Showing posts with label specialists. Show all posts
Showing posts with label specialists. Show all posts

Monday, January 23, 2012

Việt Nam: 5 trụ cột để hướng tới tương lai


Tác giả: TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH (*)

Tư duy duy lý, văn hóa dân chủ, kinh tế thị trường, xã hội dân sự và quan trọng hơn hết, nhà nước pháp quyền là năm trụ cột được đặt ra như là định hướng cho tương lai. Năm trụ cột này là tiền đề cho một xã hội sáng tạo, làm nên đẳng cấp cho một dân tộc...
Mục tiêu trong tương lai của Việt Nam, như vẫn được xác định là "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", phản ánh một lý tưởng tương đối phổ quát, liên quan đến những giá trị căn bản lâu dài của xã hội và con người nói chung. Những mục tiêu này có thể áp dụng cho nhiều nước khác nhau, với chính thể, tôn giáo và trình độ phát triển khác nhau. Với một nước Việt Nam đạt được những mục tiêu phát triển như thế, hẳn chúng ta sẽ có được tầm quan trọng như chúng ta đáng phải có trên trường quốc tế. Thế nhưng, câu hỏi rất quan trọng và cũng rất thực tế, đó là, để đạt được những mục tiêu này, chúng ta cần đạt được qua những điều kiện trung gian nào?

Friday, January 13, 2012

Cần đẩy mạnh đầu tư vào ngành nông nghiệp


15:46 | 13/01/2012

 TS. Đặng Kim Sơn. Ảnh: PH 
(ĐCSVN) – Việt Nam là một nước có lợi thế đặc biệt tốt với nông nghiệp, mặc dù đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước vào lĩnh vực nông nghiệp cho đến nay còn thấp nhưng nếu chúng ta biết nắm bắt cơ hội, thay đổi cơ chế chính sách kịp thời, tiến hành nghiên cứu và có chính sách vận động đầu tư hợp lý, chúng ta sẽ thay đổi được thế cờ, thay đổi tình hình phát triển nông nghiệp trong thời gian tới.


TS. Đặng Kim Sơn - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Phát triển Nông nghiệp Nông thôn (Bộ NN&PTNT) đã nhấn mạnh như vậy khi trao đổi với báo chí bên lề Hội nghị tổng kết công tác năm 2011, triển khai nhiệm vụ năm 2012 của ngành nông nghiệp vừa diễn ra tại Hà Nội.



Thursday, December 15, 2011

15/12 Ông Andy Ho: Chứng khoán sẽ phục hôì vào 6 tháng cuôí năm 2012

Thứ 5, 15/12/2011, 08:57 


Hoạt động của VinaCapital bị ảnh hưởng không nhỏ do kinh tế vĩ mô và TTCK. Quỹ VOF có NAV giảm 6,9% trong 11 tháng năm 2011, trong khi VN-Index giảm 21,5%.
Dù chỉ số P/E (giá thị trường trên thu nhập mỗi cổ phiếu) trung bình trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện còn khoảng 8,7 lần, thấp hơn nhiều nước trong khu vực, và chỉ cao hơn Singapore, nhưng nhà đầu tư nước ngoài vẫn chưa mặn mà với thị trường Việt Nam, chủ yếu do các yếu tố kinh tế vĩ mô chưa ổn định.
Đây là nhận định của ông Andy Ho, Giám đốc điều hành Công ty quản lý quỹ VinaCapital trong buổi trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online chiều ngày 13-12.

Thursday, December 1, 2011

JITCO ベトナムにおける最新ビジネス事情



JETRO 海外調査部アジア大洋州課 

古賀健司

はじめ


私は、2010 年8月から2011 年7月末まで、社内の研修プログラムの一環としてベトナム語を習得するべく、ベトナム中部ダナンのダナン大学でベトナム語を学ぶとともに、ホームステイやボランティアを通してベトナムの文化、社会に触れてきました。

近年、ベトナムでのビジネスに関する関心が非常に高くなっておりますが、今回は、読者の皆様にベトナムの最新事情について理解して頂くため、私がベトナムで実際に経験してきたことを交えながら、ベトナム経済を理解するためのキーワードを紹介したいと思います。


Monday, September 12, 2011

12/09 Lạm phát do đâu?


▪  DƯƠNG NGỌC
12/09/2011 10:04 (GMT+7)
 
Năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm 2010 đạt 40,3 triệu đồng/người, chỉ tương đương với 2.067 USD, thấp xa so với các con số tương ứng của một số nước - Ảnh: Getty.
Câu hỏi này được đặt ra chủ yếu cho thời kỳ gần đây, đặc biệt là một năm qua.

Tuy nhiên, lạm phát có những nguyên nhân chung, có nguyên nhân sâu xa, tiềm ẩn từ thời gian trước và do có độ trễ của chính sách, nên cần xem xét diễn biến trong thời gian dài.

Diễn biến lạm phát

Trong 36 năm qua (tính từ năm 1976), lạm phát tại Việt Nam chỉ có 1 năm giảm (2000), 12 năm tăng 1 chữ số, 20 năm tăng 2 chữ số, 3 năm tăng 3 chữ số.

Thời kỳ 1976-1985, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng rất cao. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế tăng trưởng chậm, có năm bị giảm, làm mất cân  đối cung cầu (thiếu cung), tiền nhiều hơn hàng.

Thời kỳ 1986-1991, lạm phát phi mã, trong đó 1986-1988 tăng tới 402,1%/năm. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế bị khủng hoảng, tăng trưởng thấp, làm cho thị trường bị thiếu cung, tiền nhiều hơn hàng. Có một nguyên nhân quan trọng là việc thực hiện lộ trình giá thị trường đối với hầu hết những mặt hàng bao cấp hiện vật bằng tem phiếu định lượng trong thời kỳ trước, tạo ra mặt bằng giá chung mới cao hơn nhiều.

Thời kỳ 1992-1995, lạm phát còn cao, nhưng đã thấp hơn nhiều so với các thời kỳ  trước. Nguyên nhân chủ yếu do cung đã tăng (tăng trưởng kinh tế 1991-1995 đạt 8,2%/năm, đặc biệt lương thực vượt nhu cầu trong nước, đã có xuất khẩu với khối lượng lớn; Chính phủ đưa ra phương châm: đối với ngân sách thì thu lấy mà chi; đối với ngân hàng thì vay lấy mà cho vay-có nghĩa là Nhà nước không phát hành tiền cho bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt.

Thời kỳ 1996-2003 được coi là thiểu phát, khi CPI tăng rất thấp (mặc dù năm 1998 tăng cao 9,2% do tác động của khủng hoảng khu vực, với tỷ giá năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6% và giá lương thực tăng 23,1%, giá thực phẩm tăng 8,6%. Nhưng nhìn chung cả thời kỳ này đã có 3 năm, trong đó có 1 năm giảm, 2 năm tăng thấp; giá lương thực, thực phẩm giảm hoặc tăng thấp.

Thời kỳ từ 2004 đến nay là thời kỳ lạm phát cao trở lại, gần như lặp đi lặp lại, cứ 2 năm tăng cao mới có 1 năm tăng thấp hơn. 

Năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005 tăng 8,4%, thì năm 2006 tăng 6,6%. Năm 2007 tăng 12,63%, năm 2008 tăng 19,89%, thì năm 2009 tăng 6,52%. 

Năm 2010 tăng 11,75%, năm 2011 sau 8 tháng đã tăng 15,68% (nếu tính theo năm thì tháng 8/2011 so với cùng kỳ năm trước đã tăng tới 23,02%). Dự báo cả năm phải phấn đấu tích cực mới ở mức 18% (nếu theo “quy luật” trong mấy năm qua thì khả năng năm 2012 sẽ tăng thấp hơn và từ đó có thể nhận thấy việc Chính phủ đưa ra chỉ tiêu dưới 10% của năm 2012 là có tính khả thi).

Nguyên nhân

Lạm phát về thực chất là sự mất giá của đồng tiền so với hàng hóa, dịch vụ, với nguyên nhân tổng quát là mất cân  đối giữa tổng cung và tổng cầu, mà biểu hiện của nó là mất cân đối tiền-hàng: tổng cung cao hơn tổng cầu, tiền nhiều hơn hàng thì lạm phát (còn tổng cung ít hơn tổng cầu, tiền ít hơn hàng thì thiểu phát). 

