Sunday, August 28, 2011

28/08 Nội hàm chiến lược phát triển hòa bình của Trung Quốc

Chủ nhật, 28 Tháng 8 2011 00:00
EmailInPDF.
Bài viết của tác giả Phạm Sao Mai*phân tích quá trình hình thành, những nội dung của chiến lược “Phát triển hòa bình” của Trung Quốc, các nhóm phương thức sẽ sử dụng và và khả năng thành công của chiến lược này.Trong quá trình trỗi dậy, Trung Quốc không mong muốn sử dụng phương thức chiến tranh nhưng ít có khả năng từ bỏ hoàn toàn phương thức sử dụng sức mạnh.

Chủ đề phát triển hòa bình tuy gần đây mới được Trung Quốc đề cập nhiều song trên thực tế không phải là vấn đề mới. Trong các học thuyết, tư tưởng triết học cổ đại và các triều đại Trung Quốc sau này đều đề cập tới nội dung phát triển và hòa bình. Tuy nhiên, nguồn gốc trực tiếp đưa đến quan điểm trỗi dậy hòa bình hoặc phát triển hòa bình như hiện nay bắt nguồn từ luận điểm của Đặng Tiểu Bình về hòa bình và phát triển trong những năm 1970. Tiếp theo, Đại hội 13 Đảng Cộng sản Trung Quốc (1987) lần đầu tiên xác định hòa bình và phát triển là chủ đề của thời đại. Luận điểm này được đề cập xuyên suốt đến Đại hội 16 (2002) nhưng là hai chủ đề riêng biệt và chưa gắn với chủ thể Trung Quốc.
Tháng 10/2003, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương Trung Quốc, giáo sư Trịnh Tất Kiên phát biểu công khai về khái niệm “trỗi dậy hòa bình" tại Diễn đàn Bác Ngao, nhấn mạnh "sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc là bộ phận trỗi dậy hòa bình của châu Á". Sau đó tháng 12/2003, Thủ tướng Ôn Gia Bảo và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào chính thức đề cập đến khái niệm "trỗi dậy hòa bình"[1]. Tuy nhiên, trước phản ứng của dư luận quốc tế và trong nước, Trung Quốc có điều chỉnh, tránh đề cập đến khái niệm "trỗi dậy hòa bình" và thay bằng "phát triển hòa bình". Tháng 4/2004, cũng tại Diễn đàn Bác Ngao, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào khẳng định Trung Quốc sẽ "kiên định đi theo con đường phát triển hòa bình". Sau đó không lâu, tại Hội nghị Hội đồng Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Thượng Hải, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tăng Khánh Hồng cũng cho rằng, Trung Quốc sẽ tiếp tục thực hiện phương châm đường lối "cải cách mở cửa, phát triển hòa bình". Từ đó đến nay, khái niệm "phát triển hòa bình" thường xuyên được sử dụng.
Tháng 12/2005, Văn phòng Báo chí Quốc Vụ viện Trung Quốc ra sách trắng "Con đường phát triển hòa bình của Trung Quốc”. Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2007 đề ra quan điểm “phát triển khoa học xây dựng xã hội hài hòa", khẳng định "Trung Quốc trước sau không thay đổi đi theo con đường phát triển hòa bình"[2]. Chiến lược phát triển hòa bình cơ bản hình thành.
Đến nay, chưa thấy quan chức và học giả Trung Quốc nêu khái niêm tổng quát về chiến lược phát triển hòa bình của Trung Quốc. Tuy nhiên, sách trắng "Con đường phát triển hòa bình của Trung Quốc" đã khái quát chiến lược phát triển hòa bình của Trung Quốc với một số hàm ý sau: “Phát triển của Trung Quốc là trên cơ sở hòa bình ổn định, đồng thời lấy sự phát triển để bảo vệ hòa bình; Trọng điểm của phát triển là nâng cao sức mạnh quốc gia; Trung Quốc phát triển không cản trở và không đe dọa ai, không xưng bá”. Từ đó, sách trắng đề cập năm nội dung cốt yếu, đó là: (i) phát triển hòa bình là con đường Trung Quốc phải trải qua; (ii) lấy sự phát triển của Trung Quốc thúc đẩy hòa bình và phát triển của thế giới; (iii) dựa vào nội lực và cải cách sáng tạo để thực hiện phát triển; (iv) thực hiện cùng có lợi, cùng thắng và cùng các nước phát triển; (v) xây dựng thế giới hài hòa, hòa bình lâu dài và cùng phồn vinh.
Trên cơ sở năm điểm này của sách trắng cùng các phát biểu của lãnh đạo và học giả Trung Quốc về trỗi dậy hòa bình, có thể rút ra một số nội dung cụ thể của khái niệm chiến lược phát triển hòa bình của Trung Quốc như sau:
Thứ nhất, không ngừng nâng cao quốc lực tổng hợp trên cơ sở đẩy mạnh phát triển kinh tế và thực hiện bốn mục tiêu hiện đại hóa.
Thứ hai, thúc đẩy cải cách chính trị, xây dựng hệ thống pháp luật tương ứng với tình hình phát triển kinh tế xã hội, tăng cường giám sát các hoạt động chấp pháp, mở rộng dân chủ cơ sở, xây dựng văn minh.
Thứ ba, xây dưng trật tự chính trị kinh tế quốc tế mới, cụ thể là: (i) về chính trị, các nước không được áp đặt ý chí cho Trung Quốc; (ii) về kinh tế, thúc đẩy hợp tác cùng phát triển để giảm chênh lệch giàu nghèo; (iii) về văn hóa, tôn trọng sự đa dạng của các nền văn minh; (iv) về an ninh, tạo dựng quan niệm an ninh mới tin cậy, bình đẳng và cùng có lợi; (v) về cơ chế, tăng cường vai trò của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế, khu vực khác.
