Showing posts with label Report. Show all posts
Showing posts with label Report. Show all posts

Wednesday, January 25, 2012

Human Rights Watch – Phúc trình Toàn cầu 2012 về Việt Nam


 

VRNs (25.01.2012) – Human Rights Watch – Lúc 23:16, ngày 24.01.2012, Tổ chức theo dõi nhân quyền, khu vực Á Châu, đã gởi đến VRNs bản Phúc Trình Toàn Cầu 2012 về Việt Nam và Trung Quốc.
VRNs xin giới thiệu để độc giả khắp nơi có cơ hội tham khảo.

Wednesday, January 18, 2012

Bắc Kinh quan tâm thái độ người Việt ở Mỹ trong vấn đề Biển Ðông



January 18, 2012 8:35:42 PM
                     



Ðọc tạp chí 'Quan Hệ Quốc Tế Hiện Ðại,' Trung Quốc, số 6/2011


LTS - Bài viết dưới đây do độc giả Việt Tâm chọn, hiệu đính, ghi chú, và gởi đến Người Việt. Trong phần  lời dẫn, Việt Tâm giới thiệu: "Mới đây, tập san Các vấn đề quốc tế ở Hà Nội, số ra tháng 10, 2011 cho dịch và đăng lại một bài nghiên cứu khá cặn kẽ của Trung Cộng đăng trên tạp chí Quan hệ quốc tế hiện đại của Trung Quốc, số ra tháng 6, 2011, viết về cộng đồng người Việt trên đất Mỹ và ảnh hưởng của họ đối với chính sách của Mỹ về tranh chấp Biển Ðông. Mặc dầu ngôn ngữ bài viết có thể phản cảm đối với chúng ta (tỷ như cho người Việt ở Mỹ là "chống lại tổ quốc," thậm chí lại còn mô tả là "phản quốc" - nhưng có lẽ chỉ với dụng ý là người Việt hải ngoại chống lại chế độ ở quê nhà, hoặc gọi Việt Nam là "mẫu quốc" của chúng ta, lẽ ra chỉ nên gọi là "quê hương đất tổ" mà thôi) nhưng nói chung, bài viết có thể xem được là khá khách quan dựa trên những con số và những dữ kiện có thật, thuộc loại "nói có sách, mách có chứng." Dù ta đồng ý hay không với những nhận định và kết luận của bài viết, đây cũng là một bài viết có cơ sở và lạ thay, đánh giá khá tích cực vai trò của người Mỹ gốc Việt trong cuộc vận động về Biển Ðông bên cạnh chính quyền Mỹ."
Tòa Soạn giới thiệu bài viết cùng những đoạn in nghiêng do Việt Tâm thực hiện, nhằm "nhấn mạnh để lưu ý độc giả." Tựa bài do Người Việt đặt

*** 
Sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, ảnh hưởng từ [các] nhóm lợi ích trong các quyết sách ngoại giao của Mỹ ngày càng gia tăng, dẫn đến sự vận động chính trị của các nhóm dân tộc ít người cũng tích cực hơn. Một trong những hậu quả là nhóm dân tộc ít người vận động chính trị không chỉ gây ảnh hưởng đối với lợi ích quốc gia trong thực tế hoặc trong tư tưởng của mẫu quốc (quê hương), mà còn gây ảnh hưởng đến lợi ích của nước thứ ba, đến quan hệ giữa Mỹ, mẫu quốc (quê hương họ) với nước thứ ba. Nói cách khác, nhóm vận động chính trị của dân tộc ít người không những đang ngày càng vượt khỏi mối quan hệ song phương giữa Mỹ và mẫu quốc mà còn gây ảnh hưởng quốc tế với phạm vi rộng lớn hơn. Sự vận động chính trị [của] người Mỹ gốc Việt là một điển hình.

Thursday, December 29, 2011

Kinh tế 2011 và dấu ấn chuyên gia: Chưa bao giờ như năm nay



NGUYÊN THẢO
29/12/2011 07:02 (GMT+7)
pictureNguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển tại một hội thảo tại Tp.HCM. Chưa bao giờ các cuộc tham vấn chuyên gia kinh tế lại dày đặc như năm 2011.

Hơn 10 tháng trước, trong phòng chờ chuyến bay Hà Nội - Tp.HCM hôm 22/2, người viết bài này tình cờ gặp một vị chuyên gia kinh tế, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia.



Khoảng một giờ trước đó, ông có mặt tại cuộc tham vấn của người đứng đầu Chính phủ với Hội đồng này và một số chuyên gia kinh tế khác.


Thursday, December 1, 2011

JITCO ベトナムにおける最新ビジネス事情



JETRO 海外調査部アジア大洋州課 

古賀健司

はじめ


私は、2010 年8月から2011 年7月末まで、社内の研修プログラムの一環としてベトナム語を習得するべく、ベトナム中部ダナンのダナン大学でベトナム語を学ぶとともに、ホームステイやボランティアを通してベトナムの文化、社会に触れてきました。

近年、ベトナムでのビジネスに関する関心が非常に高くなっておりますが、今回は、読者の皆様にベトナムの最新事情について理解して頂くため、私がベトナムで実際に経験してきたことを交えながら、ベトナム経済を理解するためのキーワードを紹介したいと思います。


Friday, November 25, 2011

25/11 BÁO CÁO GIẢI TRÌNH VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG


25/11/2011
BÁO CÁO GIẢI TRÌNH VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN
CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG
tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khoá XIII
_________
Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các vị đại biểu Quốc hội,
Thưa đồng bào đồng chí,

Trước hết, thay mặt Chính phủ, tôi xin chân thành cảm ơn Quốc hội đã cơ bản đồng tình với các Báo cáo của Chính phủ và đã thông qua các Nghị quyết về kinh tế, xã hội năm 2012 và 5 năm 2011 - 2015.

Tại Kỳ họp này, đã có 77 đại biểu Quốc hội gửi 145 phiếu chất vấn với 237 câu hỏi đến Thủ tướng và các thành viên Chính phủ; trong đó có 11 câu hỏi chất vấn Thủ tướng. Chính phủ đánh giá cao các vị đại biểu Quốc hội đã chất vấn về những vấn đề thiết thực trong quản lý điều hành của Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các thành viên Chính phủ trả lời bằng văn bản đến các vị đại biểu Quốc hội. Hai ngày qua đã có 5 Bộ trưởng trực tiếp và 2 Phó Thủ tướng cùng 6 Bộ trưởng tham gia trả lời chất vấn tại Hội trường. Các ý kiến giải trình, trả lời chất vấn của các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng là trách nhiệm và cầu thị. Thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo, giải trình thêm về một số nội dung mà nhiều đại biểu Quốc hội và đồng bào cả nước quan tâm, chất vấn. Đây cũng là những công việc mà Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo trong thời gian tới.

Wednesday, October 19, 2011

19/10 Nâng cao chất lượng các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết trình kỳ họp HĐND tỉnh

 19/10/2011
Tham luận của HĐND tỉnh Nam Định tại Hội nghị Nâng cao chất lượng kỳ họp HĐND các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc, do ỦY VIÊN THƯỜNG TRỰC TRƯƠNG ANH TUẤN trình bày

Trong hoạt động của HĐND, kỳ họp là hình thức hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất. Nâng cao chất lượng của kỳ họp là một vấn đề quan trọng, luôn mang tính thời sự, được đặt ra ngày càng bức thiết, rất cần được trao đổi, rút kinh nghiệm, đặc biệt trong thời gian đầu của nhiệm kỳ 2011 - 2016.

Nhiệm kỳ vừa qua, HĐND tỉnh Nam Định đã chú trọng thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định; phương thức hoạt động của HĐND, về cơ bản, đã làm tốt công tác phối hợp giữa Thường trực HĐND với UBND trong chuẩn bị và tổ chức kỳ họp; công tác TXCT được triển khai bài bản; công tác giám sát, thẩm tra trước kỳ họp có chuyển biến tích cực; chất lượng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn được nâng lên; công tác thông tin tuyên truyền tại kỳ họp được quan tâm; tại các kỳ họp, HĐND đã ban hành các nghị quyết phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo cử tri và nhân dân địa phương; chất lượng kỳ họp HĐND đã nâng lên một bước, đóng góp tích cực vào sự phát triển KT-XH với vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương.

Sunday, September 25, 2011

Ai đưa Nguyễn Tấn Dũng lên đỉnh quyền lực?


Hà Giang/Người Việt - Trong một chuyến viếng thăm tỉnh Kiên Giang vào hai ngày 6 và 7 tháng 4 năm 2006, ông Seth Winnick, tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, đã tìm hiểu qua giới chức địa phương về thân thế một nhân vật từng có thời niên thiếu ở vùng này, đó là ông Nguyễn Tấn Dũng, khi đó là phó thủ tướng Việt Nam.