Nguyên nhân chủ yếu của lạm phát bao gồm những yếu tố tác động đến hai vế của quan hệ cân đối này, tức là các yếu tố tác động đến tổng cung, đến hàng và các yếu tố tác động đến tổng cầu, đến tiền. 

Xét theo các mặt này, thì các nguyên nhân của lạm phát thời gian qua bao gồm các yếu tố sau.

1. Xét tổng quát là sản xuất trong nước chưa đủ cho đầu tư và tiêu dùng cuối cùng, hay đầu tư và tiêu dùng vượt qua sản xuất lên đến trên dưới 10% hàng năm, phải nhập siêu, phải vay nợ từ nước ngoài để bù đắp. 

Khi tổng cầu vượt quá tổng cung thì Việt Nam không chỉ ở vị thế nhập siêu, mà còn rất dễ rơi vào lạm phát cao, nếu có sự bất ổn ở bên ngoài (khủng hoảng, lạm phát...) và có trục trặc ở bên trong (thiên tai, dịch bệnh, bất ổn vĩ mô...). 

Vốn đầu tư/GDP gia tăng từ 34,9% trong thời kỳ 1996-2000 lên 39,1% trong thời kỳ 2001-2005 và lên 43,5% trong thời kỳ 2006-2010. Tiêu dùng cuối cùng/GDP của Việt Nam đã tăng tương ứng từ 71,1% thời kỳ 2001-2005 lên 72,2% thời kỳ 2006-2010. 

Đây là tỷ lệ cao so với một số nước (năm 2009 của Việt Nam là 72,8%, trong khi của Brunei là 47%, Trung Quốc 48,7%, Singapore 52,4%, Malaysia 64%, Indonesia 68,2%, Thái Lan 68,3%, Ấn Độ 69,6%, Hàn Quốc 70,3%...). 

Tiêu dùng cuối cùng/GDP của Việt Nam cao và tăng lên, có một phần do quy mô GDP bình quân đầu người thấp, có một phần do tiêu dùng có xu hướng tăng lên; nhưng có một phần do đã xuất hiện tình trạng “ăn chơi sớm” và chuộng hàng ngoại của một bộ phận dân cư.

Do đầu tư và tiêu dùng cuối cùng vượt xa so với GDP, nên nhập siêu tăng lên qua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 mới gần 9,4 tỷ USD, đã tăng lên trên 19,1 tỷ USD thời kỳ 2001-2005 và tăng lên gần 62,8 tỷ USD thời kỳ 2006-2010). 

Trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó đáng lưu ý có các mặt hàng mà một nước đi lên từ nông nghiệp phải nhập khẩu lớn như thủy sản, sữa và sản phẩm sữa, rau quả, ngô, dầu mỡ động thực vật, thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, cao su, gỗ và nguyên phụ liệu, đường, thịt; mà một nước có bờ biển dài nhưng phải nhập muối; một nước có tỷ lệ xuất khẩu/GDP cao, nhưng do tính gia công, lắp ráp cao mà nhập khẩu nguyên phụ liệu lớn, như nguyên phụ liệu dệt may, giày dép, chất dẻo nguyên liệu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; một số loại hàng tiêu dùng có kim ngạch lớn, như điện thoại các loại và linh kiện, ô tô nguyên chiếc, xe máy nguyên chiếc, hóa mỹ phẩm... lên đến mấy tỷ USD.

2. Nguyên nhân tiềm ẩn, sâu xa của lạm phát là hiệu quả đầu tư và năng suất lao động thấp. Hiệu quả đầu tư thấp thể hiện ở hệ số ICOR cao và tăng lên qua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 là 5 lần, thời kỳ 2001-2005 lên 5,2 lần, thời kỳ 2006-2010 lên 6,2 lần, cao gấp đôi nhiều nước trong khu vực). 

Tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư của Việt Nam từ năm 2003 trở về trước ở mức trên dưới 57%, từ 2004 đã giảm xuống nhưng vẫn ở mức trên dưới 40%, trong khi ICOR của khu vực này cao gấp rưỡi hệ số chung của cả nước. 

Năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm 2010 đạt 40,3 triệu đồng/người, chỉ tương đương với 2.067 USD, thấp xa so với các con số tương ứng của một số nước (năm 2008 của Nhật Bản 73.824 USD, Brunei 72.500 USD, Singapore 62.724 USD, Hàn Quốc 38.235 USD, Malaysia 17.718 USD, Thái Lan 6.915 USD, Trung Quốc 5.460 USD, Indonesia 4.597 USD, Philippines 4.535 USD, Ấn Độ 2.706 USD...).

3. Tổng thu ngân sách/GDP của Việt Nam thuộc loại khá cao (mấy năm nay đạt trên dưới 28%), nhưng thu từ dầu thô, từ hải quan, thu từ  đất đai là những khoản không trực tiếp phản ánh hiệu quả kinh tế và có xu hướng giảm (thu từ dầu thô năm 2005 chiếm 29,2%, 6 tháng đầu năm 2011 chiếm 13,9%; thu từ hải quan, tương ứng chiếm 16,7% và 22,5%; thu từ đất đai chiếm khoảng 6-7%). 

Bội chi ngân sách/GDP từ năm 2006 trở về trước ở mức thấp, nhưng từ năm 2007 đến nay ở mức cao, tuy đã có xu hướng giảm xuống trong vài năm nay, nhưng vẫn thuộc loại cao. Trong tổng chi ngân sách, tỷ trọng chi cho đầu tư, chi cho lĩnh vực xã hội là cần thiết, nhưng thuộc loại cao, nhất là chi cho đầu tư công-thể hiện Nhà nước còn “ôm” nhiều quá mà cần khuyến khích các nguồn lực xã hội.

4. Tiền tệ là nguyên nhân trực tiếp và bộc lộ ra cuối cùng của lạm phát. Tốc độ tăng dư nợ tín dụng cao gấp nhiều lần tốc độ tăng GDP.

Năm 2010 so với năm 2000, tín dụng cao gấp trên 13,7 lần, trong khi GDP chỉ gấp trên 2 lần; hệ số giữa tốc độ tăng của tín dụng và của GDP lên đến trên 6,2 lần-một hệ số rất cao. Do vậy, dư nợ tín dụng/GDP đã ở mức khoảng 125%, cao gấp đôi con số tương ứng của nhiều nước. Cùng với tăng trưởng tín dụng là tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, mà tổng phương tiện thanh toán của Việt Nam không chỉ là tiền đồng mà còn có vàng, có ngoại tệ.

5. Tình trạng vàng hóa và Đô la hóa khá cao, tác động tiêu cực đối với lạm phát trên 4 mặt. 

- Hút vào đây một lượng vốn lớn của xã hội mà không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm để cân đối với tiền. 

- Vàng và USD trở thành phương tiện thanh toán, làm cho tổng phương tiện thanh toán tăng lên. 

- Giá vàng trong nước biến động, nhiều lần cao hơn giá vàng thế giới, tác động tới nhập lậu, kéo tỷ giá biến động theo. Khi giá vàng và tỷ giá tăng cao lại tác động đến tâm lý, đến lòng tin vào đồng nội tệ... 

- Tỷ giá tăng tuy khuyến khích xuất khẩu, nhưng lại làm khuyếch đại lạm phát ở trong nước và đây là yếu tố lạm cho lạm phát của Việt Nam cao hơn lạm phát của thế giới; làm tăng nợ quốc gia khi tính bằng VND.

6. Việc thực hiện lộ trình giá thị trường khi chuyển sang kinh tế thị  trường là tất yếu, đúng hướng, là một nội dung quan trọng của đường lối đổi mới. Tuy nhiên, kết quả của việc thực hiện lộ trình này nếu thực hiện dồn dập cùng một lúc sẽ tạo ra mặt bằng giá mới cao hơn, như đã từng xảy ra trong thời kỳ lạm phát phi mã, hay vào tháng 2-3 vừa qua.

7. Giá cả thế giới tăng là một trong những yếu tố quan trọng tác động đối với lạm phát ở trong nước xét trên các góc độ khác nhau. 

