Monday, August 22, 2011

22/08 Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc cản trở giải quyết vấn đề Biển Đông

Thứ hai, 22 Tháng 8 2011 00:00
EmailInPDF.
Ngoài việc Biển Đông  được Trung Quốc coi là có vai trò quan trọng trong chính sách mở rộng ảnh hưởng của nước này, chuyên gia Valérie Niquet, phụ trách khu vực châu Á thuộc Quỹ Nghiên cứu Chiến lược, nhận xét còn một yếu tố nữa mà Trung Quốc coi là còn "quan trọng hơn nhiều", đó là chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc. Lược dịch nội dung chính đăng trên mạng Le Monde (Pháp).
 


Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên tạp chí "Affaires Stratégiques" ngày 18/8, bà Valérie Niquet cho rằng, điều mà ai cũng thấy từ nhiều tháng nay là lập luận kiểu dân tộc chủ nghĩa của Bắc Kinh gia tăng mạnh mẽ đối với cả các nước láng giềng lẫn Mỹ. Bà khẳng định rằng chính chủ nghĩa dân tộc thái quá đó đang ngăn cản và hủy hoại việc giải quyết các bất đồng hiện nay.
Chuyên gia Valérie Niquet tuy không chắc có bất đồng thực sự về mục tiêu giữa phái quân sự và chính quyền dân sự ở Trung Quốc hay không, song cho rằng cả hai phe đều quyết tâm khẳng định sức mạnh của Trung Quốc, kể cả bằng biện pháp quân sự. Đơn giản, theo chuyên gia này, là các nhà lãnh đạo Trung Quốc hoàn toàn ý thức được hạn chế hiện nay về sức mạnh của Trung Quốc, đặc biệt là ở châu Á. Trên thực tế, năng lực quân sự của Trung Quốc vẫn còn thấp mặc dù ngày 10/8/2011 nước này đã cho hạ thủy chiếc tàu sân bay đầu tiên. Bà Niquet nhận xét Bắc Kinh đang chơi hai trò cùng một lúc. Một mặt, Bắc Kinh vận dụng chiến lược gây căng thẳng nhằm làm các nước láng giềng sợ và gây lo ngại trong số những người ở Mỹ muốn áp dụng chính sách hòa dịu. Mặt khác, Bắc Kinh tìm cách duy trì cơ hội, đặc biệt về thương mại, với ASEAN. Đặc biệt Bắc Kinh muốn tránh lặp lại kịch bản năm 2010 khi các nước khác trong khu vực tận dụng sự có mặt của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton ở Hà Nội để cùng lên tiếng ủng hộ quyết tâm của Mỹ duy trì đường giao thương trên Biển Đông.
Tuy nhiên, bà Valérie Niquet cho rằng chính quyền Trung Quốc cố gắng không đi quá xa cho dù người ta nhận thấy Bắc Kinh vẫn muốn thường xuyên gây căng thẳng. Bà lưu ý Đại hội lần thứ 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ đổi mới thành phần ban lãnh đạo nước này. Tất cả các phe nhóm đều muốn tạo chỗ đứng cho mình trước khi diễn ra sự kiện đó và rất có thể các luận thuyết dân tộc chủ nghĩa lại thắng thế.
Về tình hình trong khu vực sẽ diễn biến như thế nào, bà Niquet cho rằng trong những năm tới, mọi thứ sẽ phụ thuộc vào tình hình nội bộ ở Trung Quốc và việc Bắc Kinh sẽ tiến hành cải cách hay không cải cách. Có thể một nước Trung Quốc dân chủ hơn sẽ ít có thiên hướng hơn dựa vào lập luận kiểu "dân tộc chủ nghĩa thái quá" so với chế độ hiện nay.
Thanh Hương, cộng tác viên tại Pháp (gt)

22/08 Ảnh hưởng của tranh chấp lãnh thổ tới an ninh khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Thứ hai, 22 Tháng 8 2011 00:00
EmailInPDF.
Những tranh chấp về lãnh thổ, an ninh tại châu Á – Thái Bình Dương luôn là tâm điểm chú ý của dư luận khu vực và thế giới. Những tranh chấp không chỉ ảnh hưởng đến an ninh khu vực, mà nó còn tạo ra sự cản trở trong các mối quan hệ song phương giữa các quốc gia. Bài viết đăng trên tạp chí “Kinh tế và Chính trị”, Trung Quốc của tác giả Châu Sa.


Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực xảy ra tranh chấp về phân định lãnh thổ và đường biển nhiều hơn hẳn các khu vực khác trên thế giới với diễn biến phức tạp, đòi hỏi các nước liên quan phải tìm ra biện pháp giải quyết. Trong đó nổi bật với tranh chấp Biển Đông, tranh chấp chủ quyền đảo Điêu Ngư Trung - Nhật, hay vấn đề quyền sở hữu "Bốn đảo phía bắc" Nhật - Nga, tranh chấp quần đảo Dokdo Nhật - Hàn, v.v... ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
1.Tranh chấp lãnh thổ là nguồn gốc của xung đột khu vực Châu Á - Thái Binh Dương
Tranh chấp lãnh thổ là nguồn gốc của xung đột khu vực Châu Á - Thái Binh Dương, là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp tới khu vực này. Paul Huth, nhà nghiên cứu cấp cao của viện nghiên cứu các vấn đề xã hội thuộc đại học Michigan, cũng là một trong những học giả Mỹ nghiên cứu lĩnh vực tranh chấp lãnh thổ quốc tế nói rằng: "khi nghiên cứu nền chính trị quốc tế, bạn sẽ nhanh chóng phát hiện ra rằng, tự cổ chí kim, tranh chấp lãnh thổ luôn là nguyên nhân quan trọng dẫn đến mọi cuộc xung đột. Mặc dù người ta vẫn bàn đến độc lập dân tộc của một quốc gia nào đó đang bị suy giảm, chủ quyền đang đến hồi kết; thế nhưng, nếu bạn biết những ranh giới lãnh thổ nào đang xảy ra tranh chấp thì bạn sẽ biết được cái cốt lõi của điểm nóng ấy ở đâu". Lời của Paul Huth không phải là không có căn cứ, tranh chấp lãnh thổ và an ninh là hai vấn đề có liên quan mật thiết đến nhau. Minh chứng cho điều này có thể kể tới vô số những cuộc chiến tranh chấp lãnh thổ giữa các nước trong lịch sử, điển hình gần đây nhất là cuộc chiến tranh chấp quần đảo Malvinas giữa Anh và Argentina vào thập niên 80 của thế kỷ 20. Đồng thời, tranh chấp lãnh thổ cũng là nhân tố ảnh hưởng tới an ninh toàn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Tranh chấp Biển Đông được gọi là "cuộc tranh chấp lãnh thổ trên phạm vi toàn cầu". Từ thập niên 70 của thế kỷ 20, các nước liên quan đều lên tiếng yêu cầu chủ quyền đối với Biển Đông, một số nước còn xây dựng chiến lược quốc phòng mới, đẩy mạnh thiết lập lực lượng hải quân và không quân, thiết chặt kiểm soát quân sự, tăng cường khai thác tài nguyên... Hiện trạng này dẫn đến sự căng thẳng leo thang trong khu vực Biển Đông. Những thập niên 70 và 80, Trung Quốc và Việt Nam đã từng xảy ra hai cuộc xung đột vũ trang đẫm máu trên vùng Biển Đông. Tình hình căng thẳng trên Biển Đông khiến cho toàn khu vực, thậm chí các nước trên thế giới đều tỏ thái độ lo sợ và quan tâm đặc biệt tới an ninh khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Biển Đông trở thành "vùng biển nguy hiểm" và là "quả bom công kích lớn" toàn khu vực này.
Ngoài tranh chấp Biển Đông thì tranh chấp chủ quyền đảo Điêu Ngư Trung - Nhật, hay vấn đề về chủ quyền "Bốn đảo phía bắc" Nhật - Nga, tranh chấp quần đảo Dokdo Nhật - Hàn cũng đều là vấn đề quan tâm hàng đầu của dư luận thế giới. Mặc dù khu vực tranh chấp chỉ là những "nốt chấm nhỏ" hiển thị trên bản đồ, nhưng đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương lại có ý nghĩa vô cùng lớn, nó liên quan đến mối quan hệ chính trị giữa các nước mà mỗi vấn đề đều có nguy cơ phát nổ bất cứ lúc nào. Xung đột đảo Điêu Ngư xảy ra triền miên giữa Trung Quốc và Nhật luôn là điểm nóng của toàn thế giới, hay trong cuộc đối kháng và tranh luận ngoại giao kịch liệt giữa Hàn và Nhật về quần đảo Dokdo năm 1996, Hàn Quốc thậm chí đã khiến cho tình hình trở nên căng thẳng hơn khi tổ chức thực hiện cuộc tập trận hải - không quân quy mô tương đối lớn.
Đặc điểm tranh chấp lãnh thổ khu vực Châu Á ngay từ khi bắt đầu hay trong quá trình diễn ra đều bị chi phối bởi nhân tố chính trị. Khi chính trị giữa các nước liên quan rơi vào tình trạng căng thẳng thì biểu hiện đầu tiên cũng là cốt lõi của mọi cuộc xung đột luôn là tranh chấp lãnh thổ. Nếu không có biện pháp giải quyết hợp lý thì điều này chính là mầm mống gây nên tình trạng căng thẳng giữa các nước, thậm chí là xung đột vũ trang. Ngoài ra còn có nhiều đặc điểm tương đồng trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ, đặc biệt là phương hướng nhìn nhận vấn đề hay biện pháp giải quyết một cuộc tranh chấp sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình giải quyết cho cuộc tranh chấp liên tiếp sau nó, dẫn đến hiện trạng gọi là "phản ứng dây chuyền". Do đó, tranh chấp lãnh thổ còn gọi là căn nguyên xung đột gây ảnh hưởng tới an ninh khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
2.Tranh chấp lãnh thổ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới an ninh và mối quan hệ giữa các nước trong khu vực
Việc chọn lựa phương hướng phát triển và biện pháp giải quyết tranh chấp lãnh thổ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ giữa các nước và nền hòa bình phát triển của toàn khu vực. Phạm vi ảnh hưởng rộng và số lượng lớn các nước có liên quan trong tranh chấp lãnh thổ Châu Á - Thái Bình Dương là đặc điểm khác biệt so với các khu vực khác. Trong phạm vi khu vực có tranh chấp  giữa Trung Quốc và Nhật Bản, Trung Quốc và các nước ASEAN, giữa các nước ASEAN; hay phạm vi ngoài khu vực giữa Nga và Nhật, Mỹ và toàn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng đều tồn tại rất nhiều vấn đề liên quan đến quyền lợi các nước, không chỉ ảnh hưởng tới các nước tham gia mà còn tác động sâu rộng đến hòa bình và an ninh của toàn bộ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Tranh chấp đảo Điêu Ngư là vấn đề nổi cộm trong quan hệ Trung - Nhật, gây căng thẳng trong mối quan hệ hai nước. Tranh chấp Biển Đông là thước đo mức độ căng thẳng hay ôn hòa trong quan hệ Trung Quốc - ASEAN. Tranh chấp lãnh thổ cũng chính là nguyên nhân cơ bản mà Nhật và Nga đến nay vẫn chưa có bất kỳ tiếng nói chung hay một văn bản ký kết liên quan nào, và "Bốn đảo phía bắc" biến thành vật cản kìm hãm sự phát triển quan hệ Nhật - Nga. Cũng như vậy, tranh chấp Nhật - Hàn đã đẩy quan hệ hai nước xuống chiều sâu của sự trì trệ.
Các nước liên quan đến tranh chấp lãnh thổ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN, v.v... đều là những thành viên trọng yếu của khu vực này, do đó mối quan hệ giữa các nước có ảnh hưởng quan trọng, quyết định tới sự tồn tại, hòa bình và ổn định của toàn khu vực. Trung Quốc là quốc gia đang trỗi dậy, có tác động ngày càng lớn trong vấn đề của khu vực cũng như của thế giới. Nhật là cường quốc kinh tế đang đầu tư đẩy mạnh sang lĩnh vực chính trị và quân sự. Các nước ASEAN không ngừng phát triển sau chiến tranh lạnh, hoạt động tích cực và phát huy hiệu quả trong nền chính trị, kinh tế, an ninh toàn khu vực. Nếu quan hệ hai nước Trung - Nhật xấu đi sẽ gây ảnh hưởng lớn đến cục diện an ninh khu vực; chất lượng quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình và ổn định khu vực. Do vậy, nếu các nước đã nêu trên vì mục đích tranh chấp lãnh thổ gây ra mâu thuẫn hoặc xung đột vũ trang sẽ không chỉ phá hoại mối quan hệ phát triển bình thường hóa vốn có, mà còn khiến cho an ninh khu vực rơi vào tình trạng bất ổn định, tổn hại nghiêm trọng đến hòa bình và phát triển của toàn bộ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
3.Tranh chấp lãnh thổ ảnh hưởng ngầm đến cục diện quan hệ các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là cái nôi của sự giao thoa về lợi ích và sức mạnh của các nước lớn. Bốn nước Trung, Mỹ, Nhật và Nga đóng vai trò chủ đạo trong việc giải quyết vấn đề chung của toàn khu vực. Quan hệ giữa các nước này quyết định đến cục diện chính trị của toàn khu vực. Đồng thời, diễn biến tranh chấp lãnh thổ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cục diện quan hệ bốn nước này, thậm chí đến nền an ninh của toàn thế giới.
Thứ nhất, một số tranh chấp lãnh thổ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương phát sinh từ mối quan hệ giữa nước lớn và nước lớn. Ví dụ như tranh chấp đảo Điêu Ngư Trung - Nhật hay tranh chấp "Bốn đảo phía bắc" Nhật - Nga, phương hướng phát triển và biện pháp giải quyết ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển quan hệ song phương của các nước này. Hay ví dụ như, tranh chấp "Bốn đảo phía bắc" giữa Nhật và Nga trước nay luôn như "cái gậy đặt trong cổ họng" cản trở sự phát triển lâu dài quan hệ Nhật - Nga, nếu không giải quyết được vấn đề này thì việc thiết lập quan hệ song phương mật thiết Nhật - Nga là điều không thể có. Tranh chấp đảo Điêu Ngư Trung - Nhật cũng là cái bóng kìm hãm quan hệ hai nước phát triển. Do đó cần xuất phát từ lợi ích tổng thể trong quan hệ song phương tốt đẹp, từ đó cùng suy ngẫm và tìm ra biện pháp giải quyết.
Thứ hai, một số nước lớn mặc dù không phải là nước có liên quan đến tranh chấp lãnh thổ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương song lại có lợi ích thiết yếu trong khu vực tranh chấp này. Diễn biến tranh chấp lãnh thổ toàn khu vực từ đó cũng ảnh hưởng gián tiếp đến quan hệ nước đó và những nước có tranh chấp.
Ngay chính một số vùng tranh chấp trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nền kinh tế và chiến lược phát triển, là đối tượng quan tâm đặc biệt của các nước lớn. Ví dụ như đảo Điêu Ngư có giá trị kinh tế lớn và chiến lược phát triển quan trọng đối với hai nước Trung - Nhật, Biển Đông được gọi là "trái tim của khu vực Đông Nam Á", là "Địa Trung Hải khu vực Châu Á", v.v trong đó nguồn thủy sản và nguồn tài nguyên dầu khí phong phú, có đường hàng hải thuận tiện và lượng hàng hoá thương mại chuyển qua hàng năm tấp nập, không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh và phát triển của các nước xung quanh Biển Đông mà còn là mối quan tâm đặc biệt về lợi ích của các nước lớn, đặc biệt là các siêu cường quốc.
Mỹ có lợi ích chiến lược chính trị, kinh tế, an ninh, v.v...quan trọng trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, cũng là khu vực hoạt động của hạm đội Thái Bình Dương Mỹ. Các nước Mỹ, Nhật, Philippines đã ký kết hiệp ước liên minh quân sự, xây dựng căn cứ quân sự tại Okinawa Nhật, đồng thời còn hợp tác quân sự và quốc phòng dưới nhiều hình thức với các nước xung quanh khu vực Biển Đông khác. Nếu tranh chấp Biển Đông leo thang hoặc phát sinh xung đột mới trong tranh chấp Trung - Nhật, thì vấn đề không còn thuộc phạm vi giải quyết giữa Trung Quốc và các nước ASEAN hay giữa Trung Quốc và Nhật nữa. Khi đó, Mỹ cũng có khả năng tham gia và quan hệ Trung - Mỹ không thể không bị ảnh hưởng.
Tiếp nữa, các mối quan hệ song phương như quan hệ Trung - Mỹ, quan hệ Trung - Nhật, quan hệ Nhật - Mỹ, quan hệ Trung - Nga, hay quan hệ Nhật - Nga, v.v... sẽ nắm vai trò quyết định cục diện chính trị và an ninh khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Diễn biến trong tranh chấp lãnh thổ khu vực dù ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến bất kỳ mối quan hệ song phương nào cũng đều kéo theo "phản ứng dây chuyền" cho những mối quan hệ khác, từ đó ảnh hưởng đến diễn biến cục diện chính trị và an ninh của toàn bộ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Mặt khác, các nước này cũng là lực lượng thống trị chủ đạo trên quy mô toàn thế giới nên sự ảnh hưởng không chỉ giới hạn trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến cục diện thế giới cũng như hòa bình và an ninh thế giới.
Theo Tạp chí Kinh tế và Chính trị
Đinh Thị Thu (dịch)
Thùy Linh (hiệu đính)

Sunday, August 21, 2011

21/08 Chính sách của ngân hàng Nhà nước theo hướng nào?


