Showing posts with label U-shape. Show all posts
Showing posts with label U-shape. Show all posts

Thursday, April 5, 2012

Yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông và các luận điểm pháp lý


04:21-05/04/2012 
Hoàng Việt

Sơ đồ đường yêu sách 9 đoạn
- đường lưỡi bò - của Trung Quốc
trên Biển Đông. Nguồn: VnExpress.
Cho đến nay, vẫn không rõ quan điểm chính thức của chính quyền Trung Quốc về tính chất pháp lý của “đường lưỡi bò”. Trong khi đó, nhiều lập luận của các học giả cũng như của chính quyền Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối dữ dội của cộng đồng quốc tế.
Lịch sử xuất hiện “đường lưỡi bò”

Năm 1933, Pháp thực hiện việc đưa quân ra đồn trú tại các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Để đối phó với các hành động này của chính quyền Pháp tại Đông Dương, chính quyền Cộng hòa Trung Hoa (chính quyền Tưởng Giới Thạch) đã cho thành lập Ủy ban Điều tra Bản đồ Đất và Biển. Nhiệm vụ của Ủy ban này bao gồm việc khảo sát và đặt tên cho các đảo ở Biển Đông và xuất bản các bản đồ để thể hiện các đảo này thuộc lãnh thổ của Trung Quốc.

Bản đồ chính thức đầu tiên thể hiện “đường lưỡi bò” có nguồn gốc từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Bản đồ này được Vụ Biên giới và Lãnh thổ, Bộ Nội vụ Cộng hòa Trung Hoa xuất bản tháng 2/1948 có tên 南海诸岛位置图 - Nanhai zhudao weizhi tu –( Nam hải chư đảo vị trí đồ). Bản đồ này của chính quyền Quốc Dân Đảng được các học giả Trung Quốc cho biết là dựa theo một số bản đồ không rõ ràng của một vài cá nhân. Trên bản đồ này có xuất hiện một đường mà nhiều học giả Trung Hoa gọi là “đường hình chữ U” hay “đường chín đoạn”, một số học giả gọi nó là “đường lưỡi bò” bởi nó nhìn giống một cái lưỡi bò liếm xuống biển Đông, đường này được thể hiện trên bản đồ lúc này là một đường đứt khúc bao gồm 11 đoạn.

Saturday, October 22, 2011

22/10 Tạp chí lừng danh Nature tát một cú trời giáng vào mặt các học giả Trung Quốc về vụ đường lưỡi bò lấp liếm

Nguồn: http://boxitvn.blogspot.com/2011/10/tap-chi-lung-danh-nature-tat-mot-cu.html
22/10/2011
TS Lê Văn ÚtĐH Oulu, Phần Lan
Như đã nêu, bằng vũ khí khoa học, các học giả Việt đã phản đối quyết liệt đường lưỡi bò phi pháp mà TQ đang cố tình áp đặt trên biển Đông, chiếm hơn 80% diện tích khu vực này. Việc làm này đã xâm phạm nghiêm trọng vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và các nước trong khu vực.

Tập san khoa học “Nature” khẳng định lập trường:

Tập san khoa học "Nature" khẳng định lập trường:

Ban biên tập sẽ dành quyền đặt vấn đề đối với đường lưởi bò, không cho phép đem tuyên truyền chính trị vào báo cáo khoa học

Nguyễn Đăng Hưng

Mới hôm qua (19/10/2011) tờ báo khoa học danh giá vào bật nhất thế giới "Nature" trong một bài xã luận chính thức đã khẳn định lập trường :
"Về các tranh chấp các quốc tế khác, lập trường của tập san Nature là các nhà khoa học nên dựa vào khoa học. Các tác giả nên cố gắng phi chính trị hóa những bài báo càng nhiều càng tốt, bằng cách tránh những nhận xét mang tích kích động, những phát biểu gây hấn, và những bản đồ còn trong vòng tranh cãi. Trong trường hợp không loại bỏ được những điều đó (chẳng hạn như một nghiên cứu về tài nguyên quốc gia cần xem xét đến một hải đảo nào đó) thì bản đồ đó nên được ghi chú rằng "còn trong vòng tranh cãi" hoặc ghi rõ một ý nghĩa như vậy. Trong các bài báo trên tập san Nature, nếu tác giả không tự ý làm, ban biên tập dành cái quyền chèn vào những ghi chú như thế. Tránh tranh cãi, các nhà nghiên cứu có thể giữ cho khoa học khỏi bị lây nhiễm bởi chính trị, giữ cánh cửa hợp tác khoa học rộng mở, có lợi cho những nghiên cứu của họ".
Sau đây là nguyên văn tiếng Anh

Tạp chí lừng danh Nature tát một cú trời giáng vào mặt các học giả Trung Quốc về vụ đường lưỡi bò lấp liếm

22/10/2011

Tạp chí lừng danh Nature tát một cú trời giáng vào mặt các học giả Trung Quốc về vụ đường lưỡi bò lấp liếm

TS Lê Văn Út, ĐH Oulu, Phần Lan
Như đã nêu, bằng vũ khí khoa học, các học giả Việt đã phản đối quyết liệt đường lưỡi bò phi pháp mà TQ đang cố tình áp đặt trên biển Đông, chiếm hơn 80% diện tích khu vực này. Việc làm này đã xâm phạm nghiêm trọng vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và các nước trong khu vực.

Thursday, October 20, 2011

20/10 Khi khoa học trở thành công cụ tuyên truyền


03:23-20/10/2011 
Theo Nature
David Cyranoski

Các nhà khoa học từ Việt Nam, Phần Lan, Canada...
đã yêu cầu sửa lại bản đồ vẽ đường “lưỡi bò” khẳng
định chủ quyền TQ bao phủ một phần lớn Biển Đông.
Va chạm trên biển và xung đột lãnh thổ thường không liên quan nhiều đến khoa học. Nhưng ngày nay các nhà nghiên cứu và các tạp chí khoa học đang bị vướng vào những mâu thuẫn lãnh thổ kéo dài bấy lâu trên Biển Đông. 
Đã xảy ra những cuộc đụng độ liên quan tới các tàu phục vụ nghiên cứu, trong khi người ta nói rằng chính phủ Trung Quốc sử dụng các công bố khoa học vào mục đích tuyên truyền cho tuyên bố chủ quyền của mình.