Trung Quốc nhấn mạnh chủ trương thay đổi và phát triển trật tự quốc tế hiện nay bằng biện pháp hòa bình, phản đối giải quyết vấn đề bằng bạo lực và xung đột bạo lực, tích cực tham gia xây dựng các thể chế quốc tế, nâng cao khả năng đề xuất sáng kiến xây dựng thể chế quốc tế, chủ động đưa ra ý tưởng về trật tự thế giới trong tương lai, bao gồm trật tự an ninh quốc tế, thương mại quốc tế và tài chính tiền tệ, duy trì hiệu quả và thúc đẩy hơn nữa ý tưởng về thể chế hóa hòa bình quốc tế, thúc đẩy phát triển văn minh và dân chủ chính trị quốc tế[3] theo hướng ngày càng có lợi cho Trung Quốc.
Thứ tư xây dựng tư duy quan điểm an ninh mới, trong đó nhấn mạnh an ninh và phát triển của Trung Quốc không thể tách rời hòa bình, an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trung Quốc cùng các nước châu Á - Thái Bình Dương xây dựng môi trường an ninh khu vực lành mạnh, ổn định. Quan điểm an ninh mới của Trung Quốc sẽ giảm bớt tư duy ý thức hệ, tăng cường thực hiện an ninh tổng hợp. Một số học giả Trung Quốc cho rằng sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, sự xuất hiện và tác động lẫn nhau của những mô hình mới về quan hệ an ninh chứng tỏ tu duy Chiến tranh lạnh đang giảm dần và quan điểm về an ninh mới phát huy vai trò ngày càng lớn hơn[4].
Thứ năm, thực thi chiến lược đối ngoại trên quan điểm lợi ích mới,tránh định kiến chính trị, sai lệch chính trị; thúc đẩy giao lưu giữa các nền văn minh, chế độ chính trị; chống áp đặt quan niệm giá trị và thể chế chính trị. Đặc biệt cần có tầm nhìn lâu dài và sâu rộng hơn về lợi ích quốc gia trong mối quan hệ với lợi ích của thế giới.
Thứ sáu xây dựng hình ảnh nước lớn có trách nhiệm, tham gia sâu vào các cơ chế kinh tế và chính trị quốc tế và việc giải quyết những vấn đề lớn của quốc tế. Việc tạo dựng hình ảnh nước lớn có trách nhiệm sẽ giúp gạt bỏ những nghi ngờ của các nước về vai trò của Trung Quốc đối với hòa bình, an ninh cũng như các vấn đề khu vực
Từ đó có thể khẳng định mục tiêu xuyên suốt trong phát triển của Trung Quốc là đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới và xác lập vai trò nước lớn của Trung Quốc ở châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới. Hai mục tiêu này gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau. Đây là nhân tố bất biến trong chiến lược phát triển của Trung Quốc. Nhằm thực hiện các mục tiêu nêu trên, Trung Quốc sẽ tiến hành đồng bộ các nhóm giải pháp cả về chính trị, kinh tế, quân sự và đối ngoại như sau:
(i) Nhóm biện pháp về chính trị
- Tích cực xây dựng mô hình phát triển đặc sắc Trung Quốc trên ba mặt sau:
Nhìn từ góc độ và ý nghĩa của chủ nghĩa xã hội, mô hình Trung Quốc phải giải quyết các vấn đề mà mô hình Liên Xô không thể giải quyết được.
Nhìn từ góc độ phát triển của văn minh nhân loại, phải giải quyết vấn đề mà mô hình phương Tây, đặc biệt là mô hình Mỹ không thể giải quyết ví dụ như những vấn đề nghiêm trọng phát sinh từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, vấn đề chủ nghĩa bá quyền trong quan hệ quốc tế.
Phải giải quyết các vấn đề then chốt làm ảnh hưởng đến sự phát triển của Trung Quốc, ví dụ như vấn đề chênh lệch thu nhập quá lớn, vấn đề tham nhũng; đồng thời có khả năng giải quyết hiệu quả những mâu thuẫn mang tính toàn cầu.
- Xây dựng thể chế chính trị mới phù hợp với trình độ phát triển của Trung Quốc. Nhiều học giả cho rằng thể chế chính trị của Trung Quốc trong tương lai có thể là "sự pha trộn giữa văn hóa truyền thống (đặc biệt là tư tưởng Nho giáo), chủ nghĩa cộng sản và văn hóa phương Tây"[5]. Vận hành của hệ thống chính trị của Trung Quốc không dựa vào tranh luận chính sách giữa các đảng đối lập mà là tầng lớp lãnh đạo thông qua việc tập hợp ý kiến từ dưới lên để định ra một cương lĩnh chính thể, đồng thời quần chúng nhân dân có thể tham chính, nghị chính để đạt được sự thống nhất ý kiến từ dưới lên trên và từ trên xuống dưới[6].
(ii) Nhóm biện pháp về kinh tế
- Tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng ở mức độ cao, rút ngắn khoảng cách sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc so với Mỹ, trở thành cường quốc có năng lực chủ đạo trên cơ sở sức mạnh tổng hợp hùng mạnh, trong đó: đứng đầu thế giới về GDP, đứng đầu thế giới về tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, đứng hàng đầu thế giới về thực lực khoa học - công nghệ, trở thành nước lớn về ứng dụng kỹ thuật, chiếm vị trí hàng đầu trong một số lĩnh vực khoa học quan trọng.
- Nâng sức cạnh tranh quốc tế lên vị trí đứng đầu thế giới, chiếm giữ lợi thế trong tình hình thế giới có biến động lớn, cạnh tranh gay gắt, nhất là trên bốn lĩnh vực tài chính, cơ sở hạ tầng; khoa học - công nghệ và giáo dục.
