trở lên được các tổ chức này xác nhận; người được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương hội, người là nòng cốt các phong trào, tổ chức của kiều bào có quan hệ với trong nước và người có những đóng góp, giúp đỡ tích cực cho các cơ quan đại diện hoặc các hoạt động đối ngoại của Việt Nam ở nước ngoài được Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài xác nhận;

- Nhà văn hóa, nhà khoa học, bao gồm: người được phong học hàm, học vị về khoa học, giáo dục, văn hóa – nghệ thuật, thể dục – thể thao của Việt Nam hoặc của nước ngoài, các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế - xã hội đang làm việc tại Việt Nam. Các đối tượng này phải được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng các trường đại học, cao đẳng, học viện, viện nghiên cứu của Việt Nam mời về làm chuyên gia, cộng tác viên, giảng dạy và có xác nhận của cơ quan, tổ chức mời về việc đối tượng này đang làm việc tại cơ quan, tổ chức đó;

- Người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt có giấy xác nhận về chuyên môn, kỹ năng của hiệp hội, hội nghề nghiệp Việt Nam hoặc của cơ quan cấp Bộ phụ trách lĩnh vực chuyên môn, kỹ năng kèm theo giấy phép hành nghề chuyên môn tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (đối với trường hợp pháp luật yêu cầu phải có giấy phép hành nghề) hoặc Giấy phép lao động do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (đối với trường hợp pháp luật không yêu cầu phải có giấy phép hành nghề);

- Người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước có giấy tờ chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp kèm theo hộ khẩu thường trú và giấy chứng minh nhân dân của một bên vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam ở trong nước.

Đối với trường hợp có các giấy tờ do nước ngoài cấp thì phải dịch ra Tiếng Việt và có chứng nhận của cơ quan công chứng của Việt Nam.

3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài gốc Việt Nam nhưng không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này nếu có giấy tờ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và Giấy miễn thị thực do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam.

Trường hợp đối tượng này đang có sở hữu nhà ở tại Việt Nam mà được thừa kế hoặc được tặng cho nhà ở khác thì chỉ được chọn sở hữu một nhà ở; đối với nhà ở còn lại thì được quyền tặng cho hoặc bán cho các đối tượng thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam để hưởng giá trị theo quy định tại Điều 72 của Nghị định này.

Điều 67. Giấy tờ chứng minh điều kiện cư trú tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

1. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu Việt Nam thì phải có một trong các giấy tờ sau đây do công an phường, xã, thị trấn (sau đây gọi chung là công an cấp phường) nơi người đó cư trú cấp:

a) Sổ tạm trú;

b) Giấy tờ xác nhận về việc đăng ký tạm trú tại địa phương.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu Việt Nam phải có đơn đề nghị và xuất trình hộ chiếu tại cơ quan công an cấp phường khi đề nghị cấp giấy tờ quy định tại khoản này. Trong thời hạn tối đa là ba ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, công an cấp phường có trách nhiệm cấp một trong các giấy tờ quy định tại khoản này cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

2. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài thì phải có một trong các giấy tờ sau đây do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh của Việt Nam cấp:

a) Thẻ tạm trú;

b) Có dấu chứng nhận tạm trú đóng vào hộ chiếu với thời hạn được tạm trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên.

Điều 68. Thủ tục quản lý việc sở hữu một nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam

Đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu một nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải thực hiện các quy định sau đây:

1. Trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải kiểm tra thông tin về tình trạng sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam đăng trên Website của Bộ Xây dựng.

Trường hợp người đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất không có tên trên Website của Bộ Xây dựng thì Ủy ban nhân dân cấp huyện ký giấy chứng nhận và làm thủ tục trao giấy chứng nhận cho chủ sở hữu; trường hợp người đề nghị cấp giấy chứng nhận đang có tên đăng trên Website của Bộ Xây dựng thì Ủy ban nhân dân cấp huyện trả lại hồ sơ và có văn bản trả lời để đương sự biết rõ lý do;

2. Trong thời hạn hai ngày làm việc, kể từ ngày ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải có văn bản gửi Bộ Xây dựng thông báo các thông tin về họ tên, số hộ chiếu, nơi cấp, ngày cấp hộ chiếu của người mua, được tặng cho, được thừa kế nhà ở, địa chỉ nhà ở được cấp giấy chứng nhận, số giấy chứng nhận và ngày cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để Bộ Xây dựng đăng tải các thông tin này trên Website của Bộ;

3. Trường hợp chủ sở hữu nhà ở quy định tại Điều này đã bán, tặng cho hoặc làm thủ tục để thừa kế nhà ở cho người khác thì Ủy ban nhân dân cấp huyện phải có văn bản thông báo cho Bộ Xây dựng biết để xóa tên khỏi danh sách đăng trên Website của Bộ;

4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải chịu trách nhiệm về việc chậm thông báo hoặc không thông báo cho Bộ Xây dựng biết khi các đối tượng quy định tại Điều này có sở hữu nhà ở tại Việt Nam hoặc chuyển quyền sở hữu nhà ở cho người khác.