Thursday, September 29, 2011

29/09 TQ sẽ bỏ đường lưỡi bò?


'TQ sẽ bỏ đường lưỡi bò?'

Cập nhật: 11:22 GMT - thứ năm, 29 tháng 9, 2011
Trung Quốc có một loạt phản ứng nhằm "nhắc nhở" các nước đang tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông không vận động các cường quốc khác với hy vọng gây sức ép lên Bắc Kinh.
Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc cảnh báo các nước Đông Nam Á không khiêu khích Trung Quốc bằng việc nhờ sức mạnh quân sự của Mỹ để giải quyết tranh chấp
"Có những nước nghĩ rằng nếu có thể cân bằng với Trung Quốc bằng sức mạnh quân sự của Mỹ, họ được tự do làm những gì họ muốn."
Bài xã luận của Nhân dân Nhật báo hôm thứ Tư nói tiếp: "Chúng ta không phủ nhận là một số nước châu Á có cảm giác bất an vì sự phát triển nhanh của Trung Quốc, nhất là sức mạnh quân sự của Trung Quốc sẽ phá vỡ cân bằng do Mỹ cố duy trì."
"Nhưng châu Á ngày nay đã thay đổi...Không nước nào muốn trả lại tấm vé đi chuyến tàu cao tốc của sự phát triển kinh tế của Trung Quốc."
Nói chuyện với hãng tin Bloomberg, ông Huang Jing, giáo sư của Trường Chính sách Công Lý Quang Diệu thuộc Đại học Quốc gia Singapore, cho rằng bài xã luận có thể ngụ ý rằng Bắc Kinh muốn thỏa hiệp với Asean về Biển Đông để ngăn sự can dự của Mỹ.
Đặc biệt, ông này ra giả thiết Trung Quốc có thể từ bỏ "đường 9 điểm" trên bản đồ (đường lưỡi bò).
Thay vào đó, Bắc Kinh sẽ nhấn mạnh chủ quyền ở khu vực quanh các bãi đá ngầm và bãi nước cạn nhằm xoa dịu Malaysia và Philippines.
Ông nói: "Trung Quốc biết họ không có căn cứ gì để đòi đường 9 điểm. Nếu Trung Quốc không nói rõ quan điểm, họ sẽ cho Mỹ có cớ hay lý do để can thiệp."

Nhật Bản đã mời thứ trưởng Quốc phòng 10 nước Asean đến Tokyo ngày 28/9 để bàn về an ninh hàng hải
Nhắc nhở Tokyo?
Cùng ngày thứ Tư, tại một cuộc họp báo ở Bắc Kinh, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói nước ông phản đối việc nước khác can thiệp vào vùng biển mà Trung Quốc gọi là Nam Hải.
"Trung Quốc cương quyết phản đối cố gắng của bất kỳ nước nào muốn can thiệp vấn đề Nam Hải dưới chiêu bài tự do đi lại."
Người phát ngôn quân đội Trung Quốc phát biểu một ngày sau khi Nhật Bản và Philippipnes ký thỏa thuận hợp tác hải quân.
Nhân chuyến thăm Tokyo của Tổng thống Philippines hôm 27/09, hai nước ra tuyên bố có nhắc về Biển Đông.
Thông cáo chung bằng tiếng Anh sau hội nghị nói: "Hai nhà lãnh đạo xác nhận Biển Nam Trung Hoa (South China Sea) là tối quan trọng, vì nó kết nối thế giới và châu Á Thái Bình Dương, và rằng hòa bình cùng ổn định là lợi ích chung cho cộng đồng quốc tế."
Chen Qinghong, nhà nghiên cứu thuộc Viện Trung Quốc về Quan hệ Quốc tế Đương đại, nói Nhật Bản muốn dùng vấn đề Biển Đông để khiêu khích Trung Quốc sau khi vị trí nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nay đã thuộc về Trung Quốc.
Ông này cũng cho rằng Tokyo có ý đồ xen vào Biển Đông cũng là vì hy vọng sẽ mặc cả tốt hơn với Bắc Kinh quanh tranh chấp ở đảo Điếu Ngư (mà Nhật Bản gọi là Senkaku).
Tuy nhiên, lời lẽ từ Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại có vẻ nhấn mạnh các góc độ khác với Bộ Quốc phòng.
Ngày 29/9, ở Bắc Kinh người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Hồng Lỗi nói "chẳng hề có câu hỏi về tự do hàng hải ở biển Nam Hải", hàm ý vùng biển này hoàn toàn an toàn để lưu thông.
Ông cũng nói: "Các nước trong và ngoài vùng biển đều là những bên hưởng lợi ích."
Phía Trung Quốc đáp lại quan điểm của Ngoại trưởng Nhật Yoshihiko Noda và Tổng thống Philippines Benigno S. Aquino III cùng nêu ra hôm thứ Ba rằng họ quan ngại về tự do hàng hải tại vùng biển này.