Những dữ kiện thu thập trong chuyến đi được ông Seth Winnick tường trình trong công điện ngày 13 tháng 4 năm 2006, gửi về cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Ðốn, vẽ nên chân dung ông Dũng như một người con yêu của Kiên Giang, và giải thích lý do tại sao sự nghiệp chính trị của ông Dũng chỉ trong một thời gian ngắn đã lên như diều gặp gió.

Sunday, July 24, 2011

24/07 Hai cách nhìn về ông Nguyễn Tấn Dũng

24 Jul 2011
Ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Nguyễn Sinh Hùng (trái)
Ông Dũng bị tố cáo trấn áp nhân quyền nhưng cũng có báo nước ngoài nói ông là lãnh đạo 'giỏi'
Hãng thông tấn Pháp AFP nói người ta sợ có thêm trấn áp trong nhiệm kỳ hai của TT Nguyễn Tấn Dũng trong khi báo Hàn Quốc khen ngợi.
Trong bản tin ngày 24/7, AFP nói ông Dũng sẽ được quốc hội chọn làm thủ tướng nhiệm kỳ hai trong cuộc bỏ phiếu có tính 'biểu tượng' vì Đảng Cộng sản đã bầu ông vào Bộ Chính trị trước đó.
Theo hãng thông tấn này, trong nhiệm kỳ đầu của ông Dũng, người từng là thứ trưởng công an, tình hình nhân quyền đã xấu đi và các nhà hoạt động sợ rằng Hà Nội sẽ đàn áp giới bất đồng chính kiến "từ trong trứng" vì lo sợ trước làn sóng bạo động ở Trung Đông và Bắc Phi và sự bất mãn của người dân về tình hình kinh tế.

Saturday, July 2, 2011

01/07 Biển Đông: Giành thời cơ, thoát hiểm hoạ

Tác giả: TS LÊ HỒNG NHẬT*
Bài phân tích của TS Lê Hồng Nhật (ĐHQG, TP.HCM) là một góc nhìn sâu về bản chất xung đột chủ quyền ở Biển Đông, cuộc chơi chèn ép chủ quyền song phương mà Trung Quốc đang tiến hành, đồng thời kiến nghị những lựa chọn chính sách cho Việt Nam.
Kể từ số này, Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả như một góc nhìn cần tham khảo. Bài viết dưới đây thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, không đại diện cho nơi tác giả đang làm việc.
Bài 1: Bản chất của xung đột chủ quyền tại Biển Đông
Vấn đề Biển Đông
Chuỗi các tranh chấp về chủ quyền gần đây giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines ngay tại vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước này khiến cho dư luận lo ngại nguy cơ chạy đua vũ trang, gây mất ổn định khu vực, và nêu ra sự cần thiết có cơ chế an ninh khu vực đủ hiệu quả để ngăn chặn nguy cơ này.
Theo tôi, nguy cơ chạy đua vũ trang của các nước nhỏ trong vùng quanh Biển Đông sẽ không phải là xu thế chủ đạo. Xu thế chính sẽ là việc Trung Quốc sử dụng sự vượt trội về sức mạnh mềm và kinh tế để chèn ép (holdup) từng nước nhỏ trong quan hệ song phương, nhằm thiết lập dần chủ quyền trên thực tế (de facto control righs) của mình tại các vùng biển đảo thuộc chủ quyền của các quốc gia khác. Nhờ đó, tạo nên sự "trỗi dậy hoà bình" thực sự, mà không tốn một phát súng.
Nếu vậy, sẽ khó có một cơ chế an ninh hay tuyên bố chung nào giữa Trung Quốc và các nước Asean, như Nguyên tắc ứng xử Biển Đông (COC), có thể làm đảo ngược được xu thế đã, đang và sẽ diễn ra này. Mặt khác, xu thế đó sẽ dễ làm bùng nổ một cuộc xung đột quân sự song phương, leo thang thành xung đột khu vực, mà không được tiên liệu trước bởi bất cứ bên nào. Một khi xung đột khu vực đã nổ ra thì sẽ không có lợi cho bất kỳ ai, kể cả Trung Quốc.
Một cơ chế an ninh quốc tế, có tính đa phương, lồng trong khuôn khổ quan hệ chủ quyền có tính song phương, là giải pháp duy nhất để ngăn chặn nguy cơ nói trên, vì sự ổn định, thịnh vượng của khu vực và trật tự quốc tế.
Bản chất của xung đột chủ quyền tại Biển Đông
Nếu chúng ta nhìn vào bản đồ phân chia quyền về lãnh hải của từng quốc gia trên Biển Đông, thì chủ quyền biển của từng quốc gia và trật tự hàng hải quốc tế đã được phân định rõ theo công ước của Liên hiệp quốc về luật biển (UNCLOS 1982). Vậy tại sao Trung Quốc lại ngang nhiên đưa ra đường lưỡi bò "liếm trọn" Biển Đông - điều mà chỉ có thể xảy ra, nếu bánh xe lịch sử bị quay ngược trở lại trước thế chiến thứ hai, khi Việt Nam, Philippines và các nước quanh Biển Đông chưa được công nhận là các quốc gia độc lập, khi dân tộc Việt Nam, Philipines và các dân tộc khác chưa có quyền được hưởng tự do và độc lập?
Bản đồ 1: Sự phân định ranh giới lãnh hải theo Công ước quốc tế về Luật Biển (UNCLOS) và tham vọng chiếm Biển đông, bất chấp Công ước và Luật Quốc tế, của Trung Quốc
Nói như vậy để thấy rằng, chủ quyền của một quốc gia (sovereignty) phải được hiểu theo cả hai nghĩa: (1) Theo sự công nhận của cộng đồng quốc tế, và đi kèm theo đó là các công ước quốc tế về chủ quyền. (2) Theo khả năng của nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền của quốc gia, mà cơ bản nhất là đảm bảo an ninh quốc phòng; bảo vệ quyền của người dân khai thác tài nguyên và sinh sống trên nơi mà cha ông họ đã sinh sống qua ngàn đời, dù là trên đất liền, hay trên biển đảo.
Khi áp dụng cách hiểu này về vai trò của nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia vào vấn đề bảo đảm trật tự hàng hải quốc tế, thì các cường quốc như Mỹ, Nhật, phải đóng vai trò "siêu nhà nước". Họ đảm bảo quyền tự do lưu thông và an ninh trên vùng biển quốc tế. Nói khác đi, họ cung cấp các hàng hoá công có tính quốc tế này. Trong một số hoàn cảnh đặc biệt, như việc chống nạn cướp biển tại Somalia, sự hợp tác giữa nhiều quốc gia lớn nhằm đảm bảo an toàn hàng hải quốc tế cũng là một giải pháp.
Nếu tại một quốc gia, chi phí cho sự đảm bảo an ninh chủ quyền biển được tài trợ thông qua thuế thì vai trò đảm bảo an ninh và trật tự quốc tế về biển của các siêu cường được tài trợ bởi lợi ích có được từ tự do lưu thông hàng hải và mậu dịch quốc tế và hợp tác khai thác tài nguyên biển như dầu lửa, nguồn đánh bắt cá, với sự đồng thuận của quốc gia sở tại, có chủ quyền.
Như vậy, nhìn theo quan điểm quốc tế, chủ quyền về khai thác tài nguyên biển (dầu lửa, đánh bắt cá) trong vùng đặc quyền kinh tế của mỗi quốc gia là một dạng hàng hoá tư, thuộc quyền sở hữu quốc gia, được công ước quốc tế công nhận, và được làm cho có hiệu lực bởi vai trò bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của nhà nước của quốc gia đó.
An toàn và tự do lưu thông trên đường hàng hải quốc tế, mặt khác, lại là hàng hoá công, vì việc tàu bè của một nước được đi lại tự do và được bảo vệ an toàn trên đường biển quốc tế không loại trừ tàu bè của nước khác cũng được hưởng quyền và dịch vụ như vậy. Điều này rõ ràng là khác với quyền đánh bắt cá và khai thác dầu trên thềm lục địa của một quốc gia độc lập, theo nghĩa, một quốc gia khác, dù lớn mạnh đến đâu, cũng không được quyền xâm phạm nguồn tài nguyên thuộc đặc quyền kinh tế của quốc gia có chủ quyền, cho dù quốc gia đó có thể nhỏ và yếu hơn họ nhiều lần.
Tính loại trừ sự xâm lấn hay tính chủ quyền thiêng liêng này, như đã nói, là chuẩn mực được cả cộng đồng thế giới công nhận; nhưng nó cũng cần phải được bảo vệ bởi chính nhà nước có chủ quyền. Ngược lại, một quốc gia lớn, dùng sức mạnh, dù là quyền lực mềm hay cứng, để xâm phạm chủ quyền của một nước nhỏ, thì sự chiếm đoạt đó không bao giờ có thể làm nền tảng cho chủ quyền dưới tên gọi của quốc gia đi xâm chiếm đó, như lịch sử đã nhiều lần chứng minh.
Xung đột chủ quyền Biển Đông không chỉ là vấn đề song phương
Như vậy, chủ quyền quốc gia không phải là một khái niệm biệt lập. Với sự bất cân xứng vốn có về sức mạnh kinh tế và quân sự giữa các quốc gia có chủ quyền thì các quan hệ kinh tế, chính trị và quân sự giữa các quốc gia lớn và nhỏ, chia sẻ cùng một lợi ích chiến lược phù hợp với công ước và luật pháp quốc tế sẽ tạo ra khối liên minh chính thức hay phi chính thức. Sức mạnh của liên minh tạo ra một sự răn đe hữu hiệu đối với sự xâm lấn dưới tên của bất kỳ quốc gia lớn hơn nào với một dân tộc có chủ quyền, nhưng yếu hơn về kinh tế và quân sự. Một khi liên minh bị suy yếu đi, thì sự cân bằng về trật tự quốc tế và khu vực bị thay đổi, do xuất hiện những vùng trống về quyền lực. Tuy nhiên, sự thay đổi về trật tự thế giới đó (và sự trỗi dậy của "người" bảo hộ cho trật tự mới đang hình thành) có trở thành một xu thế toàn cầu hay không, phụ thuộc rất nhiều vào tính chính nghĩa của tiến trình như vậy. Một khi tính phi nghĩa lấn át, mà cực điểm là chủ nghĩa phát xít, thì sớm hay muộn, tham vọng phi nghĩa đó sẽ bị diệt vong.
Những năm 2008 - 2010 chứng kiến cuộc khủng hoảng toàn cầu, bắt đầu từ Mỹ, lan dần sang các nước Tây Âu. Điều đó kéo theo hai hệ luỵ: thứ nhất, nước Mỹ, do áp lực nợ chồng chất sau hai cuộc chiến chống khủng bố ở Iraq và Afghanistan và khủng hoảng kinh tế, đã bị yếu đi rất nhiều về khả năng triển khai sức mạnh cứng để duy trì trật tự quốc tế tại các vùng biển có tính chiến lược, nhưng sẽ quá tốn kém, nếu xung đột thực sự xảy ra. Vụ tàu Trung Quốc khiêu khích tàu USNS Impeccable trên vùng biển quốc tế gần quần đảo Hoàng Sa là một ví dụ. Thứ hai, sự suy yếu của kinh tế Mỹ sau khủng hoảng, cộng với sự trỗi dậy của Trung Quốc đã làm thay đổi các dòng thương mại, vốn đầu tư quốc tế theo hướng biến các nước thuộc vùng ngoại biên (periphery) xích lại gần hơn, phụ thuộc nhiều hơn vào sức mạnh đồng tiền và quyền lực mềm của Trung Quốc. Nói khác đi, các liên minh hiện hữu bị yếu đi. Cùng với nó là khả năng bảo vệ chủ quyền của các quốc gia thành viên thuộc liên minh hay khối hợp tác như Apec hay Asean bị suy giảm.
Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đứng trước hai lựa chọn: thứ nhất, phối hợp với các cường quốc trên thế giới, đứng đầu là Mỹ, cung cấp hàng hoá công cho việc duy trì trật tự quốc tế, sự ổn định và phát triển phồn thịnh dựa trên hợp tác và thương mại toàn cầu. Thứ hai, thay thế Mỹ và các đồng minh chiến lược của Mỹ là Tây Âu và Nhật, thiết lập trật tự thế giới mới và lập liên minh quân sự mới do Trung Quốc đứng đầu nhằm cưỡng chế sự tuân thủ trật tự mới đó (theo Unirule).
Trên thực tế, Trung Quốc đã lựa chọn con đường thứ hai. Tiến trình này bắt đầu bằng việc chà đạp lên công ước về phân chia lãnh hải trên Biển Đông (theo UNCLOS 1982), nhằm biến nó thành vùng biển thuộc Trung Quốc. Tham vọng này của Trung Quốc hoàn toàn không dễ dàng thực hiện được,vì rằng: (i) Nó xóa bỏ trên thực tế chủ quyền của các quốc gia quanh Biển Đông, đi ngược lại xu thế tiến bộ của thời đại về phong trào giành quyền độc lập cho các dân tộc, sau khi chủ nghĩa phátxít bị đánh bại. (ii) Về dài hạn, nó tạo tiền lệ cho việc chiếm đoạt quyền tự do lưu thông và an toàn hàng hải trên các tuyến đường biển quốc tế. Thay vào đó, các quốc gia khác (ngoài Trung Quốc) sẽ phải nộp phí, chịu phạt, hoặc bị cấm không được sử dụng các tuyến đường biển và đường không quốc tế, nay do Trung Quốc kiểm soát.
Điểm cốt lõi ở đây là có sự khác biệt rất rõ ràng giữa tuyến hàng hải quốc tế với tuyến hàng hải thuộc địa phận Trung Quốc. Khi nảy sinh mâu thuẫn chính trị hay xung đột về lợi ích, Trung Quốc có thể dùng quyền kiểm soát để cấm quốc gia có liên quan thông thương trên vùng Biển Đông, mặc dù về nguyên tắc, Trung Quốc cam kết duy trì tự do lưu thông.
Sự chèn ép ở quy mô quốc tế này không thể xảy ra, nếu Trung Quốc không thể áp đặt được quyền kiểm soát trên thực tế về vùng biển bị bao quanh bởi đường lưỡi bò.
Như vậy, xung đột chủ quyền tại Biển Đông hiện nay không phải chỉ là vấn đề song phương mà là vấn đề về an ninh khu vực và quốc tế. Trung Quốc hiểu rất rõ điều đó và Trung Quốc hiểu rằng Mỹ, Nhật, Tây Âu và các cường quốc khác trên thế giới như Nga, Ấn Độ cũng hiểu là Trung Quốc đang toan tính gì. Cuộc chơi chèn ép trên bình diện quốc tế này thể hiện tính phiêu lưu trong chiến lược mà Trung Quốc đang theo đuổi. Việc phân tích kỹ ván bài đó sẽ tạo nên sự đồng thuận quốc tế nhằm giải quyết xung đột, được Trung Quốc tô điểm thành xung đột song phương về chủ quyền "không thể tranh cãi", mà Trung Quốc là bên bị xâm hại.
(còn nữa)