- Duy trì phát triển bền vững về kinh tế, nâng cao mức thu nhập bình quân đầu người, cải thiện chỉ số phát triển con người, chất lượng đời sống vật chất, an ninh con người và môi trường sinh thái.
Để thực hiện các biện pháp lớn về kinh tế trên đây, trước mắt Trung Quốc cần: Tiếp tục đẩy mạnh các bước đi cải cách kinh tế, phát triển hài hòa, qua đó duy trì kinh tế Trung Quốc tiếp tục phát triển nhanh, bền vững trong một thời gian dài; Đẩy nhanh sự chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế theo hướng kích thích nội nhu, dựa vào nội nhu để thúc đẩy phát triển; Đồng thời giải quyết tốt vấn đề thiếu hụt tài nguyên, đất đai và lương thực và tìm tòi đường phát triển liên tục; Tiếp tục tranh thủ vốn, công nghệ cao của nước ngoài; Xây dựng chiến lược kinh tế đối ngoại hoàn chỉnh, tích cực triển khai "Chiến lược đi ra ngoài ', kết hợp mở rộng đầu tư, hỗ trợ vốn tại các thị trường bên ngoài, vừa đa dạng hóa nguồn lợi nhuận, vừa.mở rộng ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc tại các khu vực; Không ngừng nâng cao năng lực phát triển quốc gia phù hợp với các đòi hỏi của quốc tế.
(iii) Nhóm biện pháp quân sự
- Đẩy nhanh tiến độ hiện đại hóa quốc phòng, không ngừng nâng cao sức mạnh để đưa Trung Quốc trở thành cường quốc về quân sự. Đây là một trong những biện pháp chiến lược luôn được Trung Quốc đề cao. Theo quan điểm của một số học giả Trung Quốc, Trung Quốc không nhất thiết sử dụng biện pháp quân sự trong quá trình phát triển, nhưng cần phải có sức mạnh răn đe cần thiết và cần phát triển sức mạnh quân sự. Có quan điểm cho rằng Trung Quốc muốn "trỗi dậy hòa bình" thì phải "trỗi đậy về quân sự"; sự trỗi dậy về kinh tế mà không có trỗi dậy về quân sự là sự trỗi dậy nguy hiểm bởi vì nó sẽ khiến cho một dân tộc trở thành dân tộc kinh tế". Do vậy, sự trỗi dậy của Trung Quốc cần có sự thống nhất giữa "phú quốc" với "cường binh"[7]. Theo đó, chi phí quốc phòng Trung Quốc sẽ tiếp tục được nâng cao, có thể sau này sẽ chiếm khoảng 2 - 2,5% GDP.
- Bảo vệ các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc như vấn đề Đài Loan, Tây Tạng; tăng cường các biện pháp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên biển; thúc đẩy hòa giải tiến tới thực hiện thống nhất hòa bình Đài Loan tuy nhiên không từ bỏ khả năng sử dụng vũ lực trong trường hợp cần thiết.
- Từng bước chuyển trọng tâm chiến lược từ "phòng ngự lãnh thổ” sang “bảo vệ lợi ích”; cơ cấu lực lượng quân sự từ “đại lục quân” chuyển sang nhất thể hóa hải quân – không quân – vũ trụ - tin học. Về xây dựng năng lực tác chiến, chuyển từ “lấy thực chiến làm chính” sang “lấy răn đe làm chính”, xây dựng lực lượng quân đội hung mạnh tương xứng với địa vị quốc tế của Trung Quốc, có khả năng bảo đảm hiệu quả an ninh quân sự[8].
(iv) Nhóm biện pháp đối ngoại
-Xây dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ tương đối ổn định với các nước lớn chủ yếu trên thế giới, đặc biệt là Mỹ trên mặt trận chiến lược, ngoại giao, kinh tế, đồng thời mở rộng không gian an ninh và phát triển của Trung Quốc, tăng nhanh ảnh hưởng đối với thế giới thứ ba.
- Chủ động tham dự các thể chế an ninh đa biên và hợp tác kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương; tích cực tham gia các tổ chức quốc tế, nhất là trong việc quyết định những vấn đề lớn của thế giới; tích cực phát huy tác dụng của tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế bảo vệ hòa bình và phát triển của thế giới.
- Xử lý tốt mối quan hệ giữa "giấu mình chờ thời" và "làm nên sự nghiệp”
- Phát triển chiến lược văn hóa, xây dựng chiến lược văn hóa đối ngoại, tạo ra sức ảnh hưởng to lớn của nền văn hóa Trung Quốc trên thế giới.
Về phương thức trỗi dậy của Trung Quốc, các nhà chính trị và học giả thế giới có nhiều cách nhìn nhận khác nhau, trong đó có một số dự báo đáng chú ý:
- Loại ý kiến thứ nhất cho rằng Trung Quốc có thể không dùng đến biện pháp chiến tranh như các nước đế quốc trước đây, nhưng biện pháp sử dụng sức mạnh cứng để vươn lên là không thể tránh khỏi.
- Loại ý kiến thứ hai cho rằng Trung Quốc không thể thoát khỏi phương thức trỗi dậy của một số nước trước đây, có thể dùng biện pháp chiến tranh để phân chia lại phạm vi ảnh hưởng, thị trường hoặc để xây dựng một trật tự thế giới mới phục vụ cho lợi ích quốc gia của Trung Quốc.
- Loại ý kiến thứ ba cho rằng cách thức Trung Quốc trỗi dậy sẽ có sự pha trộn giữa phương thức truyền thống của các đế chế Trung Hoa trước đây và mô hình trỗi dậy của Mỹ, trong đó việc quyết định phương thức nào sẽ phụ thuộc vào mục tiêu của từng giai đoạn phát triển[9].