Thị trường đang chờ đón gói giải pháp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) được cho là sẽ đưa ra trong những tuần cuối tháng 8 này.

Tóm tắt:
  • NHNN đang đứng trước tình thế phải có biện pháp xử lý 3 vấn đề cấp bách: Giảm lãi suất cho vay, ổn định tỷ giá; khơi thông nguồn vốn.
  • Ông Lê Xuân Nghĩa - Phó chủ tịch UBGS Tài chính Quốc gia cho rằng NHNN nên theo hướng: thắt chặt tiền tệ; linh hoạt điều tiết cung tiền; bãi bỏ các quy định hành chính như trần lãi suất, hạn mức tỷ lệ cho vay tại TT 13 và 19.
  • Ông Trần Đình Thiên - viện trưởng viện Kinh tế cho rằng lãi suất cho vay về 17% - 19%/năm ngay trong tháng 9 là khó khả thi. NHNN không nên vội điều chỉnh tỷ giá.
Một lý do nữa khiến dư luận chờ đợi là qua gói giải pháp thấy được phần nào quan điểm của tân thống đốc NHNN về điều hành chính sách tiền tệ.

Thực trạng của nền kinh tế và thị trường tiền tệ đang đặt NHNN trước tình thế phải có biện pháp xử lý ba vấn đề cấp bách: Giảm lãi suất cho vay VND về mức 17% - 19% ngay trong tháng 9; giữ cho được sự ổn định tương đối của tỷ giá VND/USD trước áp lực lạm phát và tăng cầu ngoại tệ; khơi thông nguồn vốn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh đang có dấu hiệu lâm vào đình đốn do thiếu vốn.
Chính sách mang tính thị trường hơn
Tại hội thảo “Thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam - Những thách thức và dự báo đến cuối năm 2011 và gợi ý giải pháp cho các ngân hàng thương mại (NHTM)/doanh nghiệp ” tổ chức tại Hà Nội ngày 21.8, ông Lê Xuân Nghĩa, phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia đã nêu ra các kiến nghị chính sách (những kiến nghị này theo nhận xét của một người nghe là khá tương đồng với gói giải pháp mà NHNN sắp đưa ra) thì giải pháp sắp tới của NHNN nên theo hướng hợp lý và mang tính thị trường hơn như: thắt chặt tiền tệ hợp lý; tăng cung tiền hợp lý; bãi bỏ các quy định hành chính như trần lãi suất, hạn mức tỷ lệ cho vay chỉ được 80%/tổng vốn huy động (quy định tại thông tư 19)...
NHNN sẽ đóng vai trò người môi giới tiền tệ?
Trả lời câu hỏi về việc làm thế nào NHNN có thể giải quyết vấn đề giảm lãi suất cho vay VND, ông Nghĩa nói : “Theo tôi được biết, sắp tới NHNN sẽ có cuộc họp với các NHTM để bàn biện pháp điều hòa vốn. Nhiều khả năng, NHNN sẽ đóng vai trò như người môi giới tiền tệ (điều hòa vốn từ ngân hàng thừa thanh khoản sang ngân hàng thiếu thanh khoản) và có cam kết với các ngân hàng nhỏ về đảm bảo thanh khoản của họ. Đó là biện pháp can thiệp của NHNN. Còn về khách quan thì đã có nhiều dấu hiệu cho thấy cầu tín dụng đang giảm mạnh. Đó là tỷ lệ gia tăng hàng tồn kho, có thông tin khoảng 30% doanh nghiệp không tiêu thụ điện không đóng thuế. Doanh nghiệp không đầu tư, dân chúng không tiêu dùng thì ngân hàng để lãi cao bán được vốn cho ai? Tự thân ngân hàng thương mại cũng phải buộc giảm lãi suất cho vay".
Tuy nhiên, về vấn đề này, TS Trần Đình Thiên - viện trưởng viện Kinh tế lại có ý kiến khác, ông cho rằng việc NHNN tuyên bố giảm nhanh lãi suất cho vay về 17% - 19%/năm ngay trong tháng 9 là khó khả thi và bắn đi tín hiệu sai cho thị trường là lạm phát sẽ giảm, trong khi thực tế lạm phát có thể quay lại xu hướng tăng mạnh bất cứ lúc nào.
Về tỷ giá, trong khi TS Nguyễn Trí Hiếu (chuyên gia tài chính) cho rằng VND đang bị định giá quá cao, mức quân bình của tỷ giá VND/USD phải vào khoảng 25.000 đồng thì TS Lê Xuân Nghĩa nói rằng từ nay đến cuối năm tỷ giá sẽ không vượt qua 21.000 đồng, chỉ tăng vào khoảng 1%-2%. Lý do: Nhập siêu của Việt Nam đã có xu hướng giảm; thị trường ngoại hối đang tương đối ổn định, dự trữ ngoại tệ của NHNN đã tăng đáng kể... Bên cạnh đó từ nay đến cuối năm NHNN sẽ tiếp tục sử dụng liên tiếp các công cụ của chính sách tiền tệ để giữ ổn định tỷ giá theo mục tiêu. Theo TS Thiên thì trong 2 năm qua, Việt Nam đã 4 lần điều chỉnh tỷ giá là quá nhiều, nên không vội vã tiếp tục điều chỉnh nữa.
Chờ kiểm nghiệm của thị trường
Nếu các biện pháp của NHNN sắp tới giống kiến nghị chính sách mà ông Lê Xuân Nghĩa đã nêu ra thì sẽ diễn ra các khả năng sau: linh hoạt hơn trong cung tiền, không quá thắt chặt nữa; bỏ lãi suất trần huy động VND (trần lãi suất huy động USD có thể còn cân nhắc); bỏ một số quy định mang tính hành chính trong thông tư 13 và 19, nhất là quy định về sử dụng 80% vốn huy động để cho vay; tăng dự trữ bắt buộc ngoại tệ và thu hẹp hơn đối tượng vay ngoại tệ để giảm cầu ngoại tệ; quy định hạn mức tín dụng chung và tín dụng phi sản xuất đối với từng nhóm ngân hàng (không cào bằng 20%) dựa trên các tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng....
Thị trường đang chờ đón các giải pháp của NHNN. Cho dù những giải pháp mới được dự đoán là không can thiệp hành chính sâu, mang tính thị trường hơn, nhưng tất cả còn chờ sự kiểm nghiệm của thị trường trong những tháng cuối năm 2011.
Theo Trí Dũng
SGTT

