Showing posts with label HR development. Show all posts
Showing posts with label HR development. Show all posts

Friday, August 5, 2011

05/08 Thách thức phát triển nguồn nhân lực

07:34 | 05/08/2011
Phân tích tình hình kinh tế quốc gia và quốc tế trong bài viết nêu bật những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2011 - 2016, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh vai trò ngày càng tăng của nguồn lực con người – lợi thế cạnh tranh trong quá trình phát triển và là nhân tố làm chuyển dịch lợi thế so sánh giữa các quốc gia.
Nhìn từ thực tế, nước ta được xếp vào nhóm quốc gia có cơ cấu dân số vàng với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm 66% dân số. Cơ cấu này giúp cho thị trường lao động có được lợi thế cạnh tranh đặc biệt về giá và số lượng nhân công. Thực tế này cũng đang được các doanh nhân, giới sử dụng lao động trăn trở, góp ý với Chính phủ. Tổng Giám đốc công ty cổ phần Vân Long, Hải Dương Bùi Anh Sáu cho biết, các doanh nghiệp đang phải khắc phục tình trạng thừa thầy, thiếu thợ. Nguồn lao động trong nước đang cạn kiệt vì bây giờ học xong là đi học đại học, mà không biết rằng nhiều khi học đại học xong xin việc rất khó khăn. Trong khi đó không một người công nhân có tay nghề nào thiếu việc làm. Do vậy chúng ta phải đào từ người thợ thủ công cho đến công nhân kỹ thuật.

Nguồn: blogpost.com
Chất lượng nguồn nhân lực thấp là một thực tế đáng lo ngại, vì hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, giá nhân công rẻ không còn được coi là một lợi thế cạnh tranh đặc biệt nữa. Thay vào đó là chất lượng nguồn nhân lực. Trong khi đó, theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tỷ lệ lao động thiếu việc làm hiện nay là 5,1%, số lao động được đào tạo chỉ chiếm 30%. Chính vì thế, lực lượng trong độ tuổi lao động của Việt Nam chưa tạo nên sức bật về kinh tế, xã hội cho đất nước và Việt Nam chưa tận dụng những thế mạnh của cơ cấu dân số vàng. Nếu không sớm có đột phá trong phát triển nguồn nhân lực thì chất lượng nhân lực sẽ là lực cản đối với tiến trình thực hiện mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” mà Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 của Đảng đã đặt ra.
Vậy khắc phục lực cản này như thế nào?
Theo các chuyên gia kinh tế, có ba việc cần làm trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trước hết là hài hòa hóa quan hệ lao động để tạo một thị trường lao động ổn định, bền vững, tránh tình trạng tranh chấp lao động bùng nổ gây ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp và phát triển kinh tế. Để làm được điều đó, theo Trưởng văn phòng giới sử dụng lao động, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) Phùng Quang Huy, trong những năm tới cần hoàn thiện hơn nữa các định chế, thể chế cho thị trường lao động Việt Nam. Trong đó các cơ quan của thị trường lao động cần được hoàn thiện, đặc biệt là tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động và tổ chức công đoàn phải được phát triển và hoàn thiện hơn nữa, nâng cao năng lực của hai tổ chức này về việc tạo ra cơ chế hợp tác, đối thoại, xây dựng quan hệ lao động lành mạnh, có hiệu quả trong tất cả các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hai tổ chức này phải có tính tương thích ở các cấp từ trung ương đến địa phương, hỗ trợ cho người sử dụng lao động và người lao động quan hệ hài hòa, xây dựng quan hệ lao động ổn định, tiến bộ theo chuẩn mực trong nước và quốc tế.
Đổi mới thứ hai là đổi mới hệ thống giáo dục theo quan điểm đặc biệt coi trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Lấy nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo làm trục xoay chính, kết hợp với mở rộng quy mô hợp lý. Quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp… Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng: khái niệm nguồn nhân lực rất rộng nên có khá nhiều cơ quan tham giá, nhưng vai trò chủ yếu và trung tâm phải là hệ thống giáo dục, hệ thống đào tạo: đào tạo nghề, đào tạo đại học… Không những chỉ có truyền đạt kiến thức mà còn xây dựng một cái nhân cách, phương thức sống, tinh thần kỷ luật. Nếu có sự bắt tay giữa cơ quan giáo dục, đào tạo và doanh nghiệp thì sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách hiệu quả hơn...
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 xác định: phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao...; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Do vậy, mỗi địa phương, mỗi doanh nghiệp cần có một chương trình hành động cụ thể phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao…
Thu Thùy

Monday, July 25, 2011

25/07 Giới thiệu khóa đào tạo giám đốc điều hành chuyên nghiệp


▪  HẢI VY
25/07/2011 09:13 (GMT+7)
 
Khóa học mới được kéo dài trong khoảng thời gian 4 tháng, diễn ra trong hoặc ngoài giờ hành chính.
Trường Đào tạo Doanh nhân PTI tiếp tục tổ chức chương trình đào tạo “CEO - Giám đốc điều hành chuyên nghiệp”.