Việt Nam làm chủ một số đảo tại quần đảo Trường Sa
'Phát triển hòa bình'
Trong một bài bình luận khác, vừa ra hôm nay, Nhân dân Nhật báo nhấn mạnh Trung Quốc đi theo con đường "phát triển hòa bình".
Đề cập đến Biển Đông, tác giả Le Yucheng, ca ngợi nước ông đã "không lạm dụng ngôn ngữ hay sức mạnh quân sự" cho dù từ đầu năm nay, ông nói "một vài nước" đã có "tiểu xảo" để khiêu khích.
Tác giả bài viết, cũng là giám đốc Vụ Hoạch định Chính sách của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, nhắc lại Trung Quốc đã mời Tổng thống Philippines Aquino đi thăm và tiến hành "trao đổi đa cấp với chính phủ Việt Nam để xây dựng hiểu biết và niềm tin giữa hai nước".
Đây không phải là lần đầu tiên báo chí chính thống của Trung Quốc đề nghị chính phủ làm rõ hơn các tuyên bố chủ quyền ở vùng biển tranh chấp.
Gần đây, bản tiếng Anh của People's Daily có đăng bài từ bản tiếng Hoa của báo Hoàn Cầu tại Trung Quốc, cho rằng các bên còn lại cũng cần nêu rõ vấn đề.
Theo tác giả Ding Gang thì sau khi kiểm mọi thông tin do cả Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc công bố, ông cũng chưa thể tìm thấy bằng chứng rằng vụ khai thác của Việt Nam "vi phạm lãnh hải của Trung Quốc", vì tất cả còn "rất mù mờ".
Bài báo cũng kêu gọi chính phủ Trung Quốc, Việt Nam và Ấn Độ cùng công bố các bản đồ về các khu vực họ nói đến.


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/09/110929_china_south_china_sea.shtml


Monday, August 1, 2011

01/08 Đường lưỡi bò: Giải thích mập mờ, diễn giải sai luật


Ngày 29/7, phát biểu tại cuộc điều trần trước Nhóm nghị sĩ phụ trách vấn đề Trung Quốc (China Caucus) của Hạ viện Mỹ, chuyên gia Dan Blumenthal cho rằng đòi hỏi chủ quyền "đường lưỡi bò" của Trung Quốc ở Biển Đông dựa trên một sự giải thích mập mờ về lịch sử và diễn giải sai lệch luật quốc tế.


Phát biểu này của ông Dan Blumenthal được đăng tải lại trên tờ Weekly Standard.


Dan Blumenthal là Giám đốc Nghiên cứu châu Á của viện AEI và là thành viên của Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế và An ninh Mỹ-Trung. Ông từng là Vụ trưởng Vụ Trung Quốc của Bộ Quốc phòng Mỹ.


"Trung Quốc từ chối cách diễn giải luật tập quán quốc tế mà Mỹ và hầu hết các nước tham gia Công ước Quốc tế về Luật Biển (UNCLOS) sử dụng," Dam Blumenthal nói.


Ông Blumenthal cũng đề xuất các biện pháp đối phó như Mỹ cần tuyên bố rõ qua đường ngoại giao về chủ trương đòi hỏi vô lý của Bắc Kinh, phản đối chiến lược biển của Trung Quốc với các nước đồng minh như Nhật Bản, tiếp tục tập trận và cho tàu quân sự đi lại trong vùng EEZ của Trung Quốc để thể hiện quan điểm phản đối chủ trương của Trung Quốc./.


Đính chính: Trong tin ban đầu chúng tôi trích dẫn nguồn tin từ báo Sankei có một số chi tiết không chính xác. Xin cáo lỗi cùng bạn đọc

(Vietnam+)

Wednesday, July 13, 2011

13/07 Giới phân tích "tố" Bắc Kinh vi phạm ở Biển Đông

 13/07/2011 | 13:57:00

Giáo sư Carl Thayer. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)
CÁC TIN LIÊN QUAN
Philippines muốn ASEAN kiên định về Biển Đông
Giới chức Philippines muốn các nước ASEAN kiên định trước "những hành động đe dọa và hung hăng" của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.


Trung Quốc bác yêu cầu của Manila về Biển Đông
Trung Quốc đã bác bỏ yêu cầu của Philippines về việc đưa những tranh cãi chủ quyền trên Biển Đông ra một tòa án được LHQ bảo trợ.



Một chuyên gia kỳ cựu về Biển Đông của Học viện Quốc phòng Australia khẳng định Trung Quốc không hề tôn trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) mà nước này đã ký.


Trong một bài viết vừa được mạng YaleGlobal thuộc trường đại học Yale (Mỹ) công bố ngày 7/7, Giáo sư Carl Thayer không ngần ngại tố cáo “Trung Quốc đã bác bỏ hiệp định của Liên hợp quốc khi áp đặt chủ quyền trên Biển Đông.”


Đài RFI dẫn lời  nhiều nhà quan sát cho rằng Bắc Kinh thường viện dẫn Công ước này, nhưng trên thực tế họ có nhiều động thái bị đánh giá là không đếm xỉa gì đến văn kiện mà chính họ đã phê chuẩn.


Theo Giáo sư Thayer, UNCLOS - có hiệu lực vào năm 1996 - là một cơ chế pháp lý toàn cầu, được hình thành trên cơ sở một sự thỏa hiệp tinh tế giữa các nước ven biển và các quốc gia sử dụng biển, sao cho quyền lợi mỗi bên đều được bảo đảm.


Trong bài viết kể trên, giáo sư Thayer khẳng định Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS khi khẳng định “chủ quyền không thể chối cãi” trên Biển Đông, bất chấp đòi hỏi của các nước ven biển khác, và với việc đệ trình chính thức tấm bản đồ đường đứt khúc 9 đoạn hình chữ U (đường lưỡi bò), cố tình giữ mập mờ về các tọa độ địa lí chính xác của các đường này... Trung Quốc đã lấn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế do các nước ven biển trong khu vực thiết lập.


Đối với giáo sư Thayer, ngoài việc tấm bản đồ hình chữ U đã vi phạm Công ước Liên hợp quốc trên nhiều góc độ, Trung Quốc còn có một loạt hành động đơn phương khác vi phạm công ước này như gây sức ép lên các tập đoàn Mỹ, buộc họ không được làm ăn với các nước khác trong thăm dò dầu khí; áp đặt một lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm đơn phương đối với ngư dân Việt Nam; và mới đây là một loạt hành vi hung hăng khác thường khi cản trở các hoạt động thương mại của các tàu thăm dò dầu khí trong các vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Philippines tuyên bố chủ quyền.