21/08 Sáng tạo vượt khó là tinh thần chủ đạo của doanh nghiệp

07:24 | 21/08/2011
Trong bối cảnh khó khăn hiện nay, chủ động, sáng tạo vượt khó là tinh thần chủ đạo được doanh nghiệp nước ta vận dụng. Với phương châm tự cứu mình, nhiều doanh nghiệp hoặc tiếp tục kiên trì với chiến lược kinh doanh đã đề ra, hoặc chuyển đổi lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, không để đồng vốn chết, tiếp tục làm ra của cải vật chất cho xã hội, duy trì việc làm cho người lao động, đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Nguồn: dddn.vn
Hiện nay, khó khăn về vốn và thị trường đang ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn có những tin vui về sự phát triển của doanh nghiệp Việt trên thương trường. Trong đó, Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) tiếp tục được các tổ chức đánh giá là doanh nghiệp có uy tín do phát triển vững chắc trong thời gian qua. Trong cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, Vinamilk là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phù hợp, tiếp cận mọi đối tượng tiêu dùng trong nước. Doanh nghiệp cũng tham gia nhiều chương trình mang tính nhân văn, vì cộng đồng, như xây dựng Quỹ sữa vươn cao Việt Nam với mục tiêu nâng cao thể chất và trí lực cho thế hệ trẻ. Theo Giám đốc điều hành Nguyễn Quốc Khánh, Vinamilk đặt mục tiêu trở thành một trong 50 công ty hàng đầu thế giới trong ngành chế biến sữa; cung cấp tới người tiêu dùng những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao.
Khi nước ta mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, có nhiều dự đoán doanh nghiệp bán lẻ trong nước sẽ bị các đại gia phân phối nước ngoài chiếm lĩnh thị trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đối mặt với khó khăn, các doanh nghiệp phân phối trong nước đã vươn lên mạnh mẽ, cạnh tranh sòng phẳng, bình đẳng với doanh nghiệp nước ngoài trong thế yếu hơn về vốn, công nghệ và quản lý. Việc mở rộng hệ thống bán lẻ trên toàn quốc của Saigoncoop, Fivimart, Hapromart... đã chứng minh thực tế này. Giám đốc điều hành Tổng công ty Thương mại Hà Nội Mai Khuê Anh khẳng định, doanh nghiệp bán lẻ trong nước đã cạnh tranh tốt được với doanh nghiệp nước ngoài. Và để không bị thua trên sân nhà, doanh nghiệp bán lẻ trong nước tiếp tục nỗ lực để cạnh tranh được với những tập đoàn phân phối lớn trên thế giới có kế hoạch thâm nhập thị trường nước ta.  
Những ví dụ trên đây đều là doanh nghiệp mạnh, có thương hiệu, có thực lực và vượt khó tương đối thuận lợi. Còn đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh khó khăn, thậm chí phải giải thể, ngừng hoạt động. Nhưng thực tế cũng cho thấy, một số doanh nghiệp vẫn ăn nên làm ra bằng sự năng động, sáng tạo của mình. Ví dụ là trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khó khăn, đồ mỹ nghệ là thứ hàng hóa được ưu tiên cắt giảm trong mua sắm của các gia đình, kéo theo sự thu hẹp thị trường. Trước khó khăn này, doanh nghiệp đã chủ động lựa chọn phân khúc người có thu nhập khá để khai thác, giúp tăng lượng hàng hóa được tiêu thụ. Doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới thiết kế mẫu mã, tìm chất liệu độc đáo, giúp tăng doanh thu. Giám đốc Công ty cổ phần Mỹ nghệ Viễn Đông Nguyễn Sơn Hà cho biết, việc thuê thiết kế nước ngoài đã giúp tạo sự độc đáo cho sản phẩm, từ đó, tạo chỗ đứng vững chắc tại thị trường nước ngoài.
Thống kê của các Sở Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đã xin phá sản ở lĩnh vực này, nhưng lại đăng ký kinh doanh ở lĩnh vực khác để thích ứng với điều kiện mới. Như vậy, doanh nghiệp quy mô lớn hay nhỏ đều vận dụng hiệu quả bài học lớn từ Cách mạng tháng Tám mùa thu lịch sử 1945 là biết tận dụng thời cơ. Doanh nghiệp vẫn tìm được những cơ hội trong khó khăn, đặc biệt là biến cái khó thành điều kiện tốt để cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Theo nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính trị thế giới Võ Đại Lược, không nên nhìn nhận việc phá sản, giải thể doanh nghiệp một cách tiêu cực. Việc doanh nghiệp xin phá sản ở lĩnh vực này, lại đăng ký kinh doanh ở lĩnh vực khác thể hiện quá trình thay đổi cơ cấu hoạt động của mình, chọn mô hình hoạt động toàn diện hơn. Và với vai trò là lực lượng kinh tế nòng cốt, tái cấu trúc doanh nghiệp sẽ dẫn dụ, thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế.
Ngọc Diệu

21/08 Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp

07:23 | 21/08/2011
Với những thay đổi căn bản trong phương thức quản lý, Luật Doanh nghiệp được ví như một đòn bẩy cho các doanh nghiệp chủ động sáng tạo phát triển sản xuất, kinh doanh. Nhưng để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp vẫn cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật.
Sau 5 năm áp dụng trong thực tiễn, Luật Doanh nghiệp đã cho thấy những ưu điểm và hạn chế. Vì vậy, việc rà soát Luật và các văn bản hướng dẫn là việc làm có ý nghĩa lớn trong quá trình hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp. Tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc đang tồn tại và làm khó cho cả Nhà nước, doanh nghiệp sẽ tạo một cơ chế quản lý hợp lý, từ đó, tạo môi trường kinh doanh tốt cho lực lượng kinh tế này. Trong đó, vướng mắc lớn nhất với doanh nghiệp là do quy định không cụ thể về thủ tục pháp lý trước khi thành lập công ty. Hệ quả của tình trạng này là nhiều hợp đồng đã được ký kết trước khi thành lập sẽ được hợp thức hóa khi được cấp giấy phép kinh doanh. Điều này khiến doanh nghiệp lúng túng không biết con gà có trước hay quả trứng có trước. Doanh nghiệp có trước hay hoạt động kinh doanh có trước không được phân định rõ vừa gây lúng túng cho người sáng lập, vừa có thể bị lợi dụng để hình thành doanh nghiệp ma. 
Về việc xác định ngành nghề đăng ký kinh doanh, theo Luật sư Vũ Anh, các văn bản quy phạm pháp luật còn nhầm lẫn giữa ngành nghề kinh tế và kinh doanh thực tế. Đăng ký ngành nghề kinh doanh phụ thuộc vào ý tưởng của người điều hành, lãnh đạo và những người có trí tuệ, ý tưởng. Ý tưởng này phải đi trước người khác thế thì làm sao có được trong những ngành nghề mà hiện đang được quy định. Vì vậy, nhiều cá nhân, tổ chức loay hoay khi đăng ký thành lập doanh nghiệp do không tìm được ngành nghề kinh doanh phù hợp với ý tưởng. Hơn nữa, quy định của pháp luật không làm hạn chế khả năng sáng tạo của doanh nghiệp, song cơ quan chức năng khó quản lý sát sao hoạt động kinh doanh. Bởi bộ khung ngành nghề cứng sẽ buộc cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp phải sửa đổi hợp đồng để phù hợp với pháp luật. Luật sư Vũ Anh đề nghị, để tránh tình trạng nắn chân cho vừa giầy, nên quy định đăng ký kinh doanh theo ý tưởng; cơ quan đăng ký kinh doanh có nhiệm vụ rà soát xem lĩnh vực đó có thuộc pháp luật không cấm, hay có ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục không. Đồng tình với quan điểm này, Luật sư Cao Bá Quát cho rằng, việc dùng mã ngành kinh tế theo Quyết định 10/2007 của Thủ tướng Chính phủ để khai vào hồ sơ đăng ký kinh doanh hiện nay là không hợp lý. Hãy để tự người dân đăng ký theo ý tưởng đầu tư của mình, tự lựa chọn ngành nghề kinh doanh.
Đối với vấn đề con dấu, một số ý kiến cho rằng, đây chỉ là một dấu hiệu nhận dạng doanh nghiệp, không là căn cứ pháp lý do dễ bị làm giả. Hình thức này không có khả năng xác nhận lại bằng vân tay, chữ ký, con ngươi, AND. Vì vậy, không nên bắt buộc doanh nghiệp phải có con dấu. Doanh nghiệp muốn có con dấu có thể tự quy định hoặc điểm dấu của mình và đăng ký bảo vệ. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, con dấu được cơ quan có thẩm quyền cấp, nên có đầy đủ tính hợp pháp. Trong khi đó, việc photo chữ ký rồi sau đó đóng dấu đang được thực hiện tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Do vậy, để phù hợp với thực tế nước ta không thể tách bạch chữ ký và con dấu. Khi nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân, doanh nghiệp còn hạn chế, thì cần duy trì con dấu để bảo đảm hiệu lực, chặt chẽ của việc xác lập, thực hiện các giao dịch của doanh nghiệp.
Vấn đề bình đẳng giữa các loại hình kinh doanh cũng được đặt ra trong quá trình rà soát Luật Doanh nghiệp. Hiện nay, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đầu tư thay Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của doanh nghiệp trong nước. Một số ý kiến đề nghị, cần quy định thống nhất và rõ ràng đối với thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nhất là khi doanh nghiệp này đã tạo công ăn, việc làm, nộp thuế, đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời gian qua. Nhưng theo đại diện Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ, các quy định hạn chế đầu tư trong pháp luật đối với nhà đầu tư nước ngoài là cần thiết để bảo vệ đầu tư trong nước, bảo đảm chủ quyền lãnh thổ và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các nguyên tắc bình đẳng cơ bản trong khuôn khổ WTO cũng đều có những quy định ngoại lệ về việc phân biệt về quyền tiếp cận nguồn lực, phạm vi đầu tư và các biện pháp trợ cấp giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, trên thế giới chưa có quốc gia nào cào bằng ranh giới quyền và nghĩa vụ giữa hai loại chủ thể đầu tư này.
Luật Doanh nghiệp và các văn bản quy phạm pháp luật khác là định hướng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, cần tiến hành sửa đổi, bổ sung các văn bản này để tháo gỡ khó khăn cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp, cũng như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung văn bản luật cần tính đến tác động toàn diện, cũng như sự thống nhất của hệ thống pháp luật. Thực tế, một số khó khăn với doanh nghiệp hiện nay cũng do các văn bản quy phạm pháp luật có quy định trái ngược nhau.
Mạnh Quang

21/08 Công tác chỉ đạo của Thường trực HĐND đối với Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND trong việc tham mưu và phục vụ kỳ họp HĐND tỉnh