Khóa học mới được kéo dài trong khoảng thời gian 4 tháng, diễn ra trong hoặc ngoài giờ hành chính, sáng từ 08h30 - 11h30, chiều từ 13h30 - 16h30, tối từ 18h00 - 21h00). Khoá học được tổ chức tại Trường Đào tạo Doanh nhân PTI, Tòa nhà PTI 32 Thái Thịnh II, Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.

Đây là một chương trình đào tạo của PTI được các chuyên gia của PTI thiết kế và có tham khảo các chương trình đào tạo danh tiếng của Đại học Havard Hoa KỳHọc viện Quản lý và Lãnh đạo Anh Quốc (ILM), Học viện Quản trị Kinh doanh Hoa Kỳ (AMA).

Chương trình được tổ chức và đào tạo toàn diện theo mô hình quản trị của PTI (PTI’s Management Model - gọi tắt là PMM), bao gồm:

- Giám đốc điều hành (CEO) = Lãnh đạo = (Chiến Lược + Đội ngũ);
- Đội ngũ = (Con người + Hệ thống + Văn hoá).

Ngoài ra, chương trình và bài giảng còn được tham khảo bởi nhiều chuyên gia cũng như chương trình danh tiếng trên thế giới trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp như Đại học Havard, Học viện Quản lý và Lãnh đạo Anh quốc và Học viện Quản trị Kinh doanh Hoa Kỳ.

Ban giảng huấn là các chuyên gia Việt Nam giàu kiến thức và kinh nghiệm quốc tế về từng chuyên ngành. Đặc biệt, trong chương trình này có sự tham gia của các chuyên gia cao cấp từng là thành viên ban Nghiên cứu của Thủ tướng. Một số tổng giám đốc quốc tế của các tập đoàn hàng đầu thế giới tại Việt Nam cũng tham gia chương trình để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm quản trị chuyên nghiệp với các học viên.

Nhóm đối tượng chính mà chương trình hướng tới là ban lãnh đạo doanh nghiệp, đội ngũ quản lý cấp trung của các doanh nghiệp. Chương trình cũng hướng tới những cá nhân mong muốn sớm trở thành CEO hoặc nâng cao năng lực quản lý và lãnh đạo và những người có hoài vọng trở thành Giám đốc điều hành trong tương lai.

Sau khi hoàn tất thành công chương trình này, Chứng chỉ Tốt nghiệp sẽ được cấp bởi Trường Đào tạo Doanh nhân PTI.

Mức học phí của khóa học là 14.800.000 VND/học viên/khóa. Phí ưu đãi 13.800.000 VNĐ/học viên/khóa áp dụng cho những học viên đóng phí sớm trước 15 ngày, những doanh nghiệp đăng ký từ 3 học viên trở lên hoặc những doanh nghiệp đã tham gia bất kỳ một khoá học của PTI.

Để đăng ký khoá học, liên hệ bộ phận tư vấn đào tạo của PTI:

Chị Thuỳ Trâm/Anh Triệu Duy - Phòng Tư vấn
Tel: 04.6294 8409
Hotline: 0917 186 562
Email: ptivietnam@gmail.com / info@pti.edu.vn
Các thông tin chi tiết khác về khóa học được đăng tải đầy đủ tại websitewww.pti.edu.vn.