Theo ông Thayer, vấn đề Biển Đông cần được giải quyết trên cơ sở của UNCLOS, nếu không khu vực này lại lâm vào tình trạng “kẻ mạnh chèn ép kẻ yếu,” và việc Trung Quốc biến Biển Đông thành “ao nhà” sẽ làm suy yếu một chế độ pháp lý quốc tế đang đóng góp cho trật tự toàn cầu.


Trong khi đó, Mark Valencia - một chuyên gia phân tích chính sách hàng hải và là cựu chuyên viên nghiên cứu cao cấp tại Trung tâm Đông-Tây ở Hawaii - cũng có đồng quan điểm với ông Thayer khi cho rằng các hành động quyết đoán của Trung Quốc tại Biển Đông để áp đặt đòi hỏi chủ quyền của họ không chỉ “vi phạm rõ ràng bản Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC), đã được nhất trí một cách chính thức,” mà có thể còn phản ánh một thực tế khác: “Trung Quốc không nhất trí với nhiều nội dung trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển mà nước này đã phê chuẩn…”


Theo ông Valencia, nếu Trung Quốc thực sự đi theo chiều hướng hiện tại, nghĩa là kiên quyết bảo vệ các đòi hỏi chủ quyền nêu lên trong tấm bản đồ đường đứt khúc 9 đoạn của họ (bao gồm tất cả vùng biển và tài nguyên của Biển Đông), đồng thời quyết định cơ chế quản lý việc đi lại sẽ được áp đặt tại vùng này, thì “đây là một quan điểm cực đoan và có thể dẫn tới chiến tranh.”


Việc Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Philippines là cùng nhau ra trước Tòa án Quốc tế về Luật Biển được thiết lập trong khuôn khổ UNCLOS để nhờ phân xử, có thể được xem là một dẫn chứng mới về việc Bắc Kinh sẵn sàng phủ nhận giá trị của văn kiện này, vì quyền lợi của riêng mình./.



(Vietnam+)

Tuesday, July 12, 2011

12/07 Biển Đông: Vùng biển chung dành riêng cho Trung Quốc!


GS Carlyle A. Thayer, Học viện Quốc phòng Úc Đại học New South Wales lập luận trên YaleGlobal
rằng bằng cách tuyên bố chủ quyền trên biển Đông, Trung Quốc chối bỏ công ước Luật biển 1982.

Căng thẳng hiện nay trên vùng biển Đông bắt đầu vào năm 2009 sau khi Ủy ban Liên hợp quốc về các giới hạn của thềm lục địa đề ra hạn chót để nộp yêu cầu chủ quyền cho thềm lục địa mở rộng vượt quá 200 hải lí theo UNCLOS.  Sau khi Việt Nam và Malaysia đệ trình yêu sách, Trung Quốc đệ trình một bản đồ với chín đường đứt đoạnđòi hỏi chủ quyền hầu như chiếm trọn biển này.  Sáu quốc gia ven biển này, và các quốc gia khác cũng có cổ phần lớn trong kết quả.  Tuyên bố mở rộng đó nằm phía sau sự căng thẳng ngày càng tăng trong vùng biển Đông.
Khi trung tâm của nền kinh tế toàn cầu chuyển về hướng đông, phản ánh sự trỗi dậy của Trung Quốc như là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, các tuyến đường thương mại phục vụ khu vực đã có tầm quan trọng lớn hơn.  Nó cũng mang lại sự chú ý mới đối với Công ước năm 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển, hoặc UNCLOS.  Chế độ pháp lí quốc tế này đã quản lí trật tự toàn cầu trên biển trong thập kỉ rưởi vừa qua và Đông Á đã nổi lên như một đấu trường xung đột mới.
Trung Quốc đã đưa ra các tín hiệu bác bỏ UNCLOS bằng cách khẳng định "chủ quyền không thể chối cãi" trên biển Đông.  Tư thế này xung đột với tuyên bố của sáu nướcven biển khác - Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei - tất cả đều có các khiếu nại pháp lí khác nhau về các lãnh hải, địa hình và, hải đảo dựa trên UNCLOS.


Những tuyên bố chủ quyền cả thập kỉ đã trở nên cấp thiết hơn với sự xuất hiện của Trung Quốc như là một quốc gia thương mại lớn, phụ thuộc nhiều hơn bao giờ hết vào các tuyến đường vận chuyển quốc tế mở rộng từ các nước Đông Á đến Trung Đông.  Trung Quốc, trước đây đã từng tự túc nguồn năng lượng, bây giờ nhập khẩu dầu và sự phụ thuộc của nó vào nhập khẩu khí đốt tự nhiên sẽ gia tăng rõ rệt trong hai thập kỉ tới.  Sự quan ngại của Trung Quốc về sự an toàn của các tuyến đường giao thông trên biển và nhu cầu cho các nguồn năng lượng hydrocarbon hội tụ trên biển Đông, được cho là chứa những mỏ dầu và khí đốt lớn.


UNCLOS có hiệu lực vào năm 1996 như là một chế độ pháp lí toàn cầu, quy định các quyền và trách nhiệm của quốc gia ven biển trong lĩnh vực hàng hải.  UNCLOS là một sự thỏa hiệp đẻo gọt tinh tế giữa các nước ven biển và các quốc gia sử dụng biển khơi cho sự thịnh vượng của nền kinh tế của họ.