- Tỷ lệ xuất, nhập khẩu/GDP của Việt Nam đã tăng nhanh và hiện ở mức khá cao (năm 1992 đạt 51,6%, năm 1995 đạt 65,4%, năm 2000 đạt 96,5%, năm 2005 đạt 130,8%, năm 2010 đạt 154,4%, khả năng năm 2011 sẽ còn cao hơn)-tức là có độ mở khá cao, đứng thứ 5 thế giới-nên biến động giá cả trên thế giới sẽ tác động nhiều đến biến động giá ở Việt Nam hơn các nước khác.

- Giá thế giới tăng sẽ làm cho chi phí đẩy ở trong nước tính bằng VND tăng kép: vừa tăng do đơn giá tính bằng USD tăng, vừa tăng do tính bằng VND tăng.

8. Ngoài ra, cũng cần tính đến sự chuyển động của dòng tiền giữa các kênh đầu tư. Từ quý II/2007, thị trường chứng khoán sau khi lên đỉnh đã đao xuống mạnh, làm cho một lượng tiền lớn từ kênh này chuyển sang làm cho giá bất động sản bốc lên và giá tiêu dùng tăng cao vào cuối năm 2007, đạt đỉnh điểm vào năm 2008. 

Giá vàng, giá bất động sản tăng cao vào năm 2009, đầu năm 2010 cũng đã hút một lượng tiền lớn vào đây, nên CPI cũng tăng chậm lại. Từ cuối 2010, chứng khoán và bất động sản đều giảm, góp phần làm cho sức ép tăng giá tiêu dùng cao lên. Sự chuyển động của dòng tiền giữa các kênh cũng góp phần tạo lên sự cộng hưởng và chia sẻ dòng tiền với thị trường tiêu dùng.

Như vậy, lạm phát ở  Việt Nam do nhiều yếu tố. Các giải pháp kiềm chế lạm phát cần tác động vào các yếu tố đó.
 
Thảo luận (25 ý kiến)
(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)
 
Nguyễn Đại 09:54 (GMT+7) - Thứ Hai, 19/9/2011
Cám ơn tác giả bài viết đã đưa ra chủ để rất "nóng" hiện nay để mọi người có thể tham khảo, học hỏi.

Tôi đã đọc bài viết và các ý kiến, tất cả đều nói về nguyên nhân lạm phát NHƯNG không ai tìm hiểu về các biện pháp khắc phục lạm phát, những biện pháp nào đã được thực hiện, hiệu quả ra sao, có nên tiếp tục sử dụng hay không.

Mong tác giả sớm có bài viết về chủ đề "Biện pháp khắc phục lạm phát tại Việt Nam".
Bùi Bỉnh Luân 23:27 (GMT+7) - Chủ Nhật, 18/9/2011
Nhất trí với bài viết. Tuy nhiên, nguyên nhân bao trùm, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là từ con người.

Các nguyên nhân như: năng lực sản xuất của nền kinh tế yếu, hiệu qủa đầu tư và năng xuất lao động thấp, bội chi ngân sách cao, tốc độ tăng dư nợ tìí dụng lớn, thực hiện lộ trình tăng giá một số mặt hàng không phù hợp… có phần liên quan đến năng lực của con người. Có thể nói là do tự ta gây ra.

Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác như: tình trạng độc quyền, đầu cơ, nâng giá cũng là những nguyên nhân gây tăng giá. Đăc biệt, tình trạng chấp hành luât pháp, quy định không nghiêm nhưng không bị xử lý cũng là nguyên nhân rất quan trọng.

Vì vây, để giải quyết lạm phát không thể chỉ bằng biện pháp kỹ thuật, mà điều chủ yếu là phải tử công tác cán bộ, phải nâng cao kỷ cương, phép nước.
Thu Hiền 18:40 (GMT+7) - Chủ Nhật, 18/9/2011
Bài viết rõ ràng nhưng phân tích chưa sâu.
Lê Văn Hồng 08:50 (GMT+7) - Thứ Bảy, 17/9/2011
Các vấn đề mà tác giả phân tích ở trên thì trong lý thuyết kinh tế đã nói hết rồi. Nguyên nhân căn bản, cốt lõi là do đầu tư công không hiệu quả, do tham nhũng, lãng phí, việc thực thi pháp luật không nghiêm dẫn đến buôn lậu, đầu cơ đẩy giá,.... Các vấn đề đó là rất nghiêm trọng phải không các bác?
Trịnh Hoàng Linh 10:03 (GMT+7) - Thứ Sáu, 16/9/2011
Gửi các bạn đọc,

Đã học kinh tế thì ai cũng biết lạm phát có 4 nguyên nhân chủ yếu:

1. Lạm phát do cung tiền.
2. Lạm phát do cầu kéo.
3. Lạm phát do chi phí đẩy
4. Lạm phát do kỳ vọng.

Trong số 8 nguyên nhân mà tác giả bài viết nêu thì có đến 6 nguyên nhân có liên quan đến lạm phát do cung tiền mà phần tác nhân quan trong đều do việc đầu tư công kém hiệu quả.

Tại nguyên nhân 1 đó là: Vốn đầu tư/ GDP cao.
Tại nguyên nhân 2 : Hiệu quả đầu tư và năng suất thấp->Đặc biệt ở DNNN
Tại nguyên nhân 3: Bội chị ngân sách cao-> CP thu chi không hiệu quả.
Tại nguyên nhân 4: Tăng trưởng dư nợ tín dụng nhanh hơn tăng trưởng GDP->DNNN chiếm tỷ trọng lớn trong tăng trưởng tin dụng
Tại nguyên nhân 5: Chính sách tài khoá và tiền tệ không ăn khớp nhau.
Tại nguyên nhân 6: Hiện tượng độc quyền của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước
Tại nguyên nhân 7: Quản lý việc xuất nhập khẩu không hiệu quả
Tại nguyên nhân 8: Quản lý đầu tư công không hiệu quả. Có hiện tượng sử dụng sai mục đích vốn của nhà nước..

Từ các lý do trên có thể thấy cách làm đơn giản nhất là hạn chế đầu tư công. Cái gì xã hội làm được thì để "Xã hội hoá"-Tư nhân làm. Cái gì các doanh nghiệp trong nước làm chưa tốt thì để doanh nghiệp nước ngoài làm.

Doanh nghiệp tên nước ngoài mà đăng ký tại Việt Nam thì cũng là doanh nghiệp Việt Nam. Họ nộp thuế cho chính phủ Việt Nam, tuyển dụng nhân công Việt, đóng góp vào GDP, làm việc hiệu quả hơn... tại sao lại hạn chế doanh nghiệp nước ngoài. Tại các nước kinh tế phát triển hầu như ranh giới phân biệt giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước là không tồn tại. Tự do và công bằng thương mại chính là nguồn cội của thịnh vượng.

Nói theo cách ví von thì trên sân bóng đá, chính phủ không thể vừa là trọng tài, vừa là cầu thủ. Chính phủ hãy là một trọng tài nghiêm mình và là nhà cung cấp các dịch vụ sân bãi, tiện ích cho các cầu thủ thi đấu.
Trung Vũ 19:58 (GMT+7) - Thứ Năm, 15/9/2011
@Gửi bạn Midu:

Bạn có biết nguyên tắc đầu tiên của việc phá giá tiền là gì không? Đã phá thì phá giá cho đủ lớn và sau đó phải thể hiện được chính phủ có thể kiểm soát được tình hình. Việc điều chỉnh tỷ giá nhiều lần như bạn nói rất dễ gây kỳ vọng cho các lần điều chỉnh tiếp theo.
Anhnt 14:06 (GMT+7) - Thứ Năm, 15/9/2011
Bài viết hay nhưng chưa đủ và chưa đi vào nguyên nhân chính.
Nguyễn Đình Lý 11:11 (GMT+7) - Thứ Tư, 14/9/2011
Bài viết rất hay. Nhưng vấn đề này không mới. Quan trọng là Nhà nước nên có những chính sách mới phù hợp không nên tập trung vào đặc quyền, đặc lợi của thiểu số mới phát triển được đất nước.
Midu 07:49 (GMT+7) - Thứ Tư, 14/9/2011
Ngoài yếu tố giá cả thế giới, đầu tư công kém hiệu quả thì theo tôi một yếu tố rất quan trọng khiến lạm phát tăng nhảy vọt là điều chỉnh tỷ giá. Tỷ giá được nâng lên một lúc 9,3% khiến cho mọi thứ đảo lộn. Nếu chúng ta nâng từ từ, ít một thì đáng lẽ không có chuyện lạm phát có tháng tăng xấp xỉ 3%.
Lê Vinh 07:40 (GMT+7) - Thứ Tư, 14/9/2011
Bài viết rất hay, nhưng chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết. Chúng ta cần những phân tích và kết luận thực tiễn.