TTChuyên đề /SubjectsThời lượng
BuổiTiết
1Nghề Giám Đốc chuyên nghiệp
Chief Executive Officer
14
2Chân dung CEO
On becoming a CEO
14
3Phương pháp phát triển Khả năng Lãnh đạo
Leadership Development Program (LDP)
416
4Chiến lược Công ty
Corporate Strategy
416
5Đối thoại với chuyên gia Kinh tế14
6Xây dựng hệ thống Quản lý Công ty
Corporate Management System
416
7Xây dựng Văn hóa Công ty
Buiding Corporate Culture
28
8Quản trị Nhân lực dành cho Lãnh đạoHuman Resourses Management for Leaders416
9Marketing chiến lược & Thương hiệu dành cho Lãnh đạo 
Marketing & Branding Management for Leaders
416
10Quản trị Tài chính và Đầu tư dành cho Lãnh đạo Financial & Investment Management for Leaders416
11Quan hệ công chúng (PR) & Quan hệ truyền thông (MR) Public Relation & Media Relation for Leaders28
12Địa vị Pháp lý của Giám đốc công ty28
13Hội nhập & Toàn cầu hóa
Integration & Globalisation
14
14Đối thoại & Chia sẻ kinh nghiệp với CEO quốc tế CEO Talk (Một hoạt động ngoại khóa)**
15Hội thảo Kinh tế & Kinh doanh14
16Thực tập, trao đổi kinh nghiệm quản trị với một số công ty nổi tiếng của Việt Nam và khu vực**
17“Lễ tôn vinh Sự học của Doanh nhân” & Lễ Trao “Chứng chỉ tốt nghiệp”14


Tổng cộng
36144


Giảng viên/Trainers
Chuyên gia: Nguyễn Quốc Phồn
Chuyên gia tư vấn doanh nghiệp giàu kinh nghiệm
Chuyên gia Nguyễn Tất Thịnh
Chuyên gia tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp
Cố vấn cao cấp của nhiều tổ chức tập đoàn
TS. Lê Đăng Doanh
Chuyên gia Kinh tế uy tín tại VN
TS. Phạm Văn Phổ
Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế & Kinh doanh Hà Nội
Chuyên gia Nguyễn Hoàng Phương
Chuyên gia tư vấn Marketing thương hiệu
Tư vấn trưởng của nhiều tổ chức tập đoàn
Giảng viên cao cấp
TS. Hoàng Anh Tuấn
Nguyên Giám đốc Marketing Microsoft Việt Nam
TS. Vũ Công Ty
Chuyên gia Tư vấn Tài chính DN
TS. Vũ Văn Ninh
Chuyên gia Tư vấn Tài chính DN
TS. Phan Chí Hiếu
Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế VN
Ông Bùi Kiến Thành
Chuyên gia Tài chính cao cấp
Bà Phạm Chi Lan
Chuyên gia Kinh tế cao cấp
Nguyên thành viên ban nghiên cứu của thủ tướng chỉnh phủ
Ông Trương Đình Tuyển
Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại
ThS. Đặng Ngọc Sự
Chuyên gia tư vấn Chiến lược
ThS. Đỗ Hoài Nam
Cố vấn học thuật của VBS
Chuyên gia về chiến lược
TS. Vũ Hữu Kiên
Giảng viên cao cấp của ILO, VCCI
Bà Phạm Thị Quyên
Chuyên gia Kiểm toán – Kế toán
TS. Lê Quang Bính
Chuyên gia Kế toán - Kiểm toán
ThS. Đỗ Tiến LongChuyên gia về nhân sự
Ông Lương Văn Tự
Nguyên Thứ trưởng Bộ Thương Mại
Trưởng đoàn đám phán VIệt Nam - WTO

Saturday, July 16, 2011

14/07 Khoa học thiếu nhân lực và chế độ đãi ngộ hợp lý

04:23-14/07/2011 
P.V
Trong ngày 12/7, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã cùng đoàn công tác là đại diện các Bộ ngành, tới làm việc với hai cơ quan nghiên cứu khoa học hàng đầu Việt Nam là Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam (Viện KHCN) và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (Viện KHXH).
Những vấn đề thời sự  

Tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng, hai Viện đã có những báo cáo khái quát và chi tiết, qua đó xác định những thực trạng kinh tế xã hội mà đất nước và nền khoa học Việt Nam đang đối diện. 

Một số vấn đề gắn với lợi ích chiến lược quốc gia được các nhà khoa học đề cập với Phó Thủ tướng là cải tổ cơ cấu kinh tế, duy trì hòa hợp ổn định tôn giáo, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, nghiên cứu biển, địa chấn… và đặc biệt là nghiên cứu các luận cứ khoa học nhằm bảo vệ chủ quyền biển là những vấn đề chiến lược của quốc gia mà Chính phủ cần quan tâm tạo điều kiện cho các nhà khoa học. Bên cạnh đó, trong bối cảnh quốc tế đang lo ngại trước những tổn thất do động đất và sóng thần, và trong tình hình Việt Nam đã và sẽ thực hiện những công trình trọng điểm, như thủy điện Sơn La, hay Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận, một hệ thống cảnh báo địa chấn là vô cùng cần thiết. Vì vậy, các nhà khoa học đề xuất Chính phủ ủng hộ đề án “tăng cường mạng lưới trạm quan sát động đất phục vụ báo tin động đất và cảnh báo sóng thần Việt Nam”. Ngoài những vấn đề được các nhà khoa học đề xuất, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Viện KHCN đặc biệt lưu tâm về vấn đề nghiên cứu bảo đảm an toàn mạng Internet trong bối cảnh vấn đề này đang dần trở nên vô cùng quan trọng trên thế giới hiện nay.  