Theo UNCLOS, tất cả các quốc gia ven biển được quyền thiết lập là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lí từ đường bờ biển của họ.  Họ được trao chủ quyền đối với tất cả các nguồn tài nguyên bên trong khu vực này bao gồm cả biển và đáy biển.  Các quốc gia sử dụng biển được trao quyền quá cảnh qua vùng đặc quyền kinh tế bằng đường biển và bằng đường hàng không.
TQ xây dựng những kiến trúc như thế này trên biển Đông để đòi hỏi chủ quyền cho lãnh hải.
Ảnh minh họa: QNCBĐ
UNCLOS đã buộc cả các nước ven biển lẫn các nước sử dụng phải tôn trọng các quyền của nhau.
Ngoài ra, UNCLOS đã thực hiện một sự phân biệt giữa các đảo và địa hình (feature) khác , chẳng hạn như đá.  Đảo được định nghĩa là diện tích đất được bao quanh bởi nước có thể tự nó chu cấp được việc cư trú của con người và có một chức năng kinh tế.  Đảo theo luật pháp quốc tế được đặc quyền kinh tế hưởng 200 hải lí vùng .  Các loại địa hình khác tìm thấy trên biển - bao gồm cả đá, rạn san hô, đảo nhỏ, bãi cát - đã không được hưởng quyền này.


Sự bất ổn trên Biển Đông phát sinh do cả vị trí của nó ở trung tâm của tuyến đường vận chuyển bận rộn thứ hai trên thế giới nối kết Đông Á với Trung Đông lẫn địa thế phức tạp của nó.  Nó có chứa hai quần đảo: quần đảo Hoàng Sa ở phía bắc và quần đảo Trường Sa ở trung tâm.  Cả hai quần đảo này với rất nhiều địa hình được đánh dấu là vùng đất nguy hiểm trên bản đồ hàng hải.  Các tuyến giao thông đường biển chạy vòng các nhóm đảo này vì lí do an toàn hàng hải ở phía đông gần Philippines và phía Tây gần Việt Nam.  Biển Đông quan trọng về kinh tế bởi vì nguồn cá và các nguồn tài nguyên hydrocarbon, cả đã qua kiểm chứng lẫn tiềm năng.
Trung Quốc và Đài Loan tuyên bố hầu như toàn bộ biển Đông trên cơ sở phát hiện lịch sử.  Trung Quốc chiếm toàn bộ nhóm quần đảo Hoàng Sa và ít nhất bảy địa hình khác trong vùng biển Đông.  Đài Loan chiếm cho là hòn đảo duy nhất đáng tranh cãi - theo ý nghĩa pháp lí được thiết lập bởi UNCLOS trong quần đảo Trường Sa.
Phần còn lại của quần đảo Trường Sa được chia phần ra như sau: Việt Nam chiếm hơn 20 địa hình, số lượng lớn nhất, Philippines, 9, và Malaysia, ít nhất là 5.  Brunei không chiếm bất ki địa hình nào và chỉ tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí .


Năm 2002, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc đã tìm cách để quản lí các tranh chấp lãnh thổ của họ bằng cách thông qua Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).  Họ cam kết giải quyết sự khác biệt một cách hòa bình mà không cần đến việc sử dụng hoặc đe dọa vũ lực.  Tài liệu này cũng đặt ra một số hoạt động hợp tác và các biện pháp xây dựng lòng tin rằng không bao giờ được thực hiện.
Căng thẳng hiện nay ở Biển Đông được tạo ra, một phần, vào tháng 5 năm 2009 khi Ủy ban Liên hợp quốc về các giới hạn của thềm lục địa đề ra hạn chót nộp tuyên bố thềm lục địa mở rộng, nghĩa là, vượt quá 200 hải lí.  Việt Nam và Malaysia, cả  riêng biệt lẫn phối hợp cùng nhau nộp đơn đệ trình của họ.  Điều này gây ra một phản đối của Trung Quốc.


Trung Quốc lập hồ sơ trường hợp của mình bằng cách đệ trìnhchính thức lần đầu tiên một bản đồ của Biển Đông có chín đường đứt đoạn ngang tạo thành một hình chữ u - xuống bờ biển phía đông của Việt Nam tới ngay phía bắc Indonesia và sau đó tiếp tục phía bắc lên bờ biển phía tây của Philippines.  Ho không cung cấp thêm tài liệu hơn nữa như các tọa độ địa lí chính xác của các đường này hoặc các đường này nối với nhau thế nào.  Tuyên bố của Trung Quốc ăn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế được thiết lập bởi các quốc gia ven biển ở đây.


Quan trọng hơn, Trung Quốc để tuyên bố của nó không rõ ràng:   Bản đồ hình chữ u của Trung Quốc có đòi hỏi chủ quyền đối với tất cả các đảo và các địa hình hay không?  Bản đồ đó có đòi hỏi toàn bô vùng biển là vùng lãnh hải của Trung Quốc hay không?  Hoặc là Trung Quốc đòi hỏi rằng những khối đá  (rock) của nó thật sự là đảo được quyền có một vùng đặc quyền kinh tế?


Trung Quốc đã gây sức ép các công ti Mĩ không được trơ giúp các nước khác trong thăm dò dầu khí.  Trung Quốc đã áp đặt một lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm đơn phương dành cho ngư dân Việt Nam.  Năm nay, Trung Quốc đã chứng minh một sự gây hấn bất thường trong việc can thiệp  các hoạt động thương mại của các tàu thăm dò dầu khí hoạt động trong các  vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Philippines tuyên bố chủ quyền.  Việt Nam đã phản ứng lại viêc cắt dây cáp trên hai tàu của mình bằng cách đưa một tàu ra biển trờ lại có tàu vũ trang hộ tống và bằng cách tiến hành một cuộc tập trận bắn đạn thật ở các vùng nước ven biển.


Đông Nam Á của các quốc gia nguyên đơn tìm cách giải quyết tranh chấp của họ với Trung Quốc bằng cách kết nhóm lại với nhau và thông qua một vị thế chung   Sau đó, họ muốn đàm phán với Trung Quốc trên cơ sở đa phương.  Trung Quốc khẳng định rằng tất cả các tranh chấp lãnh thổ được giải quyết trên cơ sở song phương vói các quốc gia liên quan trực tiếp.  Sự khác biệt trong cách tiếp cận này đã cản trở những nỗ lực ngoại giao giữa ASEAN và Trung Quốc để có những đường hướng làm sống lại Tuyên bố năm 2002 đang hấp hối và nâng cấp DOC thành Quy tắc ứng xử có ràng buộc pháp lí thực hiện hơn.