Tuesday, May 24, 2011

24/05 Tình hình thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 trong ngày bầu cử 22 tháng 5 năm 2011


24/05/2011 10:28
Ngày 23 tháng 5 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn đã ký Báo cáo số 1751/BC - BNV Báo cáo tình hình thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 trong ngày bầu cử 22 tháng 5 năm 2011.

Theo Báo cáo số 1751/BC-BNV, Bộ Nội vụ báo cáo nhanh tình hình tổ chức ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016; trong đó có một số nội dung như sau:
Thực hiện nhiệm vụ của Thủ tướng Chính phủ giao tại Chỉ thị số 192/2011/CT-TTg ngày 31/01/2011 về tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016; thực hiện chế độ thông tin báo cáo theo tiến độ thực hiện công tác bầu cử, Bộ Nội vụ đã có các báo cáo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Hội đồng bầu cử về tình hình thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo tiến độ từng giai đoạn triển khai của cuộc bầu cử và tình hình chuẩn bị cho ngày bầu cử.
Ngày 22/5/2011, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tổ chức ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Hơn 62 triệu cử tri cả nước đã thực hiện quyền chính trị cơ bản nhất của công dân, thực hiện việc bầu cử các đại biểu đại diện cho nhân dân tại Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong nhiệm kỳ khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương trong nhiệm kỳ mới 2011-2016.
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC BẦU CỬ ĐBQH KHOÁ XIII VÀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HĐND CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2011-2016 TRONG CẢ NƯỚC
1. Không khí khai mạc ngày bầu cử 22/5/2011

Công tác tổ chức ngày bầu cử ở các tỉnh, thành phố diễn ra đúng luật, an toàn, trang trọng, tạo được không khí khai mạc sôi nổi và ngày bầu cử là ngày hội toàn dân. Một số Tổ bầu cử của các tỉnh như Trà Vinh (226 Tổ Bầu cử), Ninh Thuận, Kiên Giang, Sơn La, Lai Châu, Nghệ An, Vĩnh Phúc khai mạc sớm vào lúc 5h-6h sáng ngày 22/5/2011. Nhìn chung các khu vực bỏ phiếu trong cả nước đều khai mạc đúng giờ quy định.