Thiếu nhân lực và chế độ đãi ngộ hợp lý 

Lãnh đạo hai Viện đều cho rằng, để có thể giải quyết những vấn đề lớn của quốc gia, đội ngũ các nhà khoa học cần được tăng cường nhân lực và có chế độ đãi ngộ thích đáng. Trong đó, lực lượng nghiên cứu biển được đề xuất phải tăng cường số lượng cao gấp ba lần hiện nay trong vòng 10 năm tới. Viện KHCN hiện vẫn còn những chuyên gia tốt được đào tạo từ Liên Xô cũ, nhưng thế hệ này sắp đến tuổi về hưu. Vì vậy, cần cấp tốc gửi các cán bộ trẻ đi đào tạo tại nước ngoài. Ngay ở Viện có tiềm lực khoa học mạnh như Viện Toán học (thuộc Viện KHCN) cũng phản ánh về tình trạng thiếu chuyên gia trong các lĩnh vực toán học quan trọng như thống kê, mô phỏng, mô hình, mật mã. Viện trưởng - GSTS Ngô Việt Trung bày tỏ lo ngại vì chế độ đãi ngộ cho các nhà khoa học chưa hợp lý, khiến không thu hút được các cán bộ trẻ thay thế cán bộ về hưu, đặc biệt là tình trạng các cán bộ trẻ không trở về sau khi ra nước ngoài học tập nghiên cứu. Ông đề nghị Chính phủ có những giải pháp cụ thể, ví dụ như xem xét thí điểm cấp nhà ở công vụ cho các nhà khoa học.

Trong lĩnh vực KHXH do thiếu chế độ đãi ngộ nên rất thiếu chuyên gia trong những lĩnh vực đặc biệt như nghiên cứu tiếng Sanskrit để đi sâu am hiểu tình hình Phật giáo Nam Tông miền Tây Nam Bộ, hay nghiên cứu Hán Nôm để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Đánh giá tổng quan về những hạn chế đối với chế độ làm việc và đãi ngộ nhà khoa học, PGS.TS Trần Đình Thiên nhận định rằng thực chất các nhà khoa học Việt Nam hiện nay đang là những viên chức hành chính khoác áo nhà khoa học, nằm trong những “cơ quan hành chính bậc thấp nhất trong các cơ quan hành chính”. 

Chia sẻ với các nhà khoa học, đồng chí Nguyễn Quân -  Thứ trưởng thường trực Bộ Khoa học & Công nghệ - cho rằng các cán bộ nghiên cứu khoa học đang chịu nhiều thiệt thòi hơn so với mặt bằng chung của cán bộ công chức, “hiện nay chỉ có cán bộ ngành khoa học và nghệ thuật là chưa có phụ cấp nào ngoài lương”. 

Chính phủ ủng hộ đầu tư cho nhân lực làm KH 


Theo Phó Thủ tướng, trong thời gian qua, năng suất và hiệu quả lao động ở Việt Nam có xu hướng giảm. Trong đầu tư, các địa phương nhìn chung mới chỉ có phương án về “tiền và đất”, ngoài ra cứ “giả định rằng người đã có sẵn”. Cái nhìn phiến diện này gây ra sự thiếu chuẩn bị về đào tạo con người. Chưa có địa phương, lãnh đạo ngành nào đặt đầu bài nghiêm túc cho ngành giáo dục về vấn đề đào tạo nhân lực để phát triển.

Đối với nhu cầu tăng cường nhân lực làm khoa học, Phó Thủ tướng yêu cầu các Viện phải phối hợp chặt chẽ với hai trường Đại học Quốc gia để tính toán nhu cầu cán bộ nghiên cứu cho khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, và đưa ra những đề xuất thật cụ thể về nhu cầu và lộ trình đào tạo nhân lực cùng chế độ đãi ngộ, từ đó Chính phủ mới có cơ sở nghiên cứu và đưa ra quyết định phân bổ nguồn lực hợp lý. Ông cũng ủng hộ ý tưởng của Viện Toán về việc thành lập các nhóm nghiên cứu chuyên sâu làm toán ứng dụng nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn như bảo vệ mật mã, hay an toàn mạng. Về vấn đề này, Thứ trưởng Nguyễn Quân cho rằng cần áp dụng thí điểm chế độ chính sách ưu đãi cho các cán bộ làm nhiệm vụ khoa học của quốc gia, như chế tạo vệ tinh, tên lửa hành trình, giải mã gene… Ông cũng đề nghị Chính phủ ủng hộ ý tưởng xây dựng một bảo tàng khoa học, nhằm khơi dậy và nuôi dưỡng tình yêu khoa học ở thế hệ trẻ.    