Hoa Kì và các cường quốc hàng hải khác khẳng định họ là các bên liên quan hợp pháp và nên là một phần của quá trình này. Ngoại trưởng Mĩ Hillary Clinton đã khẳng định rằng Hoa Kì có một lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải, trong việc sử dụng mở đối với vùng biển hàng hải công cộng ở Châu Á và trong sự tôn trọng luật pháp quốc tế ở biển Đông.


Sự quyết đoán hung hăng của Trung Quốc đã phản tác dụng.  Nó đã thúc đẩy các quốc gia ASEAN nguyên đơn lại gần nhau hơn và cung cấp cơ hội cho Indonesia, chủ tịch ASEAN năm 2011, khẳng định tính trung tâm của ASEAN trong an ninh khu vực.  Các nước Đông Nam Á muốn Hoa Kì vẫn tiếp tục can dự và trợ giúp những nỗ lực của họ trong việc đối phó với Trung Quốc.  Ngoài ra, các đồng minh hiệp ước Philippines và Hoa Kì đang hợp tác chặt chẽ hơn về các vấn đề quốc phòng.  Việt Nam và Hoa Kì đang thúc đẩy quan hệ quốc phòng non trẻ của họ.
Điều quan trọng là ASEAN và những cường quốc ủng hộ chính thành công trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trên cơ sở của UNCLOS.  Nếu không, "kẻ mạnh sẽ làm những gì họ có thể làm và kẻ yếu phải hứng chịu những gì họ phải chịu", như sử gia Hi Lạp Thucydides đã nêu nhiều thế kỉ trước.  Việc Trung Quốc chuyển đổi Biển Đông thành một phiên bản hiện đại của "mare nostrum#" (biển của chúng ta) sẽ làm suy yếu một chế độ pháp lí quốc tế đang đóng góp cho trật tự toàn cầu.
  • Huỳnh Phan (Quĩ nghiên cứu Biển Đông) dịch từ asiatimes

Saturday, July 2, 2011

02/07 Chủ quyền không thể chối cãi của VN đối với Hoàng Sa-Trường Sa

Tác giả: TS SỬ HỌC NGUYỄN NHÃ

Sang triều Nguyễn từ năm 1802 đến 1909, năm bắt đầu bị tranh chấp, có rất nhiều tài liệu chính sử, sách điển chế, sách địa lý minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