Các bác sĩ có thể nói hàng giờ với đủ thứ nguyên nhân của triệu chứng sốt. Thế nhưng bác sĩ giỏi là bác sĩ có thể chẩn đoán đúng: bệnh nhân A này sốt do bệnh gì, chữa như thế nào.

Tương tự, chúng ta phải trả lời được câu hỏi: vậy lạm phát hiện nay do nguyên nhân nào là chính, khắc phục như thế nào. Chứ cứ siết chặt cung tiền như hiện nay chỉ giống như uống thuốc giảm sốt, có khi làm tổn hại nền kinh tế trong dài hạn.
Lê Minh Châu 16:01 (GMT+7) - Thứ Ba, 13/9/2011
Tôi cũng đồng ý với bạn Phương, nên thẳng thắn nhìn nhận những vấn đề nội tại hơn là mổ xẻ những nguyên nhân, ảnh hưởng từ bên ngoài vì nước nào mà chẳng chịu tác động chung như thế.

Tác động của kinh tế toàn cầu là giống nhau nhưng ngay cả các nước trong khu vực cũng có tỷ lệ lạm phát thấp hơn nước ta.

Nguyên nhân thì nhiều, nhưng gốc rễ của mọi vấn đề là đầu tư công và quản lý đầu tư công không hiệu quả, cơ cấu tăng trưởng thiếu bền vững, sản xuất không đáp ứng nhu cầu trong nước luôn gây thâm hụt thương mại, cải cách doanh nghiệp nhà nước – khu vực chiếm đa phần vốn đầu tư của nhà nước, nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao – diễn ra hết sức ì ạch.

Nói vậy nhưng ‘sờ’ đến đâu cũng có vấn đề. Mà vấn đề lớn nhất và không thể giải quyết được là sức ì của con người. Nếu không thế thì tại sao các nước khác người ta giải quyết được vấn đề lạm phát, môi trường, vấn đề phát triển khoa hoc công nghệ, và bao nhiêu vấn đề thậm chí ở tầm thế giới nữa còn ta thì không.
Victor 15:11 (GMT+7) - Thứ Ba, 13/9/2011
Còn 1 nguyên nhân chủ quan và quan trọng nhất: CON NGƯỜI.

Đó là những cán bộ quản lý kinh tế trình độ thấp, tham nhũng để cho lợi ích nhóm và lợi ích cá nhân đứng trước lợi ích quốc gia nên mới dẫn đến các nguyên nhân trên. Các nguyên nhân trên không phải từ trên trời rơi xuống hoặc từ dưới đất ngoi lên. Nói như thần Kim Quy "Giặc ở sau lưng nhà ngươi đó!".
Phương 09:38 (GMT+7) - Thứ Ba, 13/9/2011
- Xin đừng nói lạm phát là do chi phí tăng. Cả thế giới chịu giá dầu, giá vàng, giá lương thực tăng nhưng chả có ở đâu lạm phát cao như Việt Nam. Vậy nguyên nhân chính nằm ở Việt Nam mà thôi.

- Xin đừng bao giờ đổ thừa vàng hóa và đô la hóa. Nếu tôi cầm tiền đi mua vàng, không phải tôi chôn vốn chết mà là tôi đã đưa thêm tiền cho ông SJC kinh doanh. ngược lại nếu tôi bán vàng lấy tiền để tôi kinh doanh thì tức là ông SJC hay ông nào đó mua vàng phải bớt ít vốn kinh doanh của họ để trả cho tôi. Tiền vẫn lưu hành trong nền kinh tế, chả ai chôn vốn chết gì cả. Muốn mua vàng thì phải có tiền, nên cũng chả tự dưng mà đẻ ra thêm phương tiện thanh toán.

- Cái nhãn tiền ai cũng trông thấy, đó là tình trạng đào đường ở các thành phố lớn. Mỗi năm mỗi đào, có năm một con đường được đào lên lấp xuống vài ba lần. Tức là thay vì nước khác người ta chỉ tốn 1 đồng đào đường thì ta tốn 5-10 đồng... Nói tóm lại là thông qua con đường đầu tư công mà chúng ta vứt đi rất nhiều công sức và của cải của xã hội. Thành ra tiêu dùng cao mà cung lại ít. Không lạm phát mới lạ.

- Đầu tư công hô hào mãi nhưng thống kê lại thì mãi không giảm. Giải pháp có nhưng không làm, vậy có nên bàn suông mãi không.
Hoàng 08:59 (GMT+7) - Thứ Ba, 13/9/2011
Ngạc nhiên về ý kiến của bạn Loan, bravo. Căn nguyên gốc rễ đấy. Những cái khác chỉ là ăn theo.

Chúc bạn có những bài viết sắc sảo thêm để chúng tôi học tập.
CaHN 08:38 (GMT+7) - Thứ Ba, 13/9/2011
Pvd nói đúng.
Loan 22:19 (GMT+7) - Thứ Hai, 12/9/2011
Theo tôi, bài viết trên đã khái quát tương đối đầy đủ về nguyên nhân của lạm phát, nhưng chúng ta cần nhấn mạnh yếu tố: quá đề cao chỉ tiêu đạt được gây nhầm phuơng hướng cho chính sách vĩ mô, và yếu tố mất cân bằng cơ cấu trong nền kinh tế mang tính gốc rễ chưa được sửa chữa từ xưa đến nay.
ĐV 22:05 (GMT+7) - Thứ Hai, 12/9/2011
Thực trạng hiện nay đó là chúng ta sử dụng đồng vốn không hiệu quả. Tôi thực sự rất buồn, không một công trình nào mà tôi ưng ý.

Nếu anh làm tốt, anh hoàn thiện đường xá, quy hoạch thành phố như nước ngoài thì hàng tháng có bắt chúng tôi đóng lệ phí đường xá chúng tôi cũng sẵn sàng, nhưng không, ai cũng tham của riêng, đâu cần biết con cháu mình mai sau là người gánh chịu đâu. Chung cư hời hợt dở khóc dở cười. Mua thì vài năm xuống cấp, trước khi mua thì nói ngọt, hứa ngọt nhưng khi ở thì nhận toàn trái đắng. Thị trường chứng khoán hỗn loạn như 1 cái chợ, bị thao túng thô thiển...

Tôi hoàn toàn ủng hộ hướng tới 1 hệ thống ngân hàng lành mạnh với các văn bản Basel I và II. Hiện tại nhiều người dân đang mất lòng tin vào tiền VNĐ.
Yến 18:34 (GMT+7) - Thứ Hai, 12/9/2011
Những nhân tố này chắc là không sai nhưng có lẽ chưa đủ để nói về nguyên nhân lạm phát trong xã hội VN.

Những yếu tố như niềm tin của công chúng vào cuộc sống xã hội, nạn tham nhũng, bất công, thiếu rõ ràng, minh bạch trong xã hội cũng là những nhân tố tạo ra lạm phát khó có thể kiềm chế.

Những vấn đề này chủ yếu phát sinh từ khu vực nhà nước, thể hiện khả năng quản lý điều hành và hệ thống quản lý không ổn.
Hoàng 17:37 (GMT+7) - Thứ Hai, 12/9/2011
Theo tôi, quan trọng nhất là đồng Việt Nam là đồng tiền yếu - tính thanh khoản quốc tế gần như bằng không.

Và các con buôn dễ dàng nhìn thấy điều này.
Ng Th 16:21 (GMT+7) - Thứ Hai, 12/9/2011
Tôi xin chia sẻ những nguyên nhân lạm phát ở VN, mong cac ban đóng góp:

- Giá dầu và giá nguyên vật liệu thế giới tăng cao trong những năm gần đây (2007 đến nay, lúc VN hội nhập sâu) do kinh tế -xã hội thế giới bất ổn.

- Giá lương thực tăng cao do khủng hoảng lương thực thế giới ( công nghiệp hóa và thiên tai).