Vấn đề tự chủ trong khoa học công nghệ 

Việc tự chủ đề xuất đề tài nghiên cứu và tự chủ trong tài chính là một trong những vấn đề Phó Thủ tướng chú trọng lưu ý các Viện trong các buổi làm việc. Ông cho biết đã có những cơ quan nghiên cứu mạnh dạn đề xuất cho phép thành lập ra những công ty cổ phần để triển khai kinh doanh kết quả nghiên cứu. Ông khẳng định Chính phủ ủng hộ các hoạt động tự chủ tài chính của các Viện nghiên cứu, bất kể khi nào “nhà khoa học được lợi, Viện được lợi, và Nhà nước cũng được lợi”.

Về vấn đề này, Thứ trưởng Nguyễn Quân cho rằng Chính phủ đã cung cấp tương đối đầy đủ cơ sở pháp lý để các viện nghiên cứu đứng ra tự chủ về tài chính. Tuy nhiên, việc triển khai còn những khó khăn. Các cơ quan nghiên cứu vẫn “rất rụt rè trong việc đăng ký thành lập các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động tự chủ”. Theo ông có ba nguyên nhân chính. Thứ nhất là vướng mắc về xác định quyền sở hữu trí tuệ đối với những kết quả nghiên cứu được Nhà nước cấp kinh phí. Thứ hai là thị trường sở hữu trí tuệ còn kém phát triển, và thiếu cơ chế định giá tài sản sở hữu trí tuệ, khiến việc nhà khoa học gặp khó khăn khi muốn kinh doanh hoặc góp vốn cổ phần bằng kết quả nghiên cứu. Thứ ba là các viện nghiên cứu vẫn còn tâm lý lo ngại, e rằng sau khi thành lập ra các doanh nghiệp tự chủ, nếu sau này doanh nghiệp thành công sẽ mang theo các tài sản trí tuệ tách ra khỏi viện. Ông cho rằng lo ngại này là không cần thiết, vì các viện nghiên cứu có thể duy trì cổ phần của mình trong các công ty họ thành lập ra. 

Quan trọng là ở đầu ra 


Báo cáo thẳng thắn với Phó Thủ tướng, PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng khoa học Việt Nam thiếu một cơ chế đánh giá và cạnh tranh đầu ra. Khác với các công trình nghiên cứu của nước ngoài trước và sau khi in ra đều phải đối diện công khai với “những ý kiến phản biện gay gắt”, đa số các công trình khoa học của Việt Nam hầu như chỉ biết đến bởi những hội đồng dễ dãi đầy tính “thông cảm”, và sau khi in ra thì nằm im trên giá sách, coi như đã “thuộc về lịch sử”. 

Nếu duy trì tình trạng này, khoa học Việt Nam sẽ không thể giải quyết được những vấn đề cấp bách mà thực tiễn đặt ra. Trả lời câu hỏi của Phó Thủ tướng về việc liệu các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội của Viện KHXH đã thực sự là sản phẩm hữu ích cho các ngành, các địa phương, GSTS Võ Khánh Vinh, Phó Chủ tịch Viện KHXH đặt lại câu hỏi liệu “các cơ quan và nhà lãnh đạo đã sẵn sàng tiếp nhận sản phẩm nghiên cứu của nhà khoa học”. Ông khuyến nghị rằng bản thân các cơ quan quản lý cũng cần có đội ngũ nhà khoa học đủ trình độ để đánh giá, thẩm định các sản phẩm nghiên cứu, từ đó chắt lọc ra những kết quả thực sự hữu ích.     
                                                
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho biết Chính phủ sẽ cho tăng cường cả nghiên cứu và quản lý Nhà nước trong khoa học về biển. Chính phủ sẽ cân nhắc thành lập một Ban Chỉ đạo Quốc gia về biển, gồm đại diện từ các Bộ, ngành. Đồng thời sẽ cho xây dựng một chương trình dữ liệu về tài nguyên sinh học biển.