Theo báo cáo từ các địa phương, không khí giờ khai mạc cuộc bầu cử diễn ra trang trọng, nghiêm túc. Ở nhiều địa điểm bỏ phiếu, cử tri tham dự khai mạc đông và tham gia bỏ phiếu sớm, nhanh so với tiến độ chung. Nhiều nơi, có số cử tri tham dự khai mạc đông như tại một số Tổ bầu cử của Hà Nội 300 cử tri dự khai mạc; tỉnh Bắc Ninh có một số Tổ bầu cử có 135-140 cử tri dự khai mạc. Theo thống kê bước đầu, số cử tri trung bình dự khai mạc khoảng 50-70 cử tri ở các khu vực bỏ phiếu; lượng cử tri tham dự thấp nhất cũng có 30 người. Tại các địa phương, các vị lãnh đạo cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các cụ cao tuổi, cử tri lần đầu tiên đi bầu cử đã tham dự khai mạc và bỏ những lá phiếu đầu tiên. Tại tổ bầu cử số 3, xã Nguyệt Đức, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ bầu cử đã mời hai cử tri là Cụ Kim Thị Vinh 105 tuổi và cụ Nguyễn Thị Chuyên 107 tuổi dự khai mạc và bỏ phiếu đầu tiên trước khi các cử tri khác thực hiện quyền công dân.
Đài truyền hình, cơ quan báo chí Trung ương và các địa phương đều cử phóng viên tham dự một số điểm bầu cử để kịp thời đưa tin, phản ảnh trực tiếp không khí Lễ khai mạc ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử HĐND tại một số khu vực bỏ phiếu trên địa bàn. Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức các điểm cầu truyền hình trực tiếp tại một số địa phương để phản ánh không khi ngày bầu cử, giờ khai mạc và tiến độ thực hiện bầu cử của cử tri trong cả nước.

Để động viên cử tri địa phương tích cực tham gia bỏ phiếu, nhất là cử tri vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện đã xuống tận các thôn, bản, ấp để cùng bà con thực hiện bầu cử. Các thành viên Uỷ ban bầu cử, Ban Bầu cử các cấp và thành viên Tổ bầu cử phân công thành viên xuống từng địa bàn để vận động cử tri tham gia bầu cử. Một số tỉnh có nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã tổ chức các xe đưa đón công nhân tham gia bỏ phiếu ở các điểm bỏ phiếu. Đối với các điểm dân cư xa khu vực bỏ phiếu hoặc nơi các địa hình phức tạp, đi lại khó khăn, các địa phương đã tổ chức hòm phiếu phụ, hòm phiếu di động để phục vụ bà con tham gia bỏ phiếu.
2. Về tiến độ cử tri đi bỏ phiếu bầu cử ở các địa phương

a) Đến thời điểm 10 giờ ngày 22/5/2011

- Đến 10 giờ, hầu hết các tỉnh, thành phố đã có tỉ lệ cử tri đi bầu cử đạt trên 50% số cử tri có tên trong danh sách tham gia bầu cử ở địa phương, nhiều tỉnh có số lượng cử tri đi bầu cử đông ngay sau giờ khai mạc như tỉnh Lai Châu đã có 44/974 khu vực bỏ phiếu có 100% cử tri đi bầu cử; xã Đình Chu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh phúc đã có 100% cử tri đi bầu cử, ngoài ra có 35 khu vực bỏ phiếu tại các huyện Lập Thạch, huyện Yên Lạc, Bình Xuyên, Sông Lô của tỉnh có 100% cử tri đi bầu và một số khu vực bỏ phiếu của Phú Yên (55 khu vực), Bình Định 150 khu vực, Quảng Trị 57 khu vực đã có 100% cử tri đi bầu.

- Một số tỉnh, thành phố trong cả nước cũng đạt tỉ lệ cử tri đi bầu cao đến thời điểm này là tỉnh Vĩnh Phúc đạt 85% tỉ lệ cử tri đi bầu; Lào Cai 80%; Bạc Liêu 81,65%. Một số tỉnh có tỉ lệ cử tri đi bầu đạt đến thời điểm này là Nam Định 20%, Bắc Ninh 27%, An Giang 30%, Bình Phước 35%.

- Tại các khu vực bỏ phiếu thuộc các đơn vị lực lượng vũ trang, nhiều khu vực bỏ phiếu đã có 100% cử tri là chiến sỹ công an, quân đội đã tham gia bỏ phiếu.

b) Đến thời điểm 16 giờ ngày 22/5/2011

- Hầu hết các địa phương trong cả nước đã đạt tỉ lệ trên 80% cử tri đi bầu so với số lượng cử tri trong danh sách. Nhiều tỉnh có tỉ lệ cử tri đi bầu đạt trên 90% như Thừa Thiên –Huế đạt 99,66%, Bình Phước đạt 99,07%, Sơn La đạt 98,3%, Đà Nẵng đạt 98,17%, Quảng Nam và Đắc Nông đạt 98%, An Giang đạt 97,75%, Trà Vinh 97,44%; Thủ đô Hà Nội đạt 95,36%.

- Trong cả nước, nhiều khu vực bỏ phiếu ở các tỉnh, thành phố đã có 100% cử tri đi bầu cử. Thành phố Hà Nội có 1.242 trên tổng số 4.807 khu vực bỏ phiếu đã có 100% cử tri đi bầu cử; cử tri trong lực lượng vũ trang Công an và Quân Đội đã cơ bản hoàn thành việc bỏ phiếu.

Tuy nhiên, một số tỉnh có cử tri đi bầu đạt chưa cao như Bắc Ninh đến 15 giờ, toàn tỉnh mới đạt 78,26%, trong đó chỉ mới có 14 khu vực bỏ phiếu trên tổng số 1.000 khu vực bỏ phiếu có 100% cử tri đi bầu. Cá biệt tỉnh Hưng Yên đến thời điểm 14 giờ, tại 02 khu vực bỏ phiếu của xã Cửu Cao, huyện Văn Giang mới chỉ đạt 37,6% và 39,8% cử tri đi bầu cử; xã Việt Hoà, huyện Khoái Châu chỉ đạt 40,66% cử tri đi bầu. Uỷ ban bầu cử tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt để phấn đấu hoàn thành đúng tiến độ, đạt tỉ lệ đi bầu trên 50% ở các khu vực bỏ phiếu này. Tuy nhiên, dự kiến, các Tổ bầu cử tại các khu vực bỏ phiếu này phải kéo dài thời gian bỏ phiếu sau 19 giờ.

c) Đến thời điểm 19 giờ ngày 22/5/2011

- Đến 19 giờ (giờ kết thúc bỏ phiếu theo quy định của Luật), theo tổng hợp từ các địa phương, hầu hết các tỉnh, thành phố đã hoàn thành việc bỏ phiếu.

Theo kết quả thống kê, nhiều tỉnh, thành phố đạt tỉ lệ cử tri đi bầu cử cao so với cử tri trong danh sách như: Hà Giang, Hoà Bình, Lạng Sơn đạt tỉ lệ 99,99%, Lào Cai đạt tỉ lệ 99,98%; Nam Định 99,70%; Sóc Trăng 99,69%; Thừa Thiên Huế 99,66%, Vĩnh Long 99,51%, Bình Định đạt tỉ lệ 99,45%; Cao Bằng 99,24%, Đà Nẵng 99,29%. Tuy nhiên, một số tỉnh đạt tỉ lệ thấp như Bình Thuận 75,15%; Bắc Ninh 78,26%; Gia Lai 77,43%; Hải Dương 78%.

Tính đến thời điểm này, cả nước đã có 59.280.079 trên tổng số 62.498.643 cử tri đã tham gia bỏ phiếu, đạt tỉ lệ trung bình trong toàn quốc là 94,85%.

d) Đến thời điểm 22 giờ ngày 22/5/2011(thời điểm kết thúc hoàn toàn cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp trong cả nước)

Đến thời điểm này, cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu cử ĐBQH khoá XIII và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

Theo báo cáo từ các địa phương, tỉ lệ cử tri đi bầu so với cử tri trong danh sách cả nước đạt cao; hầu hết các tỉnh, thành phố đều đạt trên 97% cử tri đi bầu cử. Nhiều tỉnh, thành phố đạt tỉ lệ rất cao như Lạng Sơn, Hoà Bình, Hà Giang, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Sóc Trăng đạt tới 99,99%, Đồng Nai đạt 99,93%, Ninh Thuận đạt 99,83%.
Hiện nay, các địa phương đang tập trung cho việc kiểm phiếu để sớm xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp trên địa bàn để kịp thời báo cáo các cơ quan có thẩm quyền trong thời gian tới.
3. Tình hình thời tiết trong ngày bầu cử

Mặc dù trước ngày bầu cử, nhiều địa phương trong cả nước có mưa lớn, song chính quyền địa phương và các Tổ bầu cử đã có phương án phòng tránh và khắc phục nên đã thực hiện tốt việc bảo quản, gìn giữ hòm phiếu, phiếu bầu, tài liệu liên quan và các cơ sở vật chất - kỹ thuật cho ngày bầu cử.