- Cung tiền VNĐ tăng nhanh và sử dụng vốn kém hiệu quả, nợ xấu hệ thống NHTM tăng cao, một số tập đoàn nhà nước, DNNN vay vốn lớn nhưng kinh doanh không hiệu quả, nhiều vụ án phá sản liên quan đến cán bộ ngân hàng, tiền ra khỏi NH không quay về.

- Chạy theo tăng trưởng nhanh, đầu tư công kém hiệu quả, phân tán, manh mún, nhiều công trình dở dang chậm đưa vào sử dụng, tiền ra không có hang cân đối.

- Bội chi ngân sách mức độ cao >5% GDP và kéo dài liên tục, hiệu quả phân bổ NSNN không cao, các địa phương mang tính ỷ lại vào sự phân phát của trung ương.

- Bong bóng bất động sản, kéo mặt bằng giá cả vật tư, nguyên vật liệu tăng theo…kéo theo sự giàu có bất thường hoặc bất ngờ một số đại gia, dẫn đến tiêu dùng hàng cao cấp tăng, nhập siêu tăng, phá giá tăng.

- Đầu tư nước ngoài tăng, kéo theo cung tiền VNĐ tăng (mua ngoại tệ), tăng giá BĐS,…chuyển giá trốn thuế, làm tăng giá thành trong nước…

- Nhập siêu liên tục và kéo dài, thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai ở mực độ nguy hiểm >7% GDP..kéo theo phá giá nội tệ liên tục, tỷ giá USD/VNĐ = x liên tục điều chỉnh tăng gây sốc giá trong nước (lạm phát kép).

- Hệ thống kiểm soát giá kém, nhiều cơ quan quản lý giá nhưng thiếu sự phối hợp, giá cứ tăng nhưng không hiểu tại sao?

- Chủ động điều chỉnh giá (xăng dầu, điện, nước, than..) theo cơ chế thị trường.

- Hệ thống bản lẻ, phân phối thu mua kém hiệu quả, trong khi giá cả tại các chợ thì không quản lý được.

- Giới đầu cơ, phao tin đồn nhảm và lũng đoạn giá có quá nhiều kinh nghiệm ở Việt Nam, nhưng biện pháp quản lý thì kém, xử phạt còn nhẹ và không nghiêm minh, giám sát không thường xuyên.
Lê Xuân Hân 15:46 (GMT+7) - Thứ Hai, 12/9/2011
Bài viết hay nhưng chưa đủ.
Nguyên Hà 15:41 (GMT+7) - Thứ Hai, 12/9/2011
Một bài viết rất hay, nhưng sao không đưa ra vài giải pháp để khắc phục. Lạm phát ở Việt Nam là siêu lạm phát, nên nguyên nhân cũng phải nhiều hơn, giải pháp đưa ra chắc cũng rất khó.
pvd 11:16 (GMT+7) - Thứ Hai, 12/9/2011
Lạm phát có rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhưng nếu nói trong một thời gian dài “trong 36 năm qua” thì nên đánh giá khái quát hơn: tổng số tiền lưu hành trên thị trường gia tăng lớn hơn số lượng giá trị gia tăng có được từ sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.

Thực vậy.

Nếu nói vì thiên tai thì thiên tai thì với 36 năm mọi nền kinh tế đều phải coi đó là yếu tố tất yếu, phải được tính đến, phải khắc phục.

Nếu nói vì kinh tế thế giới thì sau vài cuộc kinh tế thé giới khủng hoảng thì cũng bấy nhiêu lần kinh tế thăng hoa trong 36 năm đó rồi.

Nếu nói vì tăng trưởng đầu tư thái quá thì dồn lại sau 36 năm với hai chữ số của đầu “thái quá” hiện tại không thể lý giải “hợp lý” cho mức lạm phát 36 năm cộng lại.

Cũng không thể đổ tội cho ngành tín dụng hay các kênh cung ứng vốn mới toe của nền kinh tế, chẳng nhẽ 36 năm qua họ luôn là các tội đồ?

Càng không thể nói rằng dân ta chi tiêu quá mức khiến kinh tế ngày càng xuy xụp. Không có đâu, dân ta chịu khó tích cóp lắm, còn khối vàng trong dân cơ mà!

Vậy chung nhất là cái gì?

Chung nhất, sâu xa nhất, sai lầm của chúng ta: Đó là ta luôn coi Nền kinh tế là của Nhà nước, trong khi – thực chất – Nhà nước là của Nền kinh tế.

Thực chất nền kinh tế là cơ sở hình thành nhà nước. Nền kinh tế phải cần đến nhà nước như một công cụ không thể thiếu của nó. Do đó Nền kinh tế phải “nuôi” Nhà nước, phải cung cấp đủ tiền cho Nhà nước để Nhà nước hoạt động.

Thực tiễn luôn là như vậy, điều ngược lại vô lý và không thể.
Nhưng trong 36 năm qua Nền kinh tế luôn thiếu quan tâm đến Nhà nước, không cấp đủ tiền cho Nhà nước hoạt động.

Trong khi ngược lại, Nhà nước lại quá quan tâm bao cấp hỗ trợ cho quá nhiều thành phần, nhiều khi tưởng như toàn bộ Nền kinh tế luôn. Tiền hỗ trợ cho Nền kinh tế lấy đâu ra (?). Thành thử lạm phát thôi, mỗi năm một ít.
Nguyễn Trung 10:58 (GMT+7) - Thứ Hai, 12/9/2011
Nội dung bài viết đã phân tích nguyên nhân khá đầy đủ và có cơ sở cho nhà chính sách chọn lựa giải pháp.

Lưu ý tỷ lệ tín dụng / GDP phải tính toán lại, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng thông báo hàng năm vừa qua (có lúc hơn 30%) là danh nghĩa chưa trừ tỷ lệ lạm phát, nếu duy trì chủ trương phát triển ổn định bền vững thì tăng trưởng tín dụng hàng năm không quá 15% (và lạm phát không quá 10%).

Nếu thế các NH TM nên thận trọng dánh giá lại mình để nhanh chóng tái cấu trúc lại hoạt động (tài chính, quản trị rủi ro, danh mục đầu tư và nợ xấu), đã đến lúc NHNN không nương tay (vì lo bất ổn hệ thống?) áp dụng cả 2 giải pháp thị trường và hành chính để quản lý và đủ khả năng ứng phó tình huống bất ổn nếu có, TT 13 ,19 và 22 không hẳn là những văn bản hành chính đơn thuần mà là có tính toán kỹ lưỡng những chỉ số tài chính / an toàn vốn phải có cho 1 hệ thống NH lành mạnh (chỉ mới theo Basel I và II).

NH TM không thể mãi đơn thuần là cỗ máy huy động vốn mà lại không quan tâm đến năng lực quản trị (rủi ro) đến khi phát sinh vấn đề làm ảnh hưởng đến lợi ích xã hội thì trông chờ vào NH NN.
Nhi Thuỳ 10:41 (GMT+7) - Thứ Hai, 12/9/2011
Bài viết rất sâu sắc, nhận xét nguyên nhân sâu xa của lạm phát rất hay.

Tuesday, September 6, 2011

06/09 Chuyên gia nước ngoài mong Chính phủ thúc đẩy cải cách


picture
Nhiều chuyên gia nước ngoài cho rằng Việt Nam cần thúc đẩy tái cơ cấu khối ngân hàng và doanh nghiệp - Ảnh: Lê Tất Tiên.
▪  ANH MINH
15:20 (GMT+7) - Thứ Ba, 6/9/2011

Phần lớn các chuyên gia quốc tế tham dự cuộc gặp mặt với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sáng 6/9 tại Hà Nội có chung nhận định rằng Việt Nam cần thúc đẩy tái cơ cấu khối ngân hàng và doanh nghiệp, nhằm khắc phục những yếu kém nội tại trong nền kinh tế và tạo đà cho giai đoạn phát triển mới.

Trước đó, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ đã có cuộc gặp mặt với 30 chuyên gia kinh tế trong nước vào ngày 20/8 vừa qua.

Tại cuộc gặp sáng 6/9, ngoài Thủ tướng, có tới gần 10 vị lãnh đạo cấp bộ trưởng, thứ trưởng. Ở phía đối diện, 17 vị chuyên gia nước ngoài, trong đó có những người từng làm việc nhiều năm ở Việt Nam, đã chuẩn bị các bản tham luận khá công phu.
 