Khác với các công trình nghiên cứu của nước ngoài trước và sau khi in ra đều phải đối diện công khai với “những ý kiến phản biện gay gắt”, đa số các công trình khoa học của Việt Nam hầu như chỉ biết đến bởi những hội đồng dễ dãi đầy tính “thông cảm”, và sau khi in ra thì nằm im trên giá sách, coi như đã “thuộc về lịch sử”.

Monday, June 6, 2011

04/06 Doanh nghiệp "chi bạo" để giữ người tài


Thứ Bảy, 4-06-2011 - 10:00 SATheo dddn

Navigos Search - nhà cung cấp các giải pháp tuyển dụng nhân sự cao cấp hàng đầu tại Việt Nam, vừa công bố kết quả của cuộc khảo sát “Chiến lược nhân sự trong bối cảnh lạm phát”. Theo kết quả này, các công ty đã mạnh tay hơn trong việc tăng lương cho nhân viên trong năm 2011. Bên cạnh đó, nếu “thành tích cá nhân” là yếu tố quan trọng nhất thì “lạm phát” đứng vị trí thứ 2 trong 4 yếu tố cơ bản nhất để công ty xem xét tăng tương cho nhân viên hàng năm.

Cuộc khảo sát “Chiến lược nhân sự trong bối cảnh lạm phát” được Navigos Search thực hiện từ 16/03/2011 đến 15/04/2011, thu hút sự tham gia của 116 công ty đang hoạt động tại Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Giám đốc Điều hành Navigos Search cho biết: “Chúng tôi tiến hành cuộc khảo sát này nhằm nhận diện được bức tranh tổng thể về những giải pháp nhân sự của các công ty trong bối cảnh hiện nay, từ đó có thể giúp các công ty và người lao động có cái nhìn rõ ràng hơn về chính sách nhân sự hiện thời, cùng thấu hiểu và tìm được tiếng nói chung để vượt qua giai đoạn khó khăn ngoài mong muốn này.”
Mạnh tay tăng lương
Theo kết quả từ cuộc khảo sát “Chiến lược nhân sự trong bối cảnh lạm phát”, trong năm 2011, tỉ lệ tăng lương trung bình cho các cấp bậc có sự điều chỉnh đáng kể so với năm 2010. Cụ thể, đối với cấp bậc nhân viên, có 54% trong số các công ty tham gia khảo sát trả lời rằng tỉ lệ tăng lương trung bình cho cấp bậc này là 11%-15% trong năm 2011, so với 40% trong số các công ty tham gia của năm 2010. Còn đối với cấp bậc chuyên viên, năm nay 62% trong số các công ty có tỉ lệ tăng lương trung bình 11%-15%, so với 50.5% trong năm 2010.

Tỉ lệ tăng lương trung binh
Cấp điều hành
Chuyên viên
Cấp bậc nhân viên
2010
2011
2010
2011
2010
2011
<5%
6.5%
3.0%
7.6%
5.0%
7.6%
5.0%
5% to 10%
25.0%
23.0%
26.7%
18.0%
41.0%
27.0%
11% to 15%
50.9%
47.0%
50.5%
62.0%
40.0%
54.0%
>15%
17.6%
27.0%
15.2%
15.0%
11.4%
14.0%
Tỉ lệ tăng lương trung bình trong năm 2011, so sánh với năm 2010 

Đặc biệt, trong năm 2011, có nhiều doanh nghiệp đưa ra mức điều chỉnh lương cao hơn cho đội ngũ nhân sự cấp quản lý (cấp điều hành). Nếu như trong năm 2010 chỉ có 17.6% trong số các công ty tham gia khảo sát đã điều chỉnh tăng lương trên 15% cho cấp điều hành, thì trong năm 2011 có đến 27% trong số các công ty tham gia khảo sát có mức điều chỉnh trên 15%. “Tuyển dụng được người tài cho các vị trí điều hành đã khó, làm sao giữ được họ ở lại gắn bó và phát triển cùng doanh nghiệp lại càng khó hơn. Điều này quả thực luôn là mối quan tâm của những nhà quản lý doanh nghiệp. Ngoài việc đưa ra các chương trình đào tạo và phát triển hay cải tạo môi trường làm việc, thì các doanh nghiệp cũng sẵn sàng đưa ra mức điều chỉnh lương hấp dẫn cho cấp bậc này để có thể cạnh tranh với thị trường”, bà Vân Anh nói.

Bà Vân Anh cũng lưu ý: “Tất nhiên, mỗi ngành nghề, mỗi địa phương, mỗi cấp bậc có một sự điều chỉnh riêng phù hợp với nhu cầu nội tại của tổ chức mình.”