Đến thời điểm 10h ngày 22/5/2011, nhìn chung, thời tiết ngày bầu cử ở hầu hết các địa phương ba miền Bắc – Trung – Nam diễn biến tốt, trời nắng đẹp, thuận lợi cho cử tri đi bỏ phiếu thực hiện quyền công dân. Một số nơi có mưa nhỏ, cá biệt có nơi có mưa đá như ở Quảng Nam, Kon Tum … nhưng các địa phương đã có phương án dự phòng giải quyết, không ảnh hưởng đến công tác bầu cử và việc bỏ phiếu của cử tri.

Thời điểm từ 16 giờ đến khi kết thúc hoàn toàn cuộc bỏ phiếu bầu cử (22 giờ), một số tỉnh, thành phố có mưa to cục bộ tại một số khu vực như Hà Nội, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Thái Nguyên, Hưng Yên. Cá biệt có một số nơi xảy ra lốc xoáy, mưa giông dẫn đến mất điện ở một số điểm dân cư của một xã của tỉnh Phú Thọ, Thái nguyên, Hưng Yên, Khánh Hoà, Sóc Trăng ảnh hưởng ít nhiều đến tiến độ bầu cử và công tác tổng hợp kết quả bầu cử.
4. Dư luận trong nhân dân về tình hình thực hiện công tác bầu cử

Từ sự chuẩn bị kỹ lưỡng của các cấp chính quyền địa phương, công tác phổ biến, quán triệt và tuyên truyền đầy đủ mục đích, ý nghĩa của cuộc bầu cử, quyền và nghĩa vụ của công dân trong cuộc bầu cử và sự đôn đốc, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng và chính quyền nên ngay từ thời điểm khai mạc, cử tri đã hăng hái, tích cực tham gia bầu cử, thực hiện trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân.

Theo báo cáo từ các địa phương, nhìn chung dư luận trong nhân dân tốt, cử tri phấn khởi, tin tưởng vào sự thành công của cuộc bầu cử. Mỗi cử tri đi bầu cử đều mong muốn góp phần vào thành công chung của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Biểu hiện cụ thể nhất là tỉ lệ cử tri đi bầu cử ở hầu hết các địa phương đạt cao. Nhiều địa phương do có tỉ lệ cử tri tích cực tham gia bỏ phiếu ngay từ sau giờ khai mạc nên nhiều khu vực bỏ phiếu đã hoàn thành sớm việc bỏ phiếu.

Không khí dân chủ, cởi mở trên cơ sở bảo đảm đúng pháp luật là không khí chung của nhân dân ở các địa phương trong cả nước trong ngày bầu cử.
5. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trong ngày bầu cử

Theo báo cáo từ các địa phương, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đến thời điểm này của ngày bầu cử được bảo đảm và giữ vững trong toàn quốc. Các lực lượng công an, quân sự ở địa phương đã phối hợp chặt chẽ, đẩy mạnh các biện pháp nghiệp vụ, kiểm tra, giám sát thường xuyên, đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối cho ngày bầu cử.
Tin: Phương Hằng (Nguồn: Báo cáo số 1751/BC - BNV)

Thursday, December 23, 2010

22/12/2010 Năm 2011: Cơ hội đầu tư cổ phiếu theo nhóm ngành


Thứ Tư, 22/12/2010 | 09:46
Báo cáo phát hành trên website có độ trễ so với VietstockTrader


(Vietstock) – Tổng hợp nhận định cơ hội đầu tư trong năm 2011 đối với cổ phiếu các nhóm ngành: Cao su thiên nhiên, Thủy sản, Tôn – Thép, Mía đường, Bất động sản, Khoáng sản, Nhựa, Nông sản, Vận tải biển & Kho bãi.
CỔ PHIẾU NGÀNH CAO SU THIÊN NHIÊN
Diễn biến chính trong năm 2010: Giá cao su thiên nhiên tiếp tục ở mức cao giúp kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh trong quý 3/2010. Trong 9T/2010, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su đạt 516 ngàn tấn và 1,422 triệu USD, tương ứng tăng 6.8% và 95.6% so với cùng kỳ năm 2009. Như vậy, sản lượng tăng không đáng kể, nhưng do giá xuất khẩu tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước nên kim ngạch xuất khẩu tăng tới 95.6%.
Trung Quốc vẫn là thị trường chính nhập khẩu cao su của Việt Nam, nhưng đang trong xu hướng giảm dần. Việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu khác thay thế dần thị trường Trung Quốc là định hướng hợp lý của các doanh nghiệp trong ngành. Tuy vậy, hiện tại nhu cầu cao su của Trung Quốc vẫn đang gia tăng. Chúng tôi cho rằng khả năng Trung Quốc hoàn toàn giảm mạnh nhập khẩu cao su từ Việt Nam là rất khó xảy ra, và không được xem là rủi ro quá lớn.
Triển vọng: Theo Hội nghị Thượng đỉnh toàn cầu về cao su, thị trường cao su thế giới sẽ phải đối mặt với áp lực nguồn cung giảm mạnh trong 2 năm tới (2011 và 2012) và giá cả tăng do sản lượng suy giảm, trong khi nhiều đồn điền cao su đang trong giai đoạn trồng mới. Đây là yếu tố thuận lợi có thể giúp ngành cao su thiên nhiên Việt Nam tiếp tục đạt được kết quả ấn tượng trong quý 4/2010.
Khoảng 80% sản lượng cao su Việt Nam được xuất khẩu nên các doanh nghiệp trong ngành hầu hết được hưởng lợi do chính sách nới rộng tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.
Trung Quốc là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trên thế giới hiện nay. Với ngành công nghiệp ô tô phát triển mạnh, nhu cầu tiêu thụ cao su của Trung Quốc vẫn đang gia tăng.
Biến động thời tiết là rủi ro lớn nhất đối với các doanh nghiệp trong ngành.
Cổ phiếu quan tâm: DPRTRC, và PHR
CỔ PHIẾU NGÀNH THỦY SẢN
Diễn biến chính trong năm 2010: Theo Tổng cục Thủy sản, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước 11 tháng đầu năm 2010 đạt 4.49 tỷ USD, tăng 16.3% so với cùng kỳ năm 2009.
Cá tra, basa: Trong 10 tháng đầu năm, cả nước đã xuất khẩu 538,201 tấn sản phẩm cá tra, đạt giá trị 1.15 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu tháng 10/2010 có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ đầu năm, tăng 11% so với cùng kỳ 2009 và đạt 166.7 triệu USD.
Mặc dù xuất khẩu cá tra, basa vẫn tăng trưởng nhưng đã gặp phải khá nhiều trở ngại. Nhiều thông tin được đăng tải bôi nhọ nhằm làm giảm giá trị của cá tra, basa Việt Nam đã liên tục xuất hiện trong thời gian qua. Sự kiện WWF đưa cá tra vào “danh sách đỏ” cũng là một ví dụ.
Gần đây, theo kết quả sơ bộ của Bộ Thương mại Mỹ (DOC) về thuế chống bán phá giá cho giai đoạn từ 01/08/2008 đến 31/07/2009, nhiều doanh nghiệp Việt Nam bị tăng thuế rất cao, lên đến 4.22 USD/kg, tương đương khoảng 130%.
Xuất khẩu cá tra và basa năm 2009 và 2010

Xuất khẩu tôm năm 2009 và 2010
Nguồn: Bộ Công thương

Nguồn: Bộ Công thương

Tôm: Trong 10 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu tôm tăng trưởng khá mạnh so với cùng kỳ và đạt 5.29 tỷ USD, chiếm 40.5% trong tổng kim ngạch và đứng đầu danh sách xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Nhật Bản vẫn là thị trường xuất khẩu tôm chính của Việt Nam; nhưng xuất khẩu tôm của Việt Nam hiện đang phải đối mặt với việc kiểm tra lượng trifluralin quá mức cho phép tại thị trường này.
Ngoài ra, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với tôm Việt Nam trong 5 năm tới, vì cho rằng việc gỡ bỏ thuế chống phá giá đối với tôm đông lạnh của Việt Nam có thể dẫn tới việc tái diễn tình trạng bán phá giá.