Điểm đáng chú ý là trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự lệ thuộc và đan xen lợi ích giữa các nước ngày càng lớn, đồng thời từ kinh nghiệm thành công và thất bại của một số mô hình trỗi dậy các nước cũng như các bài học về an bang trị quốc của các triều đại phong kiến Trung Quốc trước đây, có thể khẳng định Trung Quốc sẽ rất linh hoạt trong việc xác định phương thức trỗi dậy. Sự trỗi dậy của Trung Quốc có nhiều điểm khác biệt với các nước trước đây, rất khó nhận định, thể hiện ở bốn điểm sau:
Một tà, Trung Quốc đang cố gắng tạo ra một hình ảnh "trỗi dậy lương thiện", rất khó để các nước định tính cho Trung Quốc. Đến các thế lực chính trị bảo thủ nhất ở Mỹ cũng khó định nghĩa một cách đơn giản Trung Quốc là kẻ thù của Mỹ. Tổng thống Bush từng nói: "Quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc là mối quan hệ song phương phức tạp nhất, là mối quan hệ không phải bạn cũng không phải thù, lại vừa là bạn vừa là thù[10]. Kissinger cũng cho rằng "chúng ta không có kẻ thù vĩnh viễn, chúng ta phân loại các quốc gia dựa vào hành động của họ chứ không phải là ý thức hệ, đặc biệt là với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”[11].
Hai là, Trung Quốc kiên trì "trỗi dậy mềm". Trong cuốn "Chiến lược cường quốc của Trung Quốc”, Trưởng ban nghiên cứu Đông Á, Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật Bản cho rằng, điều mà Trung Quốc cảnh giác nhất là sự va chạm với Mỹ, vì thế họ phải tăng cường mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế, các vấn đề như an ninh Đông Á, vấn đề Đài Loan để tránh đối kháng trực tiếp[12]. Về mặt chiến lược, Trung Quốc nhấn mạnh chủ nghĩa phối hợp, chủ nghĩa đa phương, hợp tác khu vực, tạo dựng môi trường bên ngoài có lợi, xây dựng cơ chế tồn tại cùng phụ thuộc, hợp tác dưới khẩu hiệu các bên cùng thắng. Nói cách khác, đây là sách lược "lấy nhu thắng cương" để tránh sự phản công của Mỹ.
Ba là, Trưng Quốc cố gắng "trỗi dậy trong hệ thống", rất khó để phản đối. Trung Quốc đã hội nhập với thế giới, đi vào quỹ đạo quốc tế, phát triển trong cùng một hệ thống với Mỹ, trỗi dậy trên cùng một vũ đài chứ không phải là tự lập một hệ thống riêng, như vậy vừa không phải mất chi phí thiết lập một hệ thống, vừa tiết kiệm được phí bảo vệ thể chế đó, không phải gánh chịu rủi ro vì phải thách thức với thế giới, đối kháng với hệ thống thế giới.
Trong điện mật của Đại sứ quán Mỹ tại Xinh-ga-po do mạng Wikileaks tiết lộ gần đây, ngày 30/5/2009, Cựu Thủ tướng Xinh-ga-po Lý Quang Diệu nói với Thứ trưởng ngoại giao Mỹ Steinberg: "Trung Quốc đang đi theo con đường giống như trong bộ phim truyền hình nhiều tập "Sự hưng thịnh của các cường quốc" đang phát trên truyền hình Trung Quốc. Người Trung Quốc... đã tránh được sai lầm mà Đức và Nhật Bản mắc phải là dám thách thức với trật tự thế giới đang tồn tại"[13].
Bốn là, Trung Quốc tiến hành "trỗi dậy cùng có lợi", trói chặt lợi ích của Mỹ và phương Tây. Sự gắn kết về lợi ích sẽ làm cho quan hệ giữa Trung Quốc và phương Tây hoặc cùng phồn vinh, hoặc cùng thương vong, khiến Mỹ và phương Tây khó gây lổn hại đến Trung Quốc. Ở một ý nghĩa nhất định, sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng mang lại lợi ích cho Mỹ và các nước phương Tây khác, nhất là trong kinh tế và trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu.
Tóm lại, xét các nguồn lực của Trung Quốc hiện nay cũng như tiềm năng phát triển của Trung Quốc trong tương lai, có thể thấy nước này có đủ khả năng để thực hiện mục tiêu trỗi dậy. Xét tương quan so sánh lực lượng trên thế giới hiện nay, ngoài Trung Quốc, chưa có nước nào có khả năng trở thành siêu cường sánh ngang Mỹ. Các nhận định đánh giá của cộng đồng quốc tế về tương lai phát triển của Trung Quốc rất đa dạng, thậm chí đối lập nhau, nhưng xu thế chung là ngày càng có nhiều dự báo về sự trỗi dậy của Trung Quốc trong tương lai. Có thể trong quá trình trỗi dậy, Trung Quốc không mong muốn sử dụng phương thức chiến tranh như các nước đế quốc trước đây nhưng ít có khả năng từ bỏ hoàn toàn phương thức sử dụng sức mạnh. Sự trỗi dậy của Trung Quốc vừa tạo ra cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với thế giới và khu vực. Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa những cơ hội và thách thức này. Cách hành xử của cộng đồng quốc tế, trước hết là Mỹ, phương Tây và các nước châu Á, là nhân tố quan trọng tác động tới phương thức trỗi dậy của Trung Quốc. Cần có cách nhìn biện chứng, khách quan để tác động tích cực tới quá trình trỗi dậy này./.
Phạm Sao Mai
Bài viết được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Học viện Ngoại giao, số 1 (84), 3/2011: 63 - 74