1. Chính sử, sách điển chế, sách địa lý ghi rõ việc xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa:
Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789) do các sử thần thời Lê - Trịnh biên soạn theo lệnh của Trịnh Sâm năm 1775, có đoạn viết: "Ngoài biển xã An Vĩnh có nhiều đảo lớn gồm hơn 130 đảo, cách nhau một ngày đi thuyền, hoặc vài canh giờ. Trên đảo có chỗ có suối nước ngọt. Ở bãi cát lại có ốc vằn, tục gọi là ốc tai voi, ốc xà cừ, ốc hương và hải trùng, hải sâm, đồi mồi... Đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh xung vào đội ấy, cắt lượt nhau đi thuyền đến đảo mò tìm sản vật. Mỗi năm cứ tháng ba ra đi, mang lương ăn sáu tháng, đi thuyền ra biển ba ngày ba đêm mới đến đảo. Ở đấy tha hồ tìm nhặt, được sản vật gì, bao nhiêu, đến kỳ tháng tám thuyền cửa Eo, đem đến Phú Xuân nộp. Trong khoảng ấy cũng có người mò được tiền bạc, chì, thiếc, nồi đồng, súng, khí giới, ngà voi, bát bằng đá...".
Nội dung trên không có gì mới so với nội dung của Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn, song có giá trị lịch sử được ghi vào chính sử thời Lê - Trịnh. Phủ Biên tạp lục quyển 2 của Lê Quý Đôn mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội dân binh Hoàng Sa và đội Bắc Hải, như: "Ở ngoài núi Cù Lao Ré có đảo Đại Trường Sa ngày trước, nơi đây thường sản xuất nhiều hải vật chở đi bán các nơi, nên Nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận các hải vật. Người ta phải đi ba ngày đêm mới đến được đảo Đại Trường Sa ấy..." (tờ 78b - 79a) hoặc: "Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cũng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem  bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem sổ của cai đội cũ là Thuyên đức hầu biên rằng: Năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ, 5 năm ấy, mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ, và hai khẩu súng đồng mà thôi...
Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được...
Sang  triều Nguyễn từ năm 1802 đến 1909, năm bắt đầu bị tranh chấp, có rất nhiều tài liệu chính sử, sách điển chế, sách địa lý minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
- Dư địa chí (1821) của Phan Huy Chú - Nhà nghiên cứu bách khoa của Việt Nam đã viết cuốn này trong bộ Lịch triều hiến chương loại chíLịch triều hiến chương loại chí là một công trình biên khảo bách khoa lịch sử lớn gồm 49 quyển, ghi chép đủ mọi phép tắc của các triều đại Việt Nam. Chính Dư địa chí quyển 5, ở phần Quảng Nam, có nói đến phủ Tư Nghĩa. Hầu hết nội dung nói về phủ Tư Nghĩa là nói đến Hoàng Sa. Chứng tỏ Hoàng Sa rất quan yếu đối với phủ Tư Nghĩa hồi bấy giờ. Qua nội dung Phan Huy Chú đã viết, thấy rất rõ ông đã sử dụng sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, đã tóm gọn nhiều nội dung của sách này. Ngoài tả cảnh vật của Hoàng Sa, ông cho biết: "Tiền Vương lịch triều (các chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa 70 tên cũng lấy dân An Vĩnh luân phiên sung vào". Song có dị bản đã chép nhầm tháng giêng thay vì tháng ba, như Phủ biên tạp lục cho biết hằng năm "từ tháng ba đội Hoàng Sa đi làm nhiệm vụ cũng ba ngày ba đêm bằng năm chiếc tiểu điếu thuyền đến Hoàng Sa rồi cũng tháng tám về đến cửa Eo tới thành Phú Xuân và cũng mang theo lương thực cho sáu tháng".
- Hoàng Việt dư địa chí (1833) không đề tên tác giả, thường gọi là cuốn Địa dư Minh Mạng được khắc in vào năm Minh Mạng thứ 14 (1833), sau đó được tái khắc in nhiều lần. Người ta thấy nội dung có nhiều điều giống Dư địa c, song đôi chỗ có khác nhau về từ hoặc thêm, bớt và nhất là cách trình bày. Thay vì Dư địa chí gồm năm quyển, thì Hoàng Việt địa dư chí chỉ có hai quyển với cấu trúc khác nhau.
Đại Nam thực lục phần tiền biên quyển 10, soạn năm 1821 khắc in năm 1844 của Quốc sử quán triều Nguyễn tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội quân Hoàng Sa và đội Bắc Hải.
- Đại Nam thực lục chính biên (đệ nhất kỷ khắc in năm 1848, đệ nhị kỷ khắc in xong năm 1864, đệ tam kỷ khắc in xong năm 1879) của Quốc sử quán triều Nguyễn có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo này.
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1851) có đoạn văn đề cập đến việc dựng miếu ở Hoàng Sa trong quyển 207, và đoạn văn trong bộ sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ quyển 221 của Nội các triều Nguyễn có chép: "Bộ Công tâu rằng: Hoàng Sa ngoài biển rất là hiểm yếu. Hàng năm cần phải đi khám dò khắp chỗ thuộc đường bể. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm".
- Trong bộ sách Đại Nam nhất thống chí (soạn xong năm 1882, năm 1910 soạn lần hai và khắc in) cũng của Quốc sử quán triều Nguyễn đã xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội quân Hoàng Sa và đội quân Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản.
- Trong quyển III Quốc triều chính biên toát yếu của Quốc sử quán triều Nguyễn, đời Vua Minh Mạng, có ba đoạn văn liên quan đến việc xác lập chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa.
Ngoài ra trong các bản đồ của Việt Nam như Đại Nam thống nhất toàn đồ có vẽ Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam...
2. Qua châu bản, văn bản chính quyền từ Trung ương đến địa phương ghi rõ việc xác lập và hành xử chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa:
Tài liệu rất quý giá là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), là các văn bản của triều đình nhà Nguyễn hiện đang được lưu trữ tại Kho lưu trữ Trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như bộ Công, và các cơ quan khác hay những Dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc... Chẳng hạn như Dụ ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16 (1835) trong Châu bản tập Minh Mạng số 54, trang 92 có đoạn viết Vua Minh Mạng ra chỉ dụ giao cho Bộ Công phạt cai đội Hoàng Sa Phạm Văn Nguyên 80 trượng vì tội trì hoãn thời gian công tác hay phạt 80 trượng giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiệm, Nguyễn Văn Hoằng chưa chu tất việc vẽ bản đồ Hoàng Sa. Trong khi đó lại thưởng dân binh đội Hoàng Sa Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, mỗi người một quan tiền vì đã có công hướng dẫn hải trình của thủy quân đi Hoàng Sa. Hoặc như Dụ ngày 13 tháng 7 Minh Mạng 18 (1837) trong tập Châu bản Minh Mạng 57, trang 245 có đoạn cho biết trước có phái thủy sư, giám thành, binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc, vẽ họa đồ, trừ bọn Phạm Văn Biện gồm bốn tên can tội đã có chỉ phạt trượng, còn binh dân đi theo lặn lội biển cả cực khổ, thưởng mỗi tên binh đinh một tháng lương dân phu mỗi tên hai quan tiền.
Cùng với đó còn có Phúc tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836 ) trong tập Châu bản Minh Mạng 55 trang 336, ghi lời châu phê của Vua Minh Mạng: "Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ: "Năm Bính Thân (Minh Mạng thứ 17), họ tên cai đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu". Vua cũng phê rằng thuyền đi đâu, phải cắm cột mốc đến đó để lưu dấu. Phúc tấu cũng còn ghi chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật được phái từ Thuận An  vào Quảng Ngãi để đi công tác Hoàng Sa. Hoặc Tấu của tỉnh Quảng Ngãi ngày 19 tháng 7 Minh Mạng 19 (1838) xin miễn thuế cho hai chiếc "bổn chinh thuyền". Trong tập Châu bản Minh Mạng số 64 trang 146 có đoạn viết rằng ngày 19 tháng 7 Minh Mạng thứ 19 (1838): "Xin chiếu lệ miễn thuế năm nay cho hai chiếc "bổn chinh thuyền" đã đưa binh dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp vòng từ  hạ tuần tháng 3 tới hạ tuần tháng 6, hoàn tất công vụ nay đã trở về".
Một đảo lớn trong quần đảo Hoàng Sa
Gần đây, một gia đình ở xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn đã trao tặng Bộ Ngoại giao một văn bản là giấy lệnh viết trên hai tờ (bốn trang), đây là tờ tư và tờ lệnh công tác Hoàng Sa của quan Bố chánh, Án sát tỉnh Quảng Ngãi (triều vua Minh Mạng vào năm 1834), ghi rõ ông Võ Văn Hùng đã tuyển chọn một bọn gồm 10 người, đứng đầu là Đặng Văn Siểm, người thôn Hoa Diêm, phường An Hải huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi có thể đảm nhận công việc lái thuyền. Nhân đấy mà cấp cho bằng này để đi một thuyền dẫn các thủy thủ trên thuyền theo quân của phái viên và Võ Văn Hùng cùng đến Hoàng Sa thi hành việc công.
Tại Huế cũng mới phát hiện tờ Tâu số 664 ngày 27 tháng 12 năm Bảo Đại thứ 13 (15-2-1939) của Phạm Quỳnh, Tổng lý Ngự tiền Văn phòng Nội các thời Minh Mạng, tâu xin Vua Bảo Đại phê chuẩn thưởng tặng cho người có công phòng thủ Hoàng Sa, thể hiện sự thực thi chủ quyền liên tục tại Hoàng Sa (Paracel) suốt triều Nguyễn từ vua đầu tiên Gia Long đến vua cuối cùng Bảo Đại. Đây là tờ Châu bản thời Bảo Đại, đánh máy bằng chữ quốc ngữ, với lời phê: "Chuẩn y" và chữ ký tắt BĐ (Bảo Đại) đều bằng bút chì mầu đỏ, khổ giấy cỡ 21,5x31,0cm.
3. Nhiều tư liệu phương Tây ghi rõ việc xác lập và hành xử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa:
Có thể nêu ra đây một số tài liệu chính như:
- Nhật ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam.
- Hồi ức về Nam Kỳ của Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) viết vào các năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816 Vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracel.
- Thế giới, lịch sử và mô tả về tất cả các dân tộc cùng tôn giáo, cách cư xử và tập quán của họ của Giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng Hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên đảo Hoàng Sa năm 1816.
- Tạp chí Hiệp hội châu Á Bengal quyển VI (The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol VI) đăng bài của Giám mục Taberd xác nhận Vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracel.
- Tạp chí Hiệp hội Địa lý Luân Đôn năm 1849 (The Journal of Geographycal Society of London) đăng bài của GutzLaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracel...
Ngoài ra, gần đây người ta còn phát hiện gần  trăm đầu sách địa lý, bản đồ của phương Tây ghi rõ Paracel  thuộc "Vương quốc An  Nam", được viết bằng các thứ tiếng Ý, Pháp, Đức, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan... Có thể kể các cuốn tiêu biểu như: Biagio Soria với Vũ trụ học lịch sử, thiên văn học và vật lý quyển VI (La cosmografia istorica, astronomica e fisica, tomeVI - Napoli, 1828), Adriano Balbi & Malta Brun... với Bản tóm tắt mới về địa lý (Nuovo Compendio di geografia - Milano, 1865); Wilhelm Hoffmann với Mô tả về Trái đất (Beschreibung der erde - Stuttgart, 1832); Carl Ritter với Tên và quyền sở hữu, sách Địa lý châu Á của Carl Ritter (Namen und Sach Derzeichnik zu Carl Ritter's Erdkunde von usien - Berlin, 1841); Thomas Keith với Hệ thống địa lý (A system of geographia - London, 1826); cùng các cuốn sách khác như: Từ điển địa lý mô tả tất cả các khu vực trên thế giới(Dictionnaire géographique universel contenant la description de tous les lieux du globe quyển VII - Paris 1830); Những lá thư khai trí về châu Á, châu Phi và châu Mỹ quyển 3 (Lettres édifiantes et curieuses concernant l'Asie, l'Afrique etl'Amérique, Tome 3 - Paris, 1843); Phần hiện đại của lịch sử thế giới quyển 7 (The modern part of an universal history Vol 7 - London 1759)...
Đó là chưa kể chính những tài liệu của Trung Quốc như các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa chưa thuộc về Trung Quốc. Tất cả các bản đồ cổ của Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả các bản đồ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía nam của Trung Quốc. Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1 năm 1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là "phát hiện" nhằm nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu Hoàng Sa tự ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boiée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam.
4. Người phương Tây đã vẽ bản đồ xác định rất rõ "Paracel tức Hoàng Sa" và ghi chú Hoàng Sa thuộc xứ Đàng Trong của Vương quốc An Nam tức Việt Nam:
Ngoài bản đồ An Nam Đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd, người ta còn thấy rất nhiều bản đồ do phương Tây vẽ từ thế kỷ 18, có ghi chú rõ Paracel thuộc Vương quốc An Nam hay Đàng Trong (Cochinchine).
An Nam Đại quốc họa đồ (bản đồ 1) dài 80,5 cm rộng 44 cm của Giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định "Paracel seu Cát Vàng" (seu, trong tiếng La tinh có nghĩa "hoặc" hay "là") Paracel hay là Cát Vàng tức Hoàng Sa, nằm trong cuốn từ điển Latinh - Annam ghi rõ ở tọa độ địa lý hiện nay và nằm trong vùng biển của Việt Nam.
(Bản đồ 1) An Nam Đại quốc họa đồ