Triển vọng: Tình trạng thiếu nguyên vật liệu vẫn đang tiếp tục tái diễn và tạo áp lực lớn lên các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản. Nhiều nhà máy chế biến chỉ đang hoạt động khoảng 50-60% công suất, đặc biệt là các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu.
Trong quý 4, mùa thu hoạch tôm rộ hơn sẽ giúp nguồn cung nguyên liệu dồi dào so với trước đây. Trong khi đó, nhu cầu tôm dự báo sẽ tiếp tục gia tăng và xuất khẩu tôm kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh trong thời gian tới.
Xuất khẩu cá tra, basa vào Mỹ đối mặt với thuế chống bán phá giá tăng cao. Thị trường Mỹ chiếm khoảng 11% trên tổng kim ngạch xuất khẩu cá tra trong 9T/2010. Vì vậy, nếu gặp khó khăn ở thị trường này, hoạt động xuất khẩu cá tra, basa không bị ảnh hưởng quá lớn. Tuy nhiên, những doanh nghiệp có thị phần xuất khẩu sang Mỹ lớn như VHCAGF sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Vừa qua, 20 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra lớn nhất ngày 10/12 đã họp thống nhất đưa ra giá sàn xuất khẩu cho quý 1/2011 là 3 USD/kg đối với cá tra thịt trắng và 2.05 USD/kg đối với cá tra thịt đỏ, cho tất cả thị trường ngoại trừ thị trường Mỹ.
Việc VASEP đặt mức giá sàn xuất khẩu có thể tạo tác động tích cực, để tránh việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các đơn vị trong nước và giúp hạn chế các rủi ro bị áp thuế chống bán phá giá tại thị trường nước ngoài. Về lâu dài, điều này sẽ giúp cải thiện tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu. Vấn đề còn lại các việc cam kết thực hiện của các doanh nghiệp tham gia sự đồng thuận này.
Là ngành xuất khẩu chủ lực, các doanh nghiệp trong ngành cũng được hưởng lợi từ việc điều chỉnh tỷ giá USD/VNĐ.
Cổ phiếu quan tâm: MPCACLABT
CỔ PHIẾU NGÀNH TÔN – THÉP
Diễn biến chính trong năm 2010: Giá thép trong năm 2010 biến động mạnh và có khuynh hướng bị đầu cơ liên tục. Điều đáng chú ý nữa là khi ngành thép rơi vào mùa cao điểm, vào đầu tháng 10, thì giá thép lại sụt giảm nhẹ và lượng cầu khá yếu, tình hình tiêu thụ vẫn ở mức thấp so với các năm trước. Như vậy, ngành thép đang biến động thất thường và đảo ngược xu thế hằng năm.
Tình trạng mất cân đối cung cầu trong nước buộc nhiều doanh nghiệp phải đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là ống thép, với thị trường tiêu thụ chủ yếu là Mỹ, Nhật Bản…
Số lượng doanh nghiệp trong nước tham gia vào hoạt động xuất khẩu sản phẩm thép không nhiều, chủ yếu là CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HoSE: HPG), CTCP Hữu Liên Á Châu (HoSE: HLA)… 40% lượng thép xuất khẩu là của Công ty Thép POSCO đi vào hoạt động từ tháng 10/2009 với công suất 1.2 triệu tấn/năm.
Triển vọng: Lợi nhuận của các doanh nghiệp trong năm 2010 sẽ không tăng trưởng đột biến. Nhiều doanh nghiệp đã phải tăng chiết khấu cho khách hàng, đại lý phân phối nhằm giải quyết hàng tồn kho. Ngoài ra, giá thép trong nước đang tăng cao chủ yếu xuất phát từ việc điều chỉnh tỷ giá, chi phí hơn là nhu cầu thực sự.
Sang năm 2011, tình hình tiêu thụ thép sẽ tăng trưởng khả quan và ổn định hơn so với năm 2010. Kinh tế trong nước sẽ phục hồi sau khủng hoảng, các công trình trong điểm cơ sở hạ tầng sẽ được đẩy mạnh tiến độ trở lại nhằm đón đầu nguồn vốn đầu tư mới.
Việc Trung Quốc bắt đầu chấn chỉnh ngành thép từ tháng 9/2010 cũng tạo ra nhiều cơ hội, khi lượng thép xuất khẩu từ Trung Quốc có thể sẽ hạn chế.
Ngoài ra, áp lực đối với việc thừa cung trong ngành thép vẫn còn mặc dù nhiều dự án đang bị thu hồi. Ngành thép cũng tiếp tục chịu áp lực cạnh tranh với thép nhập khẩu từ các nước ASEAN, do giá thép trong nước vẫn thường cao hơn khoảng 500,000 đồng/tấn.
Trong năm 2011, biến động giá thép dự báo sẽ vẫn bất thường và các đợt tăng giá mang tính ngắn hạn. Ngoài ra , áp lực biến động tỷ giá và chi phí sản xuất cũng sẽ tiếp tục gia tăng.
Chúng tôi đánh giá cao các doanh nghiệp tập trung phát triển theo chiều dọc và thị trường ngách. Việc tham gia xuyên suốt vào chuỗi giá trị ngành sẽ giúp cải thiện giá trị gia tăng, kiểm soát có hiệu quả rủi ro nguyên vật liệu đầu vào và giá bán đầu ra.
Một số doanh nghiệp nhỏ tập trung phát triển thị trường ngách cũng đang thu được kết quả khả quan nhất định.
Cổ phiếu quan tâm: POMHPG
CỔ PHIẾU NGÀNH MÍA ĐƯỜNG
Diễn biến chính trong năm 2010: Sản lượng đường thế giới giảm gần 5 triệu tấn trong niên vụ vừa qua, chủ yếu do biến động bât lợi của thời tiết. Giá đường thế giới dự báo sẽ tiếp tục xu hướng đi lên trong thời gian tới.
Trong nước, tình trạng thiếu mía nguyên liệu ngày càng gay gắt do thời tiết không thuận lợi, hầu hết các vùng trồng mía đều giảm năng suất và sản lượng. Dự báo năm 2011 Việt Nam sẽ nhập khẩu 300,000 tấn đường. Hiện tại, các nhà máy đường đang vào vụ ép mía, nhưng giá đường vẫn ở mức cao.
Triển vọng: Giá đường trong nước tiếp tục đứng ở mức cao chủ yếu do giá đường thế giới tăng cao và có hiện tượng các nhà máy canh theo giá đường thế giới, trong đó có đường nhập lậu.
Tình trạng thiếu đường trong nước sẽ tiếp tục diễn ra, khi mức cung tăng không nhiều và không đáp ứng đủ nhu cầu. Giá đường trong nước bị chi phối nhiều bởi các nhà máy và người tiêu dùng dường như không có “quyền lực thương lượng”.
Các doanh nghiệp mía đường vẫn có lợi nhuận tích cực nhờ giá đường đang ở mức cao và đang đi vào mùa vụ cao điểm sử dụng trong các dịp Noel, Tết.
Những doanh nghiệp có hàng tồn kho thành phẩm lớn, vùng nguyên liệu ổn định, có các chỉ số tài chính cơ bản tốt sẽ có nhiều lợi thế hơn trong giai đoạn cung không đủ cầu, giá đường biến động lớn, định giá chứng khoán đang rẻ như hiện nay.
Triển vọng của các công ty trong ngành mía đường trong ngắn hạn tỏ ra khá hấp dẫn. Tuy vậy, trong trung và dài hạn nên có quan điểm thận trọng, đặc biệt sau mùa vụ Tết.
Cổ phiếu quan tâm: NHSLSSBHS
CỔ PHIẾU NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN
Diễn biến chính trong năm 2010: Điểm nổi bật của thị trường bất động sản trong những tháng đầu năm 2010 là việc áp dụng Nghị định số 71 từ ngày 08/08/2010 đã hạn chế nhất định sự tham gia của giới đầu cơ, và vì vậy làm cho thị trường bất động sản có ít khả năng phục hồi trong ngắn hạn. Không những vậy, sự thiếu vắng bộ phận này sẽ làm cho thị trường bất động sản trong thời gian tới có khả năng chững lại. Tuy vậy, về dài hạn Nghị định 71 sẽ minh bạch hóa thị trường, giúp hoạt động đầu tư trở nên chuyên nghiệp hơn.
Sự biến động giá vàng và USD trong thời gian qua đã kìm hãm đà phục hồi của thị trường bất động sản. Giá vàng tăng mạnh, kết hợp với việc giảm giá đồng nội tệ đã đẩy giá bán bất động sản tính theo giá vàng và USD tăng cao. Đây là lực cản lớn cho thị trường bất động sản trong ba quý đầu năm 2010 và dự báo sẽ tiếp tục ảnh hưởng trong thời gian tới.