Tham vấn ý kiến các chuyên gia, trong đó chủ yếu đến từ các nhà tài trợ cho Việt Nam, là công việc từng được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành hàng năm, nhưng điểm mới của năm nay là Thủ tướng Chính phủ đích thân sang Bộ để chủ trì cuộc gặp.

Theo bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, những kết quả mà Việt Nam đạt được trong phát triển kinh tế-xã hội như tốc độ tăng trưởng đạt khá (5,4% trong quý 1 và 5,7% trong quý 2), xuất khẩu tăng mạnh, tỷ giá hối đoái ổn định; dự trữ ngoại tệ tăng; công tác an sinh xã hội đạt được những kết quả tích cực… sẽ là tiền đề để Việt Nam tiếp tục phát và đạt tăng trưởng cao hơn trong năm 2012 và những năm tiếp theo.

Tuy nhiên, vị đại diện của WB cũng cho rằng bên cạnh những “tin tốt”, còn có nhiều “tin xấu” như lạm phát cao; xuất khẩu chưa tốt; lãi suất cho vay còn cao; cam kết FDI giảm… là những vấn đề mà Việt Nam cần giải quyết.

Nói về tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay, bà Victoria Kwakwa đưa ra một số so sánh, chẳng hạn mức lạm phát 23% so với cùng kỳ là cao nhất châu Á hiện tại.

Đồng nội tệ cũng dao động mạnh trong bốn năm qua và là đồng tiền duy nhất ở châu Á giảm giá so với USD; trong khi dự trữ ngoại tệ tính theo tuần nhập khẩu hiện chỉ ở mức 8 tuần, mức thấp nhất kể từ năm 1994, trong bối cảnh hầu hết các nước châu Á khác đều tăng dự trữ ngoại tệ.

Hiện trạng này đòi hỏi Chính phủ phải quyết tâm hơn nữa trong việc tiếp tục các giải pháp nhằm cấu trúc lại khối ngân hàng và doanh nghiệp để lành mạnh hóa nền kinh tế, từng bước phục hồi.

Trong khi đó, ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam và Lào nói rằng trong thời gian tới, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa việc tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiệu quả và bền vững.

Theo ông, Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với những vấn đề kế thừa từ quá khứ, chẳng hạn như lạm phát, nợ công, nợ của khu vực doanh nghiệp. Không chỉ vậy, một vấn đề khác là dường như sự quan tâm đến cải cách cơ cấu đang ít đi.

Việc tái cơ cấu khối ngân hàng và doanh nghiệp cần được thực hiện ngay và Chính phủ cần thể hiện điều đó thông qua việc đưa ra các tiêu chuẩn mới, chẳng hạn phải áp dụng ngay một Chương trình đánh giá ổn định tài chính.

Vị đại diện của IMF nói, sự chậm lại của cải cách cơ cấu trong hai năm qua là dễ hiểu, nhưng đã đến lúc Chính phủ cần có tín hiệu cụ thể rằng sẽ lấy lại động lực cải cách, qua đó mang lại hy vọng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Trong phần phát biểu của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục kiên trì thực hiện Nghị quyết 11, trong đó ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội.

Hiện, lạm phát của Việt Nam đang có xu hướng giảm và sẽ kiềm chế trong năm 2011 ở mức 18%, và mục tiêu trong năm 2012 là sẽ đưa lạm phát xuống còn một con số; tăng trưởng GDP năm 2011 được kỳ vọng ở mức khoảng 6%.

Thủ tướng cũng cho biết trong năm 2011, Việt Nam sẽ tiếp tục các giải pháp nhằm đảm bảo chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán ở mức tăng dưới 15%; kiểm soát tỷ giá và giữ được ổn định về tỷ giá; giảm lãi suất theo hướng đi liền với giảm lạm phát.

“Việt Nam thấy rõ những mặt đã đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và sẽ quyết tâm bằng nội lực, phát huy sức mạnh của của cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ, hợp tác nhiều hơn nữa của các chuyên gia, các nhà tài trợ, cộng đồng quốc tế…, nhất là trong tư vấn về chính sách, hỗ trợ nguồn lực để Việt Nam thực hiện thành công các mục tiêu đề ra”, Thủ tướng nói.

Tuesday, August 9, 2011

09/08 Học giả Trung Quốc bàn về hướng giải quyết cho vấn đề Biển Đông



EmailInPDF.
 Trên mạng Bình luận Trung Quốc, một số học giả đánh giá tình hình Biển Đông và hướng giải quyết, trong đó coi trọng việc dùng sức mạnh tổng hợp nhằm khẳng định chủ quyền: ngoại giao, pháp lý, quân sự, tăng cường chấp pháp, khai thác, tuyên truyền quốc tế,  đồng thời coi chống cướp biển là bước đột phá nhằm giành quyền lãnh đạo tại Biển Đông.
(1) Hoạt động khẳng định chủ quyền trên biển cần tiếp tục kiên trì (Lý Kim Minh - Giáo sư Viện nghiên cứu Nam Dương, Học viện Quan hệ quốc tế thuộc Đại Học Hạ Môn): Ngoài việc đẩy mạnh tuyên truyền (cả bằng tiếng Anh), tổ chức hội thảo quốc tế, ngăn chặn sự can thiệp các công ty nước ngoài trong thăm dò và khai thác dầu khí, Trung Quốc cần tiếp tục kiên trì khẳng định chủ quyền trên biển một cách liên tục và lâu dài, có tổ chức và cơ chế rõ ràng với việc sử dụng lực lượng Hải Giám và Ngư Chính, như vậy mới đảm bảo hiệu lực pháp lý thực tế. Bên cạnh đó, Trung Quốc cố gắng phân hóa ASEAN để ngăn chặn sự liên kết của ASEAN chống Trung Quốc.
(2) Chuẩn bị lực lượng quân sự cần thiết (Lý Quốc Cường, Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu sử địa biên cương, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc): Giải quyết vấn đề Biển Đông chỉ có 3 cách là Ngoại giao, Quân sự và Pháp lý, trong đó Ngoại giao là tất yếu và cần thiết, hạn chế tối đa việc sử dụng đến quân sự và pháp lý vì đều dẫn tới quốc tế hóa và phức tạp hóa. Tuy nhiên, chỉ dựa vào mình ngoại giao thì không đủ, trước mắt, ít có khả năng tranh chấp Biển Đông dẫn tới xung đột quân sự nghiêm trọng nhưng không loại trừ khả năng xung đột cục bộ nên cần có sự chuẩn bị quân sự cần thiết. Tranh chấp Biển Đông trở thành tiêu điểm mới trong cuộc đấu trí Trung - Mỹ, Mỹ đã chuyển từ ẩn mình sang công khai can dự vào Biển Đông, tuy nhiên trong thời gian ngắn hạn, Mỹ vẫn chưa thể có động thái gì lớn vì không phù hợp với lợi ích chiến lược của Mỹ, Trung Quốc cần sử dụng nhiều kênh khác nhau để ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ (ví dụ có thể tạo những tổn thất to lớn của Mỹ tại Trung Quốc nếu các công ty Mỹ hợp tác với các nước khác thăm dò khai thác dầu khí Biển Đông).
(3) Lấy chống cướp biển làm điểm đột phá mới (Khởi Khả, Viện nghiên cứu Nam Dương, Học viện Quan hệ quốc tế thuộc Đại Học Hạ Môn): Hiện Trung Quốc vẫn còn bị động trong tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc cần tìm ra những điểm đột phá mới, phá thế bị động do VN, Philippines và Mỹ bày ra, đó chính là việc Trung Quốc có thể lấy việc chống cướp biển làm đột phá khẩu, lãnh đạo khu vực CÁ - TBD trong hoạt động chống cướp biển (năm 2010, các vụ cướp biển tại khu vực Biển Đông tăng nhanh đến hơn 30 vụ), Trung Quốc có thể lợi dụng vấn đề này làm điểm đột phá mới, từ đó lãnh đạo hợp tác an ninh biển đối với cả khu vực CÁ - TBD thậm chí rộng hơn, đồng thời cũng là tăng cường sự có mặt của Trung Quốc tại Biển Đông, phù hợp với sách lược trước mắt và lâu dài của Trung Quốc, cũng là tăng cường sự chấp pháp và khống chế của Trung Quốc đối với Biển Đông./.
Thanh Nga (gt)