07:36 | 21/08/2011
Tham luận của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc tại Hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc bộ do UỶ VIÊN THƯỜNG TRỰC NGUYỄN XUÂN SƠNtrình bày
Kỳ họp HĐND là hình thức hoạt động chủ yếu, trực tiếp, tập trung nhất của các đại biểu HĐND để thực hiện chức năng quyết định và giám sát những vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND. Để từng bước nâng cao chất lượng kỳ họp HĐND, công tác chuẩn bị là yếu tố quan trọng, trong đó vai trò tham mưu, phục vụ của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND (Văn phòng) là một trong những nhân tố quyết định, vì chức năng nhiệm vụ của Văn phòng là giúp Thường trực HĐND xây dựng chương trình, tổ chức phục vụ, đôn đốc các cơ quan chuẩn bị tài liệu phục vụ kỳ họp HĐND, cuộc họp của Thường trực HĐND; giúp Thường trực, các ban HĐND tỉnh xây dựng báo cáo công tác, giúp việc các ban HĐND trong hoạt động thẩm tra, giúp Thường trực HĐND hoàn thiện các nghị quyết của HĐND tỉnh. Phối hợp với các cơ quan trong hoạt động tiếp xúc cử tri; tổng hợp ý kiến, kiến nghị cử tri gửi các cơ quan tổ chức có trách nhiệm xem xét, giải quyết.
Để kỳ họp HĐND tỉnh thực sự có hiệu quả, thiết thực, đảm bảo đúng quy trình, tính pháp lý, trong những năm gần đây Thường trực HĐND tỉnh Vĩnh Phúc đã chủ động chỉ đạo Văn phòng thực hiện tốt công tác tham mưu, giúp việc Thường trực, các Ban HĐND trong công tác chuẩn bị cho kỳ họp HĐND:
Trước hết là phải chủ động trong công tác chuẩn bị nội dung kỳ họp theo luật định, tại kỳ họp cuối năm trước, Thường trực HĐND tỉnh đã chỉ đạo Văn phòng tham mưu cho Thường trực HĐND tỉnh chương trình xây dựng nghị quyết, chương trình giám sát năm sau trình HĐND tỉnh thông qua. Theo quy định thì trước kỳ họp 40 ngày Thường trực HĐND tỉnh tổ chức hội nghị liên tịch với UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, các cơ quan liên quan để thống nhất nội dung chương trình kỳ họp HĐND tỉnh; tuy nhiên, đối với Vĩnh Phúc kỳ họp HĐND tỉnh có nhiều nội dung, ngoài các nội dung theo luật định thì mỗi kỳ họp trung bình UBND tỉnh trình từ 10 chuyên đề trở lên; để các cơ quan, các ban HĐND tỉnh có thời gian chuẩn bị kỹ các nội dung kỳ họp nên trước kỳ họp 2 tháng Văn phòng tham mưu cho Thường trực HĐND tỉnh tổ chức hội nghị liên tịch để thống nhất nội dung, chương trình, thời gian tổ chức kỳ họp đồng thời tại hội nghị này Văn phòng tham mưu cho Thường trực HĐND tỉnh thống nhất phân công trách nhiệm tới từng cơ quan, các ban HĐND tỉnh trong việc chuẩn bị nội dung kỳ họp, ấn định thời gian thực hiện, thời gian gửi tài liệu. Để hội nghị liên tịch thành công bảo đảm các nội dung đều được thống nhất, đặc biệt là các nội dung chuyên đề, Văn phòng giao cho các chuyên viên nghiên cứu từng nội dung theo lĩnh vực được phân công để tham mưu cho Thường trực HĐND tỉnh những nội dung không thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh sẽ được thống nhất không đưa vào chương trình kỳ họp. Đối với các chuyên đề phức tạp giao các chuyên viên có nhiệm vụ tham gia ngay từ khi xây dựng báo cáo, đề án để tham mưu cho Thường trực, các ban HĐND tỉnh. Các tài liệu trình kỳ họp đều được Thường trực HĐND chỉ đạo Văn phòng có văn bản hướng dẫn để các cơ quan thực hiện theo đúng quy trình luật định, định kỳ hàng tuần kiểm điểm tiến độ chuẩn bị, đôn đốc các cơ quan gửi văn bản trình kỳ họp qua Văn phòng để gửi các đại biểu HĐND tỉnh đúng thời gian quy định.
Trước kỳ họp 30 ngày, Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng tham mưu xây dựng kế hoạch tiếp xúc cử tri; kế hoạch họp Tổ đại biểu HĐND tỉnh, phân công lãnh đạo Văn phòng, chuyên viên dự các buổi tiếp xúc cử tri, các buổi họp Tổ đại biểu HĐND tỉnh, mỗi một Tổ đại biểu HĐND tỉnh tiếp xúc cử tri ít nhất 2 điểm, Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng xây dựng đề cương hướng dẫn cụ thể giúp các đại biểu tiếp xúc cử tri, trong đó dành thời lượng thích hợp để cử tri phát biểu. Sau các cuộc tiếp xúc cử tri, tiến hành họp Tổ, các Tổ đại biểu HĐND tỉnh đều phải tổng hợp các ý kiến gửi Thường trực HĐND tỉnh, Thường trực giao Văn phòng phân loại tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri chuyển đến UBND tỉnh và đề nghị UBND tỉnh có báo cáo kết quả giải quyết tại kỳ họp để các đại biểu và cử tri trong tỉnh được biết. Các ý kiến thảo luận tại các Tổ được Văn phòng tổng hợp gửi các đại biểu HĐND tỉnh biết và tại kỳ họp đại biểu chỉ thảo luận những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau, như vậy rút ngắn được thời gian tổ chức kỳ họp nhưng nội dung kỳ họp vẫn bảo đảm, chất lượng kỳ họp được nâng lên.
Việc thực hiện nhiệm vụ tham mưu, giúp việc các ban HĐND tỉnh trong hoạt động thẩm tra: trên cơ sở thống nhất nội dung kỳ họp, Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng tham mưu xây dựng kế hoạch điều hòa phối hợp để các Ban tiến hành thẩm tra các báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết trình kỳ họp; đồng thời phân công chuyên viên nghiên cứu các chuyên đề và đưa ra ý kiến của Văn phòng về nội dung thẩm tra, chuẩn bị các tài liệu cần thiết để làm cơ sở giúp các Ban tiến hành thẩm tra; kết thúc các buổi thẩm tra Văn phòng có nhiệm vụ tổng hợp các ý kiến của đại biểu, xây dựng dự thảo báo cáo thẩm tra tham mưu cho các ban HĐND tỉnh quyết định. Với quan điểm báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm, chính kiến của các ban, nêu rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, cung cấp thông tin về cơ sở pháp lý và thực tiễn để đại biểu HĐND tỉnh thảo luận, quyết định.
Trên cơ sở kết quả thảo luận Tổ đại biểu HĐND tỉnh trước kỳ họp, kết quả các cuộc thẩm tra của các ban HĐND tỉnh, Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng tổng hợp những vấn đề còn có ý kiến khác nhau giữa các Tổ đại biểu HĐND và các ban HĐND với cơ quan trình để Thường trực HĐND tỉnh báo cáo Đảng Đoàn HĐND tỉnh và hướng dẫn để đại biểu thảo luận tại kỳ họp.
Để hoạt động chất vấn thực sự có hiệu quả Thường trực HĐND tỉnh giao cho Văn phòng tổng hợp lại những vấn đề mà cử tri bức xúc qua các cuộc tiếp xúc cử tri, tiếp dân, hoạt động giám sát, phân công các ban HĐND chuẩn bị mỗi Ban từ 3-  câu hỏi chất vấn, Văn phòng tổng hợp báo cáo Thường trực HĐND tỉnh để lựa chọn nội dung chất vấn báo cáo Đảng Đoàn HĐND tỉnh cho ý kiến chỉ đạo và chuyển đến UBND tỉnh để chuẩn bị trả lời chất vấn tại kỳ họp. Đồng thời yêu cầu các Sở, ngành có báo cáo bằng văn bản về kết quả thực hiện lời hứa tại phiên chất vấn kỳ họp trước để HĐND và cử tri theo dõi, giám sát.
Trước 7 ngày khai mạc kỳ họp, Văn phòng tham mưu nội dung tổ chức hội nghị Đảng Đoàn HĐND tỉnh để Đảng Đoàn cho ý kiến chỉ đạo nội dung, chương trình điều hành kỳ họp, những nội dung còn có ý kiến khác nhau chưa thống nhất giữa cơ quan trình và các ban HĐND tỉnh, thống nhất nội dung chất vấn tại kỳ họp và rà soát chỉnh lý dự thảo nghị quyết HĐND tỉnh trình kỳ họp tạo sự thống nhất cao để Đảng Đoàn HĐND tỉnh lãnh đạo thành công kỳ họp.
Chỉ đạo Văn phòng phối hợp với các cơ quan tuyên truyền về kỳ họp HĐND, toàn bộ nội dung, chương trình kỳ họp được thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh để cử tri được biết, theo dõi. Đặc biệt trong những kỳ họp gần đây Thường trực HĐND tỉnh đã thực hiện lấy ý kiến nhân dân vào các nội dung chuyên đề trình kỳ họp thông qua Cổng Thông tin giao tiếp điện tử của tỉnh, sau đó giao cho Văn phòng phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh tổng hợp gửi các đại biểu HĐND tỉnh để thảo luận; tổ chức truyền hình trực tiếp toàn bộ thời gian diễn ra kỳ họp; đăng nội dung các nghị quyết của HĐND tỉnh sau kỳ họp trên các số báo của tỉnh và trên Website của tỉnh để nhân dân được biết thực hiện và giám sát.
Công tác phục vụ cho kỳ họp: Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng chuẩn bị tốt cả về nội dung, các điều kiện vật chất, kỹ thuật, bảo đảm an ninh trật tự, y tế, đón tiếp đại biểu, thông tin tuyên truyền, thực hiện chế độ cho đại biểu trong thời gian diễn ra kỳ họp, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các đại biểu hoạt động góp phần cho thành công của kỳ họp HĐND tỉnh.
Tuy nhiên, với vai trò Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng, điều hòa phối hợp với các ban HĐND tỉnh trong công tác chuẩn bị kỳ họp HĐND vẫn còn những tồn tại cơ bản là:
Trong công tác chỉ đạo Văn phòng tham mưu nội dung các kỳ họp tuy đã có sự thống nhất cao giữa Thường trực HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh song vẫn còn một số nội dung bổ sung vào các kỳ họp gấp về thời gian; biết rằng đó là những nội dung cần thiết phải thông qua HĐND tỉnh quyết định cho sự phát triển KT - XH của tỉnh; song sẽ là công việc gây khó khăn cho Văn phòng, các ban HĐND tỉnh trong công tác chuẩn bị các tài liệu cho đại biểu và hoạt động thẩm tra để đảm bảo đúng quy định của luật.
Trước mỗi kỳ họp, Thường trực HĐND tỉnh đều chủ động chỉ đạo Văn phòng xây dựng kế hoạch và hướng dẫn các Tổ đại biểu HĐND tỉnh họp Tổ, song chất lượng họp Tổ của các Tổ đại biểu HĐND trước kỳ họp còn rất hạn chế chưa có nhiều đóng góp cho hoạt động kỳ họp HĐND; trách nhiệm của Tổ đại biểu HĐND, đại biểu HĐND tỉnh còn hạn chế, còn nể nang, né tránh, ngại va chạm, vì vậy việc đăng ký chất vấn, thảo luận còn ít, chất vấn còn chung chung chưa cụ thể, truy đến cùng.
Một số đại biểu là thành viên các ban HĐND trong công tác chuẩn bị nội dung kỳ họp chưa thực sự quan tâm, có những cuộc thẩm tra của các Ban thành viên vắng nhiều, Văn phòng lại phải thêm một bước là xin ý kiến các đồng chí thành viên Ban vắng mặt vào dự thảo báo cáo thẩm tra của Ban như vậy ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian hoàn thiện báo cáo.
Qua quá trình chỉ đạo Văn phòng chuẩn bị kỳ họp HĐND, Thường trực HĐND tỉnh Vĩnh Phúc rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là, phải khẳng định rằng công tác chuẩn bị cho mỗi kỳ họp HĐND nếu được thực hiện chu đáo, kỹ lưỡng là yếu tố quyết định cho sự thành công của kỳ họp, quyết định đến việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND.
Hai là, trong chỉ đạo điều hành công tác chuẩn bị kỳ họp HĐND, Thường trực HĐND phải thể hiện sự tập trung thống nhất cao, phối hợp chặt chẽ với UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và các cơ quan liên quan, thường xuyên đôn đốc kiểm tra các ban HĐND, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh trong việc thực hiện những nội dung chuẩn bị kỳ họp được phân công.
Ba là, sớm chỉ đạo Văn phòng tham mưu tổ chức cuộc họp liên tịch với UBND, Ủy ban MTTQ, các ban HĐND và các cơ quan liên quan để thống nhất nội dung, thời gian kỳ họp, phân công trách nhiệm các cơ quan chuẩn bị nội dung với những yêu cầu đặt ra theo đúng luật định. Chỉ đạo Văn phòng giao cho các chuyên viên tham mưu cho các ban HĐND tỉnh phối hợp với các cơ quan trong quá trình chuẩn bị các nội dung nhất là các nội dung chuyên đề để giúp cho các ban có đầy đủ thông tin phục vụ công tác thẩm tra; báo cáo thẩm tra của các ban HĐND tỉnh phải thể hiện rõ được những căn cứ pháp lý và thực tiễn của chuyên đề, nêu được những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, những vấn đề cần giải trình làm rõ để cung cấp cho đại biểu HĐND có căn cứ pháp lý và thực tiễn để thực hiện chức năng quyết định. Kiên quyết không đưa vào kỳ họp những nội dung chuyên đề chuẩn bị chưa kỹ chưa có đủ căn cứ để HĐND quyết định và những chuyên đề không thuộc thẩm quyền HĐND tỉnh để bảo đảm nghị quyết HĐND tỉnh khi ban hành không trái với pháp luật, phù hợp với lòng dân và đi vào cuộc sống.
Bốn là, qua kết quả họp Tổ trước kỳ họp, báo cáo thẩm tra của các ban, kết quả nghiên cứu của Văn phòng, Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng tổng hợp những vấn đề còn ý kiến khác nhau giữa cơ quan trình và Thường trực HĐND, các ban HĐND và đại biểu HĐND, nêu rõ lý do, quan điểm chỉnh sửa để cung cấp cho đại biểu thảo luận thống nhất trước khi thông qua nghị quyết HĐND.