Lãi suất trong nước tiếp tục đứng ở mức cao. Mặt bằng lãi suất hiện tại vào khoảng 15%-16% đối với các khoản vay trung và dài hạn. Mức lãi suất khá cao này đã hạn chế dòng vốn chảy vào bất động sản.
Tín dụng bất động sản sẽ tiếp tục gặp khó khăn khi Thông tư 13 bắt đầu có hiệu từ ngày 01/10/2010. Thông tư này quy định hệ số rủi ro của tất cả các khoản cho vay nhằm kinh doanh bất động sản là 250%. Đây được xem là rào cản mới đối với loại hình tín dụng này.
Dòng vốn FDI tiếp tục chảy vào bất động sản TP.HCM. Với 12 dự án và tổng vốn 811 triệu USD, lĩnh vực bất động sản đang dẫn đầu về tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào TP.HCM  trong 8 tháng đầu năm nay, chiếm 60.8%. Hiện tại, các nhà đầu tư Hàn Quốc đang dẫn đầu về vốn, với 373 triệu USD (chiếm 27.96%), trong khi Singapore lại chiếm ưu thế về số dự án (44 dự án, chiếm tỷ lệ 18.88%).
Triển vọng: Chúng tôi cho rằng thị trường bất động sản khó có khả năng phục hồi trong ngắn hạn, khi các yếu tố về chính sách không ủng hộ cho sự tăng trưởng trong ngắn hạn của thị trường.
Với áp lực lạm phát và giảm giá tiền tệ, nhiều khả năng chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ tiếp tục duy trì trong quý 4/2010 và quý 1/2011. Việc giảm lãi suất trong thời gian tới sẽ trở nên khó khăn hơn và là lực cản đối với dòng tiền chảy vào thị trường bất động sản.
Một số nhận định cho rằng tỷ giá USD và vàng có thể tiếp tục tăng cao vào các tháng cuối năm. Dòng tiền sẽ bị phân tán sang hoạt động đầu tư vào USD và vàng. Đồng thời giá USD và vàng tăng cao sẽ làm cho giá bán bất động sản tiếp tục tăng cao, hạn chế sự tiếp cận của phía cầu.
Triển vọng dài hạn của thị trường bất động sản đến từ khả năng duy trì tốc độc phát triển kinh tế của Việt Nam. Tốc độ tăng trường GDP của năm 2010 dự kiến đạt 6.5%, và định hướng trong năm 2011 tốc độ tăng trưởng GDP có thể đạt 7.5%. Đây chính là yếu tố quan trọng để ổn định và phát triển thị trường bất động sản.
Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số của Việt Nam đang ở mức cao. Đến năm 2030, dự kiến dân số sống tại Hà Nội sẽ gần 10 triệu người và tại TP.HCM là hơn 12 triệu người. Nếu tính theo tiêu chuẩn diện tích nhà ở bình quân 15 m2/người thì trong giai đoạn 2010 - 2030, hai thành phố lớn này sẽ cần phải cần thêm khoảng 160 triệu m2 nhà để đáp ứng được nhu cầu nhà ở. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp trong ngành tiếp tục mạnh dạn đầu tư vào các dự án địa ốc tiềm năng.
Trong thời gian tới, các dự án bất động sản sẽ tiếp tục được hưởng lợi từ quy hoạch và cải tạo cơ sở hạ tầng. Tại Hà Nội, trục đường Láng - Hòa Lạc và quốc lộ 32 hiện đang được mở rộng. Việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho thị trường phía Tây Hà Nội tăng trưởng mạnh. Trong khi đó, TP.HCM sẽ phát triển theo mô hình đa trung tâm với các trung tâm mới đã được xác định là Thủ Thiêm, Nam Sài Gòn, Tây Bắc Củ Chi và Tân Kiên. Những dự án này sẽ làm thay đổi cấu trúc đô thị, thu hút lượng vốn đầu tư lớn trong những năm sắp tới.
Cổ phiếu quan tâm: HAGNTLSJSNBB
CỔ PHIẾU NGÀNH KHOÁNG SẢN
Diễn biến chính của ngành: Các sản phẩm chủ yếu của ngành khoáng sản Việt Nam là dầu thô, kẽm, chì, titan, antimony, mangan… Các sản phẩm này được bán và xuất khẩu dưới dạng thô. Khâu tinh chế hầu như bị bỏ ngỏ do năng lực và thiết bị của các công ty trong nước còn nhiều hạn chế. Trong khi đó, Việt Nam lại nhập khẩu rất mạnh quặng sau tinh chế.
Hoạt động khai thác phần lớn dựa vào phương pháp thủ công, nên đa số các mỏ nhỏ hiện nay chỉ lấy được những phần giàu nhất, bỏ đi toàn bộ các quặng nghèo và khoáng sản đi cùng, dẫn đến không thể khai thác tối đa nguồn tài nguyên. Tổn thất trong chế biến khoáng sản hiện cũng rất cao, khiến hiệu quả trong ngành khai khoáng Việt Nam vẫn đang ở mức thấp.
Tốc độ gia tăng số doanh nghiệp trong ngành khá cao. Chỉ trong vòng 3 năm, từ tháng 10/2005 đến tháng 8/2008, UBND các tỉnh, thành phố đã cấp 3,495 giấy phép khai thác, tốc độ gia tăng khá nhanh so với giai đoạn 1996-2008 với 928 giấy phép được cấp.
Những tháng đầu năm 2010, giá khoáng sản tiếp tục tăng cao so với năm 2008, trong đó titan và antimony là hai khoáng sản có xu hướng tăng mạnh nhất trong nhóm khoáng sản. Hiện nay giá của antimony đang ở mức cao trong lịch sử, cao gấp 2 lần giá so với mức giá trong năm 2009 (đi từ đáy 4,000 USD/tấn vào tháng 2/2009 lên đến 9,500 USD/tấn vào tháng 5/2010). Việt Nam đang là một trong 10 nước sản xuất và cung cấp á kim hiếm antimony lớn nhất trên thế giới.
Triển vọng: Chúng tôi cho rằng triển vọng của ngành khoáng sản trong những tháng cuối năm 2010 và trong thời gian tới có khả năng tiếp tục tích cực. Sự phục hồi của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là Trung Quốc – một trong những nước có nhu cầu khoáng sản lớn nhất hiện nay, là yếu tố thúc đẩy ngành khoáng sản trong nước.
Tiềm năng của ngành khoáng sản Việt Nam rất lớn khi sở hữu hơn 5,000 điểm mỏ với hơn 60 loại khoáng sản được phát hiện và khai thác trải dài khắp cả nước. Đồng thời, nhu cầu khoáng sản trong nước và các nước trên thế giới đang duy trì ở mức cao, đặc biệt là thị trường Trung Quốc và các nước Châu Âu.
Tuy nhiên, ngành khai khoáng Việt Nam được đánh giá là ngành sơ khai, công nghệ khai thác mỏ còn lạc hậu và chưa hiệu quả và chịu nhiều rủi ro từ chính sách và thời tiết.
Cổ phiếu quan tâm: KSSHGM
CỔ PHIẾU NGÀNH NHỰA
Diễn biến chính trong năm 2010: Ngành nhựa Việt Nam hiện đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh với tốc độ trung bình 15-20%/năm, và đang hướng đến 1 tỷ USD giá trị xuất khẩu, tăng gần 43% so với năm trước.
Thị trường xuất khẩu không quá khó để thâm nhập. Theo Cơ quan thống kê của Liên hiệp quốc, đối với mặt hàng nhựa, Việt Nam là nước có khả năng thâm nhập thị trường tương đối tốt, được hưởng mức thuế thấp hoặc đối xử ngang bằng các nước xuất khẩu khác ở hầu hết các thị trường. Các doanh nghiệp cũng đã tiếp cận công nghệ sản xuất hiện đại của thế giới và sản phẩm được thị trường chấp nhận.
Trong nước, sản phẩm nhựa ngày càng phổ biến ở thị trường nội địa. Sản phẩm nhựa cũng đã có mặt trong hầu hết các ngành, từ công nghiệp, nông nghiệp đến giao thông vận tải, xây dựng... Những sản phẩm đòi hỏi chất lượng cao như ống dẫn dầu, đồ nhựa cho ôtô hay máy vi tính cũng đã được các doanh nghiệp sản xuất thành công, thay thế hàng nhập khẩu.
Ngành nhựa phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Vì vậy, biến động giá nguyên liệu thế giới lập tức gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành nhựa. Hầu hết các các loại nguyên liệu nhựa được sản xuất từ dầu mỏ và khí đốt nên giá chịu tác động trực tiếp từ giá các mặt hàng này.
Trong những tháng gần đây, giá mặt hàng nguyên liệu nhựa đã giảm nhiệt do giá dầu trên thị trường thế giới sụt giảm. Tuy vậy, giá các loại mặt hàng này vẫn ở mức cao, đã tăng từ 20-30% so với đầu năm 2010.  