Friday, July 29, 2011

29/07 Mạnh dạn đổi mới kinh tế lần 2


Thứ Sáu, 29/07/2011, 06:23 (GMT+7)
Sau khi Ủy ban Kinh tế của Quốc hội khóa XII đưa ra bản kiến nghị “Kinh tế VN - những vấn đề đặt ra trong trung và dài hạn”, nhiều chuyên gia, doanh nghiệp... cho rằng đây là những đề xuất sát sườn với thực trạng nền kinh tế VN hiện nay. Nhằm làm rõ hơn những nội dung trong bản kiến nghị trên, từ số báo này Tuổi Trẻ xin giới thiệu các ý kiến đóng góp từ các chuyên gia kinh tế, bạn đọc...
Kinh tế Việt Nam - những vấn đề trung và dài hạn

TT - Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông NGUYỄN ĐÌNH CUNG, viện phó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, cho rằng đã có thể khẳng định một sự đồng thuận xã hội trong yêu cầu tiếp tục đổi mới, tái cơ cấu nền kinh tế, thực chất là đổi mới kinh tế lần 2. Ông Cung nói:
Ông Nguyễn Đình Cung
- Tái cơ cấu nền kinh tế, thay đổi mô hình tăng trưởng... theo nghiên cứu của chúng tôi, từ ba năm gần đây đã thành một yêu cầu khách quan, mệnh lệnh không thể thoái thác từ thực tế phát triển kinh tế của VN. Tại sao? Bởi nếu không tái cơ cấu nền kinh tế, VN sẽ khó có thể phát triển tiếp.
Động lực cho sự phát triển của VN 25 năm qua là tăng vốn đầu tư, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên... Những động lực đó giờ cơ bản đã gần hết, nếu không đi vào phát triển chiều sâu, nâng hiệu quả, năng suất lao động, phát triển công nghệ... thì VN sẽ giậm chân tại chỗ. Mà trong thế giới phát triển không ngừng, đứng nguyên có nghĩa là đang tụt lại...
Nhà nước phải thay đổi cách tiêu tiền
"Đã là doanh nghiệp, không nên mặc định cho anh này có vai trò lớn hơn anh kia, rồi giao công việc xã hội cho họ, rồi có việc gì thì giải cứu. Tất cả nên bình đẳng, ai làm tốt Nhà nước giao việc, trả công sòng phẳng"
Ông NGUYỄN ĐÌNH CUNG
* Ủy ban Kinh tế nêu cần tái cơ cấu nền kinh tế vì những bất ổn hiện tại đã có tính chu kỳ và sẽ tạo vòng xoáy bất ổn, xu hướng suy thoái trong dài hạn. Vậy theo ông, các bước thực hiện tái cơ cấu nên thế nào?
- Tái cơ cấu thực chất là thay đổi động lực tăng trưởng. Động lực cũ chỉ có thể giúp chúng ta phát triển đến như ngày nay, muốn có dư địa để giàu hơn, phát triển hơn thì ta phải thay đổi.
Giải pháp để tái cơ cấu thì rất nhiều, chúng tôi đã kiến nghị lên Chính phủ khoảng 20 trang trong đề án tái cơ cấu nền kinh tế. Nhưng trọng tâm, cần thực hiện ngay theo tôi là: ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả đầu tư, cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước...
Đặc biệt về ổn định vĩ mô, không nên thấy có hiệu quả một chút rồi lại làm như cũ. Ổn định phải vững chắc, theo tiêu chuẩn thế giới chứ không phải định tính. Ví dụ lạm phát không phải “một con số” mà phải cụ thể, chỉ nên 4%/năm, bội chi ngân sách 3%...
Chính phủ cần tạo cho được niềm tin của người dân vào đồng tiền, để người dân bỏ tiền ra đầu tư tạo ra năng lực sản xuất mới, giá trị gia tăng mới chứ không phải chủ yếu là đầu cơ hoặc tích trữ vào vàng, đôla, bất động sản để không bị lạm phát tước đoạt tài sản...
* Như vậy, theo ông, thông điệp lớn nhất của việc tái cơ cấu nền kinh tế phải bắt đầu từ hành động gì?
- Thông điệp về tái cơ cấu kinh tế, ổn định vĩ mô phải rõ ràng và được chứng minh bằng sự kiên nhẫn, quyết tâm. Phải có tầm nhìn dài hạn và phải hiểu rằng dù anh có nới cũng chỉ giúp một chỗ đó chứ không thể cứu được toàn bộ nền kinh tế và chỉ cứu được trước mắt chứ không thể cứu được lâu dài.
Cán bộ quản lý cũng nên hiểu việc vốn vào chỗ này hay chỗ kia là việc của thị trường chứ không phải việc của bộ này, bộ kia. Việc của Nhà nước lúc này là thắt chặt vốn lại, chặn khả năng vốn “lách” vào khu vực nhiều nguy cơ, còn vốn thị trường sẽ phải tự biết cách đưa vào chỗ nào hiệu quả. Cần kiên trì mới ổn định được đồng tiền, tạo cơ sở cho tái cơ cấu nền kinh tế.
* Đề xuất 10 điểm của Ủy ban Kinh tế cho rằng không nên đầu tư vào khu vực doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả. Tuy nhiên, để tăng hiệu quả vốn đầu tư nhà nước, cách tiêu tiền của Chính phủ cũng phải xem lại?
- Phải thay đổi cách tiêu tiền, phân bổ nguồn lực. Chúng ta đã công nhận vốn đầu tư nhà nước còn kém hiệu quả và đã nói điều này từ lâu rồi. Vậy cần làm gì? Theo tôi, đầu tư nhà nước phải khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, không đồng bộ, cả vào dự án không cần thiết, không hiệu quả.
Rõ ràng việc này không thể xử lý bằng việc rà soát lúc này, cắt giảm đình hoãn lúc khác. Cần thay đổi cả cơ chế đầu tư vốn nhà nước. Một trong những cái cần thay đổi trong đầu tư là trung ương phải làm nhiều hơn, cần có những dự án, ngành ưu tiên với những tiêu chí hiệu quả hàng đầu.
Có hàng trăm dự án hạ tầng, ai cũng nói cần cả. Nhưng không thể vì tắc hàng ở Hải Phòng, TP.HCM mà làm 10-20 cảng trên khắp nước, hay làm hàng loạt sân bay. Có thể chỉ làm 3-4 cảng thôi, thậm chí không hiệu quả thì kiên quyết không làm.
Đầu tư công chiếm số lượng vốn rất lớn. Vì vậy, nếu cải thiện được hiệu quả nó sẽ cải thiện được rất nhiều về môi trường kinh doanh và hiệu quả nền kinh tế.
Phải giúp khu vực tư nhân bớt “yếu thế”
* Ủy ban Kinh tế cho rằng cần cải cách doanh nghiệp nhà nước, không nên thành lập thêm tập đoàn. Việc cải cách cần nhằm vào đâu cho hiệu quả?
- Hãy đặt các doanh nghiệp này vào áp lực cạnh tranh, và muốn thế Nhà nước cần để các doanh nghiệp này phải bình đẳng trên thực tế về cơ hội kinh doanh, về tiếp cận vốn, đất đai... Họ phải đối mặt với rủi ro của thị trường và họ phải thay đổi cách ứng xử.
Nếu làm tốt họ sẽ được hưởng; nếu không cố gắng, làm không tốt, họ sẽ bị thị trường trừng phạt và họ phải trả giá, bị phá sản như những doanh nghiệp bình thường khác.
* Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước vừa gửi kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII cho thấy các tập đoàn, tổng công ty có vấn đề trong việc kê khai, nộp thuế? Chúng ta đã tăng giám sát sau vụ Vinashin nhưng vẫn chưa đủ?
- Cần công khai hơn nữa về các tập đoàn. Chúng ta có quy định các doanh nghiệp niêm yết phải đáp ứng những nhu cầu về công khai, cáo bạch, kiểm toán rất khắt khe. Mà công ty niêm yết chỉ là của vài chục ngàn cổ đông. Các tập đoàn là sở hữu của toàn dân, hàng triệu người, nên đáng ra phải công khai hơn.
Nên trước mắt, tôi cho rằng cần quy định các tập đoàn phải công khai, đáp ứng các tiêu chuẩn minh bạch thông tin như các công ty niêm yết. Khi đó sẽ có thị trường, hàng triệu con mắt giám sát giúp Nhà nước phát hiện, ngăn chặn kịp thời những sai sót, khả năng đổ vỡ như Vinashin...