Saturday, August 20, 2011

20/08 Chuyên gia tư vấn Chính phủ về chính sách kinh tế


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại buổi làm việc. (Ảnh: Đức Tám/TTXVN)

Ngày 20/8, tại Trụ sở Chính phủ, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Thường trực Chính phủ và lãnh đạo một số bộ, ngành Trung ương đã làm việc với hơn 30 chuyên gia kinh tế, nhà khoa học trong nước để tham vấn chính sách kinh tế vĩ mô, nhất là chính sách tài chính tiền tệ trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới đang diễn biến hết sức phức tạp.



Phát biểu tại buổi làm việc, thay mặt Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao những ý kiến đóng góp thẳng thắn, trách nhiệm, tâm huyến của các chuyên gia đối với sự ổn định và phát triển kinh tế của đất nước; cho rằng, những đề xuất, giải pháp của các chuyên gia kinh tế là hết sức thiết thực trong nhận định về tình hình kinh tế thế giới và trong nước để Chính phủ xây dựng những chính sách điều hành phù hợp.

20/08 Bộ trưởng Vương Đình Huệ: ADB luôn là đối tác lớn, quan trọng và tin cậy đối với Việt Nam



(20/08/2011 11:12:00)
Ngày 19/8/2011, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ đã tiếp ông Tomoyuki Kimura - Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ  đã tiếp ông Tomoyuki Kimura - Giám đốc quốc gia ADB tại Việt NamTại buổi tiếp, Bộ trưởng Vương Đình Huệ chúc mừng ông Tomoyuki Kimura trên cương vị Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam trong nhiệm kỳ mới, Bộ trưởng đánh giá cao sự hợp tác, hỗ trợ của ADB đối với Việt Nam và Bộ Tài chính trong những năm qua.

Bộ trưởng Vương Đình Huệ  đề nghị ADB tiếp tục hỗ trợ giúp đỡ Việt Nam trong công cuộc xây dựng phát triển đất nước, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội giai đoạn 5 năm tiếp theo. Trong những năm tới nhu cầu đầu tư phát triển của Việt Nam rất lớn, vì vậy đề nghị ADB quan tâm dành nhiều nguồn vốn ưu đãi cho Việt Nam, đây cũng là yếu tố góp phần phát triển nhưng đảm bảo cả yếu tố quản lý nợ bền vững.

Sự trợ giúp của ADB đối với Bộ Tài chính trong việc triển khai chương trình Cải cách quản lý tài chính công là rất cần thiết, Bộ Tài chính mong muốn tiếp tục nhận được sự trợ giúp từ ADB cho chương trình này. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính mong nhận được sự hỗ trợ của chuyên gia ADB trong việc chia sẻ kinh nghiệm để giúp Việt Nam ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững, giảm bội chi ngân sách và giúp Bộ Tài chính nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công, xây dựng ngân sách lành mạnh…

Ông Tomoyuki Kimura chúc mừng và cảm ơn Tân Bộ trưởng Bộ Tài chính đã dành thời gian đón tiếp và có những đánh giá tích cực về vai trò của ADB đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam. Dù mới đảm nhiệm cương vị Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam được hơn 1 tháng nhưng với bề dày sự hợp tác tin cậy đã có giữa ADB và Việt Nam, ông Tomoyuki Kimura tin tưởng ADB vẫn tiếp tục là đối tác quan trọng hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Trong thời gian tới,  ADB sẽ tiếp tục hỗ trợ cho phía Việt Nam.