Năng lực sản xuất và công nghệ hạn chế. Phần lớn các doanh nghiệp nhựa đều phát triển từ các công ty gia đình. Nguồn vốn ít, trình độ quản lý hạn chế, thiếu thông tin cập nhật nên những doanh nghiệp này thường đầu tư chủ yếu vào những mặt hàng đơn giản, thâm dụng lao động và có tỷ suất lợi nhuận thấp.
Ngành nhựa bao bì có 702 doanh nghiệp, chiếm 35.1%, nhựa gia dụng có 794 doanh nghiệp, chiếm 39.7%, trong khi nhựa kỹ thuật chỉ có 272 doanh nghiệp, chiếm 13.6%. Khoảng 76% doanh nghiệp tập trung ở phía Nam nên khu vực này có mức độ cạnh tranh cao hơn hẵn khu vực miền Bắc và miền Trung.
Triển vọng: Kết quả dự phóng của chúng tôi cho thấy, P/E và P/B forward cho năm 2010 trung bình của các doanh nghiệp trong ngành chỉ vào khoảng 6.29 lần và 1.07 lần. Đây là mức định giá khá hấp dẫn khi nhu cầu sử dụng sản phẩm nhựa xây dựng và nhựa dân dụng những tháng cuối năm thường có xu hướng tăng cao.
Việt Nam có gần 86 triệu dân, với mức tiêu thụ sản phẩm nhựa trung bình khoảng 22 kg/người, và mục tiêu năm 2010 có thể đạt 32 kg/người. Đây là con số khá thấp so với nước láng giềng như Thái Lan, Nhật Bản. Chính vì vậy, tiềm năng của ngành nhựa còn rất lớn.
Những tháng cuối năm với các dịp lễ, Noel, Tết sẽ khiến việc sử dụng thực phẩm, nhu cầu mua sắm tăng cao. Do vậy, các doanh nghiệp bao bì và nhựa gia dụng có thể tăng lượng bán hàng và thúc đẩy doanh thu.
Cổ phiếu quan tâm: BMPNTP
CỔ PHIẾU NGÀNH NÔNG SẢN
Diễn biến chính trong năm 2010: Các doanh nghiệp sản xuất nông sản như: lúa gạo, cà phê, tiêu, điều… đã đạt được kết quả kinh doanh khá ấn tượng trong những tháng đầu năm 2010 nhờ tận dụng tốt các thế mạnh.
Sản xuất lúa gạo có nhiều lợi thế trong xuất khẩu. Kế hoạch xuất khẩu trong năm 2010 là 6.1 triệu tấn, nhưng sản lượng xuất khẩu có thể đạt 7 triệu tấn trong điều kiện thuận lợi, so với mức 6 triệu tấn trong năm 2009. Hạn hán kéo dài gây mất mùa ở một số tỉnh của Trung Quốc đã tạo điều kiện rất lớn cho ngành lúa gạo Việt Nam.
Cà phê Việt Nam hưởng lợi do nguồn cung trên thế giới giảm. Tình hình khô nóng ở Braxin chưa chấm dứt hoàn toàn đã làm cho nguồn cung cà phê trên thị trường thế giới trở nên khan khiếm. Giá cà phê trên thị trường New York có xu hướng tăng mạnh trong thời gian gần đây.
Cà phê là mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn thứ hai sau gạo trong nhóm hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Giá hồ tiêu tăng cao trong những tháng đầu năm 2010. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), do được lợi về giá, 8 tháng đầu năm 2010 Việt Nam đã xuất khẩu 90,096 tấn hồ tiêu, giảm 6.8% về lượng nhưng tăng tới 22.5% về kim ngạch so với cùng kỳ 2009, đạt 298 triệu USD. Hiện Việt Nam đang chào hàng với mức giá cao từ 3,779 - 3,821 USD/tấn đối với tiêu đen và 5,077 USD/tấn đối với tiêu trắng.
Xuất khẩu điều vượt Ấn Độ, đứng đầu thế giới. Ước tính đến tháng 11/2010, tổng khối lượng xuất khẩu đạt 179,000 tấn với giá trị xuất khẩu đạt 1 tỷ USD, tăng 10.55% về khối lượng và tới 31.9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009. Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vượt qua quốc gia có truyền thống 100 năm xuất khẩu điều lớn nhất thế giới là Ấn Độ.
Triển vọng: Trong khi triển vọng của kinh tế trong nước chưa thật sự phục hồi, ngành nông nghiệp tiếp tục được kỳ vọng là “phao đệm” cho nền kinh tế trong thời gian tới. Năm 2010 có thể là năm kỷ lục xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam cũng như nhiều nông sản khác như cao su, hồ tiêu, điều,... Với lợi thế tự nhiên và kinh nghiệm, chúng tôi cho rằng đà tăng trưởng của ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục được duy trì trong tương lai.
Hầu hết các loại nông sản giá đều có xu hướng tăng cao. Nguyên nhân dẫn đến tăng giá là do nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, nhưng chủ yếu là sự thiếu hụt do nguồn cung của các nước trên thế giới giảm sút mạnh do biến đổi của khí hậu, trong đó đáng chú ý như lũ lụt ở Pakistan, mất mùa ở Ấn Độ, giảm sản lượng cây trồng ở Trung Quốc do hạn hán.
Điểm nổi bật của ngành nông sản Việt Nam là đã vượt qua Ấn Độ về xuất khẩu điều để trở thành quốc gia xuất khẩu điều lớn nhất thế giới.
Cổ phiếu quan tâm: LAFAGC
CỔ PHIẾU NGÀNH VẬN TẢI BIỂN & KHO BÃI
Diễn biến chính trong năm 2010: Trong quý 2 và 3/2010, giá cước vận tải quốc tế đã sụt giảm so với quý 1/2010 trước lo ngại khủng hoảng nợ công châu Âu và Trung Quốc kiềm chế đà tăng trưởng nóng. Tuy nhiên, giá cước vận tải trong nước có phần ổn đinh hơn nhờ vào việc xuất khẩu gạo, cà phê, cao su… ổn định. Giá cước của các hãng tàu trong nước tăng 10% – 20%; nhưng vẫn chỉ đang xấp xỉ ở mức hòa vốn.
Trong vòng 1 tháng gần đây, giá cước hàng lỏng đang tăng mạnh trở lại nhờ vào nhu cầu nhiên liệu phục vụ sưởi ấm vào mùa đông. Đây cũng có thể là một tín hiệu báo trước cho sự phục hồi của kinh tế thế giới, khi nhu cầu sử dụng năng lượng phục vụ sản xuất gia tăng.
Giá cước container quốc tế đang duy trì đà phục hồi từ đầu năm 2010 nhờ vào nguồn hàng ổn định. Phí vận tải container nội địa đang tăng mạnh do năng lực vận chuyển bị hạn chế.
Các doanh nghiệp trong ngành sẽ phải chịu gánh nặng tỷ giá và lãi suất kéo dài. Bên cạnh đó, tác động tiêu cực từ Vinashin có thể sẽ tiếp tục kéo dài.
Trong khi đó, chúng tôi cho rằng hoạt động khai thác cảng sẽ có cơ hội tiếp tục tăng trưởng khả quan. Cảng TPHCM tiếp tục duy trì vị thế cảng trung tâm của khu vực Đông Nam bộ và Tây Nam bộ ; tình trạng ùn ứ container lạnh vẫn tiếp tục diễn ra ở cảng Hải Phòng. Kết quả hoạt động của các doanh nghiệp ở 2 khu vực này được kỳ vọng sẽ khả quan.
Triển vọng: Ngành vận tải biển nhiều khả năng vào chu kỳ mới từ cuối 2011, do vẫn đang phục hồi chậm so với các ngành kinh tế khác. Chúng tôi kỳ vọng các doanh nghiệp vận tải quy mô lớn trong ngành sẽ có cơ hội phục hồi nhanh hơn; trong khi các doanh nghiệp nhỏ sẽ phải đợi đến cuối 2011.
Doanh thu năm 2010 sẽ khả quan, nhưng lợi nhuận có thể vẫn thấp. Lý do là mức tăng lợi nhuận gộp khó có thể bù đắp được đà tăng của chi phí tài chính. Hầu hết doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam đang trong quá trình đầu tư thay thế tàu mới nên cơ cấu nợ/vốn chủ sở hữu khá cao. Bên cạnh đó, việc đầu tư mới cũng đồng nghĩa với áp lực khấu hao tăng cao ở nhiều doanh nghiệp. Chúng tôi, vì vậy, không kỳ vọng vào mức sinh lời cao của các hãng tàu trong năm 2010, ngoại trừ các doanh nghiệp có hoạt động thanh lý tàu cũ.
Các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ cảng biển sẽ hiệu quả nhờ tiềm năng tăng trưởng mạnh của dịch vụ hậu cần (logistics). Nhiều dự báo cho thấy ngành này có thể đạt tốc độ tăng trưởng từ 20% – 25% trong các năm tới.
Cổ phiếu quan tâm: TCLVSC
Tham khảo thêm nội dung phân tích chi tiết cổ phiếu theo nhóm ngành và cổ phiếu quan tâm tại đây.
Phòng Nghiên cứu Vietstock