Cân nhắc yếu tố "lạm phát”

Cũng theo khảo sát này, trong 4 yếu tố cơ bản nhất để công ty xem xét tăng tương cho nhân viên hàng năm, thì “Thành tích cá nhân” là yếu tố quan trọng nhất trong khi “lạm phát” đứng vị trí thứ 2 với 81% trong số các công ty tham gia khảo sát. Hai yếu tố còn lại lần lượt là “Thành tích công ty” (78%) và “Cạnh tranh so với thị trường” (74%). “Với kết quả này, có thể thấy, các công ty tại Việt Nam đang ngày càng chặt chẽ hơn trong vấn đề điều chỉnh lương hàng năm cho nhân viên. Ngoài yếu tố lạm phát hay những ảnh hưởng khác của nền kinh tế, các công ty có xu hướng xác định mức điều chỉnh lương dựa trên hiệu quả làm việc của từng cá nhân. Trong thực tế, trong khi tiến hành xem xét lại lương cho nhân viên, các công ty thường cân nhắc dựa trên tất cả các yếu tố đã đề cập ở trên. Thách thức ở đây là làm thế nào để có thể quản lý được sự mong đợi của nhân viên một cách hiệu quả", bà Vân Anh nhận xét.

Những yếu tố để công ty xem xét tăng tương cho nhân viên hàng năm

Bên cạnh việc tăng ngân sách nhân sự, các công ty cũng có nhiều chính sách khác để thu hút và gìn giữ nhân tài. 66.3% trong số những công ty tham gia cuộc khảo sát lựa chọn cách tập trung vào cải thiện môi trường làm việc như là một yếu tố quan trọng nhất để thu hút và gìn giữ nhân tài. “Chính sách lương thưởng phù hợp, cạnh tranh rất quan trọng, nhưng xây dựng một thương hiệu tuyển dụng tốt trong đó bao gồm việc cải thiện môi trường làm việc sẽ là giải pháp dài hạn và bền vững để thu hút và gìn giữ nhân tài”, bà Vân Anh cho biết thêm.

Thêm vào đó, khảo sát cũng cho thấy, điều chỉnh tăng lương cho các nhân sự chủ chốt và đầu tư vào việc phát triển nhân viên thông qua các chương trình đào tạo được xem là hai yếu tố quan trọng tiếp theo cần được cân nhắc trong việc xây dựng chiến lược nhân sự, chiếm 63.2% và 61.1% số công ty tham gia trả lời khảo sát.

Bà Vân Anh nói thêm: “Trong khi các nguồn lực ( ví dụ như ngân sách lương) là có hạn, thì có tới 63.2% công ty tham gia khảo sát điều chỉnh tăng lương cho các nhân sự quan trọng. Điều này cho thấy các công ty đang áp dụng phương pháp “tạo ra sự khác biệt" trong chiến lược quản lý nguồn nhân lực của họ. Phương pháp “tạo ra sự khác biệt” có nghĩa là xác định đâu là những nhân sự chiến lược, quan trọng với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, những nhân sự này sẽ được tưởng thưởng phù hợp với vai trò, giá trị và đóng góp của họ. Nhìn chung, các công ty hiện nay có xu hướng từ bỏ “quân bình chủ nghĩa” hay chính sách “cào bằng”.

Nguồn tin :  http://dddn.com.vn/20110603020152671cat126/doanh-nghiep-chi-bao-de-giu-nguoi-tai.htm
Từ khóa bài viết: nhân sựdoanh nghiệpnhà cung cấpnhân viên

Friday, June 3, 2011

31/05 Hội nghị Tổng kết 7 năm thực hiện Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2003-2010


31/05/2011 05:06

Sáng ngày 31/5/2011, tại Thành phố Vũng Tàu, Bộ Nội vụ tổ chức Hội nghị tổng kết 7 năm thực hiện Quyết định số 137/2003/QĐ-TTg ngày 11/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2003-2010 (Hội nghị).
Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh đã tới dự và chủ trì Hội nghị.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh phát biểu khai mạc Hội nghị
Chủ tịch UBND Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tầu Trần Minh Sanh phát biểu chào mừng Hội nghị

Tới dự Hội nghị có: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Phạm Xuân Hùng; Chủ tịch UBND Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tầu Trần Minh Sanh; Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ Chu Văn Thành; Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ Nguyễn Xuân Bình và gần 250 đại biểu là đại diện Lãnh đạo, chuyên viên các đơn vị chức năng của 45 Bộ, ngành và 59 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Các đại biểu dự Hội nghị

Tại Hội nghị, Phó Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ Nguyễn Ngọc Vân đã trình bày Báo cáo tổng kết 7 năm thực hiện Quyết định số 137/2003/QĐ-TTg ngày 11/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ (Báo cáo).
 