Ngân hàng phát triển Châu Á  (ADB) là một tổ chức tài chính quốc tế lớn và là một trong những nhà tài trợ tích cực cho Việt Nam. Các lĩnh vực tài trợ của ADB khá rộng, nhưng trong lĩnh vực chính sách ADB là nhà tài trợ có kinh nghiệm và đặc biệt hiệu quả trong hỗ trợ cải cách chính sách, thể chế thông qua các khoản vay chương trình các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, cải cách nông nghiệp, cải cách doanh nghiệp vừa và nhỏ, chương trình xoá đói giảm nghèo, giáo dục, y tế, cải cách hành chính.

MT

20/08 Gắn kết hơn với ngưỡng an toàn nợ

07:49 | 20/08/2011
Con số được quan tâm trong tuần này là khoản nợ nước ngoài 32,5 tỷ USD của nước ta tính đến cuối năm 2010, được công bố trong một bản tin chính thức của Bộ Tài chính. Tương đương 42,2% GDP năm 2010, đây là mức nợ cao nhất kể từ năm 2005 nhưng không gây bất ngờ.

Nguồn: ITN
Nợ công, trong đó có nợ nước ngoài, đã được đề cập suốt năm 2010, đặc biệt là sau sự đổ vỡ của Vinashin. Tại cả hai kỳ họp của Quốc hội Khóa XII trong năm trước, các đại biểu liên tục bày tỏ lo ngại về quy mô, tính an toàn và tài trợ nợ công, dù Chính phủ luôn khẳng định nợ công vẫn đang “nằm trong giới hạn an toàn cho phép”. Khi đó, theo báo cáo chính thức của Chính phủ gửi tới Quốc hội, tính đến 31.12.2010, dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 42,2% GDP. Bản tin nợ nước ngoài mới nhất của Bộ Tài chính cũng cho biết, tỷ lệ nợ công/GDP là 44,2%, tương đương 32,5 tỷ USD, tăng thêm gần 4,6 tỷ USD so với năm 2009. Tuy nhiên, đáng lưu ý là, lãi suất vay nợ nước ngoài của nước ta đang có xu hướng tăng lên vì 2 lý do: nước ta đã gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình nên các ưu đãi bị cắt giảm và mức tín nhiệm quốc gia ít nhiều có giảm. Một điểm nóng khác: dịch vụ nợ đang tăng nhanh trong khi dự trữ ngoại tệ giảm nhanh hơn hẳn. Chỉ trong năm 2010, dịch vụ nợ nước ngoài (trả nợ gốc, lãi, phí) là 1,67 tỷ USD, tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ USD của năm 2009 (riêng tiền lãi và phí là hơn 616 triệu USD). Trong khi đó, dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong năm 2010 chỉ còn tương đương 187% tổng dư nợ ngắn hạn, giảm mạnh so với con số 290% và 280% của các năm 2009 và 2008).
Những con số trên không gây bất ngờ. Việc vay nợ nước ngoài cũng như xu hướng tăng quy mô nợ đã diễn ra nhiều năm nay. Câu hỏi liệu Việt Nam đã tính đúng và tính đủ nợ công hay chưa, những bất cập đang tồn tại trong quản lý tài chính công sẽ được khắc phục như thế nào… dường như vẫn là nỗi băn khoăn không nhỏ.
Với nhu cầu tiếp tục đầu tư để phát triển, chắc chắn nợ công của Việt Nam sẽ còn tăng trong nhiều năm tới. Đặc biệt là khi tỷ lệ tiết kiệm nội địa/GDP ngày một giảm. Theo chuyên gia Bùi Trinh của Tổng cục Thống kê, tiết kiệm là nguồn cơ bản để tái đầu tư, nếu không đủ sẽ phải đi vay và nếu tình trạng như hiện nay (tiết kiệm chiếm trên 20% GDP trong khi đầu tư luôn chiếm trên 40% GDP) kéo dài thì việc tiếp tục đi vay là không tránh khỏi.

Nguồn: fotolial.com
Tuy nhiên, việc đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển đến mức độ nào là hợp lý cần được cân nhắc kỹ lưỡng trong tổng thể chính sách vĩ mô. Hiện nay, các chỉ tiêu nợ công, trong đó có nợ nước ngoài, theo quan điểm của Bộ Tài chính là vẫn trong tầm kiểm soát. Nhưng cũng đã từ lâu, các chuyên gia kinh tế luôn nhấn mạnh, mức độ an toàn hay nguy hiểmcủa nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP, mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của nền kinh tế. Có những nước tỷ lệ nợ quốc gia cao hơn GDP rất nhiều nhưng không đáng lo vì nền công nghiệp của họ phát triển mạnh nên được vay với lãi suất thấp, trái phiếu chính phủ được nước ngoài tìm mua. Đối với nước ta, nợ công tăng nhanh trong khi thâm hụt ngân sách cao và kéo dài nhiều năm, đầu tư lại không ngừng mở rộng đẩy cả lạm phát và lãi suất lên cao khiến cho việc tài trợ nợ công ngày càng trở nên đắt đỏ. Hiệu quả sử dụng vốn vay cũng chưa cao, chưa được quản lý giám sát chặt chẽ. Bên cạnh đó, tăng trưởng GDP chủ yếu do tăng lượng đầu tư, mà đầu tư thì không thể tăng mãi, nên đến một lúc nào đó, tốc độ tăng trưởng sẽ phải giảm. Các chuyên gia kinh tế lo ngại rằng, chính vào lúc tốc độ tăng trưởng GDP giảm cũng là lúc nhiều khoản nợ nước ngoài của Chính phủ đáo hạn.
Rõ ràng, tái cấu trúc nền kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng là giải pháp toàn diện, tác động trực tiếp đến những nguyên nhân căn bản của bất ổn kinh tế vĩ mô, nhưng cần thời gian dài hơn và những nỗ lực mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn trước mắt, cần tính toán thật cẩn thận trước khi quyết định vay nước ngoài, kể cả phát hành trái phiếu quốc tế và Chính phủ bảo lãnh cho doanh nghiệp vay nước ngoài. Cũng nên ưu tiên vay USD trong nước trước. Khi quyết định vay nước ngoài, cần tính toán chặt chẽ lãi suất vốn vay, dự báo kỹ lưỡng xu hướng biến động lãi suất. Theo PGS. TS. Trần Văn Giao (Khoa Quản lý Tài chính công, Học viện Hành chính), trong đàm phán vay vốn, tính toán chi tiết các điều khoản, cân nhắc những cam kết tránh thua thiệt, bất lợi hay những rủi ro tiềm ẩn trong các điều khoản của hiệp định, đặc biệt là chỉ định nhà thầu, nhà cung cấp thiết bị máy móc, rút vốn, các loại phí kèm theo… Quan trọng không kém là phải tính toán chính xác nhu cầu sử dụng, tiến độ giải ngân với việc vay vốn, tránh trường hợp vay vốn rồi lại đem gửi tại ngân hàng thương mại vì chưa sử dụng đến trong khi vẫn phải trả lãi cao. Nói cách khác, chủ trương huy động và sử dụng vốn cần gắn kết hơn với ngưỡng an toàn nợ. Và nữa, phải chăng, đã đến lúc không thể chậm trễ hơn trong việc ban hành Luật Đầu tư công? Bởi vì, dù chúng ta tự tin và thận trọng, nhưng có một thực tế rất rõ ràng: mức nợ nước ngoài của Việt Nam đã và đang tiếp cận giới hạn chịu đựng của nền kinh tế so với khả năng trả nợ.
Hồng Loan