(Bản đồ 2) Carte des Costes de Cochinchine, Tunquin et Partie de celles de la Chine(Harreveld, E. Van Changuion, Amsterdam, 1749) có vẽ tọa độ, quần đảo Paracels trải dài từ vĩ tuyến 17 xuống vĩ tuyến 12.
Tôi là người học sử, nghiên cứu sử, thấy rất rõ truyền thống ngàn năm bất khuất kiên cường của dân tộc Việt Nam, và hơn 35 năm nay không ít lần tôi đã rơi nước mắt vì Hoàng Sa khi bị Trung Quốc, từ việc vốn coi Hoàng Sa là đất vô chủ rồi lại cho là đất của mình, để năm 1974 đã dùng võ lực đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa - một hành động trái ngược với sự thật lịch sử và lẽ phải thông thường. Hoàng Sa là cổ họng, yết hầu của Việt Nam. Sau một đêm trằn trọc khó ngủ, tôi viết bài này và mong những người Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng nhau dịch ra tất cả các thứ tiếng, quảng bá cho mọi người kể cả người dân Trung Quốc biết sự thật lịch sử và mỗi người phải có một kế hoạch nhỏ, cùng nhau xây dựng nội lực đất nước hùng cường bảo vệ chủ quyền đất nước yêu dấu.
  • Theo Thời Nay