* Vụ Đông Bắc Á, Bộ Ngoại giao. Những quan điểm được nêu ra trong bài viết này là quan điểm riêng của tác giả.
[1] Tháng 12/2003, trong bài phát biểu tại Đại học Havard, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã đề cập "Trung Quốc ngày nay là một nước lớn cải cách mở cửa và trỗi dậy hòa bình". Cũng trong tháng 12/2003, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cầm Đào trong phát biểu tại tọa đàm kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Mao Trạch Đông đã nhấn mạnh “Trung Quốc phải kiên trì đường lối phát triển trỗi dậy hòa bình".
[2] Đảng Cộng sản Trung Quốc, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 17.
[3] Vương Phàm, “Chiến lược nước lớn hòa bình của Trung Quốc”, Tạp chí Đương đại, ngày 17/3/2010
[4] Giang Tây Nguyên – Hạ Lập Bình, Trung Quốc trỗi dậy hòa bình, Quyển 1, 2007, tr.435
[5] Xem Tạp chí Issues & Study, số 15/2009.
[6] Olded Shenkar, Thế kỷ 21 Thế kỷ của Trung Quốc, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2008, tr. 87.
[7] Lưu Minh Phúc, Trung Quốc mộng, sđd, tr. 212.
[8] Huang Yingxu – Wang Donghua, “Nhìn lại quết sách cường quân vệ quốc của Trung Quốc mới:, Liêu Vọng, số 31, 2009, tr.34.
[9] Tạp chí Issues Study, số 4/2009.
[10] Tạp chí Tri thức thế giới, số 11/2008.
[11] Tạp chi Tân Hoa Văn Trích số 9/2008.
[12] Tạp chi Gaiko Forum, số 3/2009.
[13] Tài liệu Vụ Chính sách đối ngoại, Bộ Ngoại giao, ngày 21/2/2010.