Việc này nghe thì đơn giản, cũng không có gì khó làm, nhưng tôi tin nếu làm được sẽ là cú nhảy vọt, cuộc cách mạng đối với các doanh nghiệp nhà nước.
* Ngoài cải cách doanh nghiệp nhà nước, để tăng hiệu quả, cần phải tăng hỗ trợ khu vực tư nhân với hiệu quả đầu tư đang cao hơn?
- Đúng. Nhưng theo tôi, muốn phát triển khu vực kinh tế tư nhân thì hỗ trợ nó chỉ là một phần mà phần quan trọng hơn phải cải tạo khu vực doanh nghiệp nhà nước để khu vực này không chèn lấn. Hiện khu vực doanh nghiệp nhà nước đang chiếm dụng tỉ lệ vốn, tài nguyên, cơ hội kinh doanh rất lớn trong khi các nguồn lực trên là hữu hạn.
Nhiều khu vực tư phải tìm cách chui vào vỏ bọc nào đó để tiếp cận được các cơ hội trên hoặc chỉ là để được nhận lại các cơ hội do doanh nghiệp nhà nước ban lại.
* Phải chăng doanh nghiệp tư nhân vẫn có vai trò chưa tương xứng đóng góp và cần có cơ quan mạnh mẽ hơn giúp đỡ họ?
- Trong quan hệ với Nhà nước, khu vực tư nhân luôn yếu thế, thậm chí “thấp cổ bé họng”. Vì vậy, tôi cho rằng nên thành lập tổng cục hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân. Các cơ quan quản lý hành chính, dù pháp luật quy định thế nào nhưng thực tế luôn ở thế “bề trên” doanh nghiệp. Quan hệ đôi bên không thể bình đẳng.
Vì vậy, cần một đối trọng đủ mạnh, cũng trong Nhà nước để bảo vệ khu vực tư nhân. Vai trò tòa án hành chính, hiệp hội còn chưa lớn nên để một tổng cục giải quyết với các cơ quan nhà nước khác những vướng mắc vốn rất lớn của doanh nghiệp tư vẫn là cách làm nhanh gọn, hiệu quả nhất.
* Cuối cùng, theo ông, nhiệm vụ hàng đầu, có thể lấy làm tiêu chí đánh giá thành công của Chính phủ mới tới đây, chính là có tái cơ cấu nền kinh tế thành công hay không?
- Tôi nghĩ nhiệm vụ năm năm tới trọng tâm phải là tái cơ cấu nền kinh tế. Năm năm có thể chưa xong nhưng những hành động, kết quả ban đầu thì hoàn toàn có thể đánh giá được. Tôi cho rằng cần có cơ quan điều phối việc tái cơ cấu vì đây là nhiệm vụ cả một giai đoạn.
Cần có một cơ quan trung ương đủ mạnh về thẩm quyền, có thể là bộ hoặc ủy ban phát triển kinh tế để điều phối, tổ chức thực hiện, đánh giá việc tái cơ cấu để điều chỉnh, tránh chệch hướng.
CẦM VĂN KÌNH thực hiện
Diễn biến lãi suất cho vay từ đầu năm đến nay - Ảnh: T.V.N. - Đồ họa: N.K.
Vốn, lãi suất đang gây áp lực cho doanh nghiệp
Ngày 28-7, tại buổi báo cáo tổng kết sáu tháng đầu năm và phương hướng hoạt động sáu tháng cuối năm 2011, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM cho biết vấn đề vốn, lãi suất sẽ tiếp tục là thách thức của doanh nghiệp trong sáu tháng còn lại của năm.
Phần lớn các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, rơi vào tình cảnh loay hoay, mất phương hướng do mặt bằng lãi suất cao, áp lực tăng giá nguyên vật liệu đầu vào ảnh hưởng đến sức tiêu thụ, tình hình dịch bệnh...
Bối cảnh của nền kinh tế hiện nay không thuận lợi, nhiều doanh nghiệp không dám đầu tư phát triển, thậm chí một số phải tạm ngừng hoạt động kinh doanh. Trong sáu tháng đầu năm, số lượng doanh nghiệp lẫn số vốn đăng ký mới đều giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước.
Hiệp hội cho biết để “cấp cứu” cho doanh nghiệp, nơi này cũng có kiến nghị thành phố lập quỹ hỗ trợ cho các doanh nghiệp vay (đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ) với mức lãi suất ưu đãi, cùng các điều kiện, thủ tục không quá phức tạp để doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn này.
N.BÌNH
email
email
Chia sẻ:
http://tuoitre.vn/Images/bookmark/facebook_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/yahoo.jpg http://tuoitre.vn/Images/bookmark/twitter_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/zingme_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/google_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/myspace_48.png
top
(3)
Đánh giá tín dụng quốc gia
29/07/2011 4:40:56 CH
Chúng ta nên có các tổ chức đánh giá tín dụng quốc gia như ở các nước khác, ví dụ như Credit Rating Agency của Nhật, nhằm đánh giá xếp hạng các doanh nghiệp bất kể tư nhân hay nhà nước dựa trên dữ liệu minh bạch từ thị trường. Những xếp hạng này sẽ giúp nguồn vốn lựa chọn kênh lưu thông có hiệu quả. Và cũng chỉ đơn giản là vậy, đừng mở thêm cục này cục kia làm gì.
MỘT BẠN ĐỌC
Những việc tưởng như dễ, nhưng khó làm, do đâu?
29/07/2011 10:55:46 SA
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội khóa XII đã dưa ra bản kiến nghị "Kinh tế VN - những vấn đề đặt ra trong trung và dài hạn". Đây là thái độ đầy trách nhiệm trước quốc dân đồng bào của Ủy ban. Những vấn đề nêu ra trong kiến nghị là hết sức trọng đại và cấp thiết, phải làm ngay và làm quyết liệt nếu không muốn nền kinh tế nước ta tiếp tục đi vào vòng xoáy lạm phát, khủng hoảng và dần tụt hậu, khoảng cách giàu nghèo ngay càng rộng.
Nhưng thật ra, những vấn đề đó không hẳn là mới. Đầu tư không dàn trải, không hiệu quả. Đã có thời đâu đâu cũng có nhà máy đường, đâu đâu cũng có xi măng lò đứng, đâu đâu cũng có sân golf... và không cẩn thận thì rồi đây đâu đâu cũng lại có sân bay, bến cảng..., sẽ lại có hàng loạt các dự án nhiều triệu đô la, thậm chí nhiều tỷ đô la ra đời mà không biết bao đời con cháu chưa trả nổi.
Việc công khai, minh bạch một số vấn đề của các doanh nghiệp nhà nước cũng đâu phải là khó không làm được. Bội chi ngân sách luôn cao. Có nơi tiêu không hết tiền theo "chỉ tiêu được duyệt", phải bảo nhau cố tiêu không thì năm sau bị cắt bớt.
Kinh tế tư nhân ngày càng có vai trò quan trọng trong tăng trưởng chung, trong giải quyết công ăn việc làm,v.v... Nhưng họ vẫn bị ghẻ lạnh, cạnh tranh yếu thế với doanh nghiệp nhà nước. Biết từ lâu và cũng đã nói mãi rồi. Tất cả, kể ra đây thì nhiều thứ lắm. Tóm lại là tất tất cả, "khổ lắm, nói mãi".
Nạn tham nhũng từ trên xuống dưới nếu không được ngăn chặn. Nạn tham nhũng là một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất phá hoại đất nước ta. Mà muốn chống tham nhũng hiệu quả thì phải làm từ trên, từ những nơi có tác dụng quyết định, có ảnh hưởng rộng lớn, những nơi làm ra chủ trương, chính sách.

HOANG THAO
Làm được không?
29/07/2011 7:31:29 SA
Là người dân, tôi luôn mong Nhà nước làm được như vậy, hoặc hơn vậy nếu có thể. Nhưng được 50% những gì nêu trong bài viết trên đã là quá tốt trong cơ chế hiện nay. Rất mong có những bài viết nêu thẳng vấn đề bức xúc của xã hội hiện nay.
LƯU KHÁNH AN