Bộ Xây dựng ban hành mẫu báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi Bộ Xây dựng theo quy định tại Điều này.

Điều 69. Xử lý hành vi vi phạm quy định về việc sở hữu một nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu một nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở nếu giả mạo giấy tờ hoặc có các hành vi vi phạm khác để được sở hữu nhiều hơn một nhà ở tại Việt Nam thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đó; nếu đã được cấp giấy chứng nhận thì phải thực hiện bán nhà ở đó trong thời hạn 120 ngày, kể từ ngày hành vi vi phạm bị phát hiện, đồng thời bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, phát triển nhà ở.

2. Trường hợp quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà người có hành vi vi phạm chưa bán nhà ở thì bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đã được cấp; nhà ở chưa bán thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Việt Nam.

3. Cán bộ, công chức và những người có liên quan nếu có hành vi vi phạm các quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và các quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 70. Sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua hình thức đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê hoặc được mua căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với nhà ở đó. Thời hạn được sở hữu nhà ở là thời hạn quy định trong Giấy chứng nhận đầu tư và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở để bán thì Nhà nước không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho chủ đầu tư. Sau khi hoàn thành việc xây dựng nhà ở, chủ đầu tư được quyền bán nhà ở này cho tổ chức, cá nhân thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở, pháp luật về kinh doanh bất động sản và Nghị định này.

Chủ đầu tư có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người mua trong thời hạn 50 ngày, kể từ ngày bàn giao nhà ở cho người mua nhà, trừ trường hợp người mua nhà tự nguyện làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận.

4. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cá nhân nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 71. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê nhà ở tại Việt Nam

1. Đối tượng và điều kiện được thuê nhà ở tại Việt Nam bao gồm:

a) Tổ chức nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam;

b) Cá nhân nước ngoài được phép vào Việt Nam có thời hạn từ ba tháng liên tục trở lên;

c) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang ở Việt Nam có nhu cầu thuê nhà ở.

2. Trình tự, thủ tục thuê nhà ở, quyền và nghĩa vụ của bên thuê nhà ở thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 62 Nghị định này.

Điều 72. Các trường hợp được hưởng giá trị của nhà ở

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các diện sau đây được tặng cho hoặc được thừa kế nhà ở tại Việt Nam thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở và chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó:

a) Tổ chức, cá nhân nước ngoài không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam;

b) Cá nhân nước ngoài thuộc diện chỉ được sở hữu một căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại và tại thời điểm được tặng cho, được thừa kế đang có sở hữu căn hộ tại Việt Nam;

c) Tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc diện được sở hữu căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại nhưng được tặng cho hoặc được thừa kế nhà ở không phải là căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại;

d) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép về Việt Nam cư trú có thời hạn dưới ba tháng;

đ) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện chỉ được sở hữu một nhà ở và tại thời điểm được tặng cho, được thừa kế đang có sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

2. Tổ chức, cá nhân được tặng cho, được thừa kế nhà ở quy định tại khoản 1 Điều này được trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác bán nhà ở khi đã có các giấy tờ sau đây:

a) Hợp đồng tặng cho, giấy tờ về thừa kế nhà ở được lập theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở, Nghị định này và pháp luật về dân sự Việt Nam;

b) Một trong các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của bên tặng cho, bên để thừa kế nhà ở theo quy định sau đây:

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã được cấp theo quy định của Luật Nhà ở;

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp theo quy định tại Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị;

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã được cấp theo quy định tại Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai mà trong nội dung giấy chứng nhận đã có ghi nhận về nhà ở của bên tặng cho, bên để thừa kế;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai.

c) Văn bản ủy quyền bán nhà ở được lập theo quy định của pháp luật về dân sự Việt Nam (nếu ủy quyền cho người khác bán nhà ở).

Toàn văn Nghị định 71/2010/NĐ-CP