Phó Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ Nguyễn Ngọc Vân trình bày Báo cáo tại Hội nghị
 
Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2003 -2010 (Kế hoạch), các Bộ, ngành, địa phương đã quán triệt và xây dựng các giải pháp đồng bộ triển khai các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao.

Sau 7 năm thực hiện Kế hoạch, các Bộ, ngành đầu mối đã tổ chức biên soạn các chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) theo  đúng quy trình, đảm bảo chất lượng; đã chủ động xây dựng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên HNKTQT, nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo trực thuộc theo yêu cầu nâng cao nội dung và phương pháp giảng dạy; mời các chuyên gia, nhà khoa học có uy tín, các cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý về HNKTQT tham gia giảng dạy. Trên cơ sở các chương trình, tài liệu đào tạo bồi dưỡng kiến thức về HNKTQT được các cơ quan có thẩm quyền ban hành, các Bộ, ngành, địa phương đã phối hợp với các Bộ, ngành đầu mối tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho các đối tượng cán bộ, công chức được Thủ tướng Chính phủ giao và cho các đối tượng theo phân cấp. Kết quả đã tổ chức được nhiều lớp bồi dưỡng kiến thức về toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế khu vực, cải cách hành chính, quản lý sự phát triển nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng ổn định và hội nhập bền vững cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND các tỉnh thành phố; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính và cán bộ quản lý doanh nghiệp; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, nghiên cứu viên, giảng viên, sinh viên các trường đại học, cao đẳng; đào tạo, bồi dưỡng kiến thức HNKTQT cho cán bộ quản lý dạy nghề, giáo viên hạt nhân, học sinh, sinh viên học nghề. Các kết quả đào tạo, bồi dưỡng cơ bản đều vượt mức so với chỉ tiêu nêu trong Kế hoạch. Những kết quả trên đã góp phần nâng cao một bước nhận thức của đội ngũ lãnh đạo, quản lý của các Bộ, ngành, địa phương về HNKTQT, qua đó tăng cường trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc chuẩn bị và tham gia hội nhập một cách chủ động, bền vững. Các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về HNKTQT đã góp phần xây dựng đội ngũ những người làm công tác hội nhập am hiểu về nghiệp vụ, luật pháp quốc tế đáp ứng giai đoạn đầu của quá trình hội nhập. Những chuyển biến này đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao năng lực xây dựng thể chế, năng lực cạnh tranh, đưa nước ta chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, Báo cáo cũng nêu rõ những hạn chế, tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện Quyết định 137/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; đề xuất các yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực về hội nhập quốc tế giai trong đoạn 2011-2015.
 
Một số tài liệu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế
 
Hội nghị cũng đã nghe các bài tham luận của các Bộ, ngành Trung ương gồm: Bộ Công Thương, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao; tham luận của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Đài truyền hình Việt Nam và của các tỉnh, thành phố, gồm: Thanh Hóa, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu. Các bài tham luận tập trung vào tình hình triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nêu lên những kết quả đã đạt được, những giải pháp triển khai hay, những khó khăn, vướng mắc, những tồn tại, hạn chế và đề xuất, kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác đào tạo, bồi dưỡng HNKTQT.

Phát biểu kết luận Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh đã đánh giá cao những nỗ lực của các Bộ, ngành, địa phương, các tập thể, cá nhân đã có những đóng góp tích cực, quan trọng trong công tác triển khai Quyết định 137/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Thứ trưởng Nguyễn Tiến Dĩnh đề nghị trong thời gian tới, các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nói chung và đào tạo bồi dưỡng kiến thức HNKTQT nói riêng, có những giải pháp phù hợp, tranh thủ các nguồn lực, tiếp tục chủ động, đa dạng hóa hợp tác quốc tế; có sự phối hợp giữa các chương trình để thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng HNKTQT; tiếp tục nghiên cứu cơ chế chính sách cho phù hợp với điều kiện đào tạo, bồi dưỡng HNKTQT phù hợp với điều kiện, tình hình mới.
 
 Quang cảnh Hội nghị
 
Nhân dịp này, Bộ Nội vụ đã tổ chức công bố và trao quyết định khen thưởng của Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho 20 tập thể và 20 cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Quyết định 137/2003/TTg của Thủ tướng Chính phủ.
 
Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh trao Quyết định khen thưởng  của Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho các tập thể
Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh trao Quyết định khen thưởng của Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho các cá nhân
Tin, ảnh: Bình Minh