20/08 Cải thiện cán cân thương mại từ FTA

08:22 | 20/08/2011
Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú, mục tiêu của đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) giai đoạn 2011 - 2020 vẫn là thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu. Các nhiệm vụ cụ thể sẽ hướng vào việc cải thiện cán cân thương mại, ứng phó với bất lợi trong quá trình tự do hóa thương mại.
Lợi thế từ FTA
Ngay khi là thành viên ASEAN năm 1995, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện giảm thuế theo Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung nhằm thiết lập Khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT/AFTA). Mặc dù vậy, theo Phó vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại Đa biên, Bộ Công thương Ts Lê Quang Lân, quá trình tham gia FTA thực sự thay đổi về chất khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nước ta đã tham gia một cách sòng phẳng hơn với động cơ chính của mọi cuộc đàm phán là lợi ích trong quan hệ thương mại và đầu tư. Với FTA, Việt Nam cũng đã chứng tỏ mình như một đối tác tin cậy. Hiện tại, đối tác FTA của ASEAN và Việt Nam đều là các quốc gia Đông Á. Đây là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất với kim ngạch khoảng 35 tỷ USD.
Cho đến nay, việc thiết lập FTA với các nền kinh tế lớn và năng động bậc nhất trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản đã mang đến nhiều cơ hội lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trên góc độ trực diện nhất, cơ hội xuất khẩu đối với các mặt hàng cụ thể trong các FTA mà Việt Nam đã tham gia là rất đáng kể. Ví dụ với Nhật Bản, 79% xuất khẩu nông sản được hưởng ưu đãi thuế 0%. Mức thuế trung bình nhờ cam kết FTA đã giảm từ 8,1% xuống 4%. Các mặt hàng có lợi nhất là rau quả tươi, cà phê, chè, thịt lợn và các sản phẩm gỗ. Hàng thủy sản có thuế suất trung bình giảm từ 5,4% xuống 1,3%. Riêng đối với các sản phẩm công nghiệp, 100% thuế suất hàng công nghiệp đã chỉ còn 0% ngay trong năm 2010. Trong đó, mặt hàng có lợi nhất là dệt may, giày dép, hóa chất, điện và điện tử.
Hiện Việt Nam đang đàm phán FTA song phương với Chi Lê; tham gia đàm phán với tư cách thành viên chính thức của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương; nằm trong chương trình đàm phán FTA ASEAN+3 (với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), ASEAN+6 (thêm ấn Độ, Australia và New Zealand) và FTA song phương với Liên bang Nga, Liên minh châu Âu.
Về dài hạn, bức tranh về lợi ích xuất khẩu thường được nhìn nhận thông qua các nhân tố tác động đến mục tiêu hình thành năng lực cạnh tranh của đất nước. Cơ sở nhận diện lợi ích xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam chính là khả năng điều chỉnh cơ cấu hàng xuất khẩu khi tham gia các FTA.
Tìm phương thức cam kết phù hợp
Trong giai đoạn 2011 - 2020, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú cho rằng, mục tiêu của đàm phán FTA vẫn là thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu. Các nhiệm vụ cụ thể sẽ hướng vào việc cải thiện cán cân thương mại, ứng phó với bất lợi trong quá trình tự do hóa thương mại.
Lợi ích của FTA không chỉ phụ thuộc vào vai trò định hướng của Nhà nước, mà quan trọng hơn chính là sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp phải chủ động tìm hiểu những cam kết thuế quan, quy tắc xuất xứ hàng hóa cũng như các quy định về vệ sinh, kiểm dịch; tận dụng triệt để những lợi thế từ các FTA đã ký kết nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Tuy nhiên, chất lượng, tính cạnh tranh của hàng hóa mới thực sự là quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Hàng hóa của Việt Nam phải tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu thì mới mong mở rộng quy mô sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Vì vậy, doanh nghiệp cần tập trung nâng chất lượng, giá trị và trách nhiệm đối với uy tín sản phẩm của mình.
Về phía Nhà nước, cần đặt ra mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của khu vực và toàn cầu và nghiên cứu các phương thức cam kết phù hợp nhất với từng đối tác khi đàm phán FTA. Thông thường là theo phương thức chọn - cho, tức là tương tự như đàm phán trong khuôn khổ WTO. Tuy nhiên, có đối tác lại muốn đàm phán theo phương thức chọn – bỏ, dựa trên các hiệp định hoặc mô hình cam kết mà họ đã ký kết với các đối tác khác. Việt Nam cần xử lý vấn đề này như thế nào cho phù hợp, linh hoạt mà vẫn bảo đảm quyền lợi của mình. Quan trọng hơn cả, phải xác định những thị trường nào thực sự tiềm năng để tiến hành đàm phán. Như vậy, cần có sự tham gia góp ý của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng cần phải xác định được thế mạnh của nước ta trong thời gian tới để thu hút các đối tác, vì thời của nhân công giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên dồi dào đã trôi qua.
Quang Nguyễn

20/08 Cải thiện cán cân thương mại từ FTA

08:22 | 20/08/2011
Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú, mục tiêu của đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) giai đoạn 2011 - 2020 vẫn là thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu. Các nhiệm vụ cụ thể sẽ hướng vào việc cải thiện cán cân thương mại, ứng phó với bất lợi trong quá trình tự do hóa thương mại.
Lợi thế từ FTA
Ngay khi là thành viên ASEAN năm 1995, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện giảm thuế theo Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung nhằm thiết lập Khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT/AFTA). Mặc dù vậy, theo Phó vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại Đa biên, Bộ Công thương Ts Lê Quang Lân, quá trình tham gia FTA thực sự thay đổi về chất khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nước ta đã tham gia một cách sòng phẳng hơn với động cơ chính của mọi cuộc đàm phán là lợi ích trong quan hệ thương mại và đầu tư. Với FTA, Việt Nam cũng đã chứng tỏ mình như một đối tác tin cậy. Hiện tại, đối tác FTA của ASEAN và Việt Nam đều là các quốc gia Đông Á. Đây là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất với kim ngạch khoảng 35 tỷ USD.
Cho đến nay, việc thiết lập FTA với các nền kinh tế lớn và năng động bậc nhất trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản đã mang đến nhiều cơ hội lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trên góc độ trực diện nhất, cơ hội xuất khẩu đối với các mặt hàng cụ thể trong các FTA mà Việt Nam đã tham gia là rất đáng kể. Ví dụ với Nhật Bản, 79% xuất khẩu nông sản được hưởng ưu đãi thuế 0%. Mức thuế trung bình nhờ cam kết FTA đã giảm từ 8,1% xuống 4%. Các mặt hàng có lợi nhất là rau quả tươi, cà phê, chè, thịt lợn và các sản phẩm gỗ. Hàng thủy sản có thuế suất trung bình giảm từ 5,4% xuống 1,3%. Riêng đối với các sản phẩm công nghiệp, 100% thuế suất hàng công nghiệp đã chỉ còn 0% ngay trong năm 2010. Trong đó, mặt hàng có lợi nhất là dệt may, giày dép, hóa chất, điện và điện tử.
Hiện Việt Nam đang đàm phán FTA song phương với Chi Lê; tham gia đàm phán với tư cách thành viên chính thức của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương; nằm trong chương trình đàm phán FTA ASEAN+3 (với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), ASEAN+6 (thêm ấn Độ, Australia và New Zealand) và FTA song phương với Liên bang Nga, Liên minh châu Âu.
Về dài hạn, bức tranh về lợi ích xuất khẩu thường được nhìn nhận thông qua các nhân tố tác động đến mục tiêu hình thành năng lực cạnh tranh của đất nước. Cơ sở nhận diện lợi ích xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam chính là khả năng điều chỉnh cơ cấu hàng xuất khẩu khi tham gia các FTA.
Tìm phương thức cam kết phù hợp
Trong giai đoạn 2011 - 2020, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú cho rằng, mục tiêu của đàm phán FTA vẫn là thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu. Các nhiệm vụ cụ thể sẽ hướng vào việc cải thiện cán cân thương mại, ứng phó với bất lợi trong quá trình tự do hóa thương mại.
Lợi ích của FTA không chỉ phụ thuộc vào vai trò định hướng của Nhà nước, mà quan trọng hơn chính là sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp phải chủ động tìm hiểu những cam kết thuế quan, quy tắc xuất xứ hàng hóa cũng như các quy định về vệ sinh, kiểm dịch; tận dụng triệt để những lợi thế từ các FTA đã ký kết nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Tuy nhiên, chất lượng, tính cạnh tranh của hàng hóa mới thực sự là quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Hàng hóa của Việt Nam phải tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu thì mới mong mở rộng quy mô sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Vì vậy, doanh nghiệp cần tập trung nâng chất lượng, giá trị và trách nhiệm đối với uy tín sản phẩm của mình.
Về phía Nhà nước, cần đặt ra mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của khu vực và toàn cầu và nghiên cứu các phương thức cam kết phù hợp nhất với từng đối tác khi đàm phán FTA. Thông thường là theo phương thức chọn - cho, tức là tương tự như đàm phán trong khuôn khổ WTO. Tuy nhiên, có đối tác lại muốn đàm phán theo phương thức chọn – bỏ, dựa trên các hiệp định hoặc mô hình cam kết mà họ đã ký kết với các đối tác khác. Việt Nam cần xử lý vấn đề này như thế nào cho phù hợp, linh hoạt mà vẫn bảo đảm quyền lợi của mình. Quan trọng hơn cả, phải xác định những thị trường nào thực sự tiềm năng để tiến hành đàm phán. Như vậy, cần có sự tham gia góp ý của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng cần phải xác định được thế mạnh của nước ta trong thời gian tới để thu hút các đối tác, vì thời của nhân công giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên dồi dào đã trôi qua.
Quang Nguyễn