Saturday, August 27, 2011

27/08 Đố vui VIET SU (RAT HAY VA GIA TRI __DUNG DELETE )

Date: Thursday, August 25, 2011, 6:50 PM 

"Đố Vui Việt Sử" là một tập thơ lục bát gồm có một trăm câu đố về lịch sử và văn học sử Việt Nam đề ra bởi luật sư Đào Hữu Dương và hai trăm câu thơ trả lời của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh.

Dụng ý của hai tác giả là dùng một thể thơ thật nhẹ nhàng và hấp dẫn để nhắc nhở các thanh thiếu niên ôn lại những trang sử Việt Nam và nuôi dưỡng tinh thần nhớ nước, thương nòi ở nơi đất khách. Tập thơ in ra lần đầu ở San Diego, vào năm 1985, đã được gửi tặng các trường dậy Việt ngữ. Cuốn sách này cũng được Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang ở San Jose, CA in lại để làm tài liệu dậy tiếng Việt.

Chúng tôi in lại ở đây như là một tài liệu giáo dục quý giá cho thế hệ trẻ
******************************************************

Câu hỏi của Đào Hữu Dương  

 1. Vua nào mặt sắt đen sì?
2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa?
3. Tướng nào bẻ gậy phò vua?
4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông?
5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng?
6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang?
7. Kiếm ai trả lại rùa vàng?
8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào?
9. Còn ai đổi mặc hoàng bào?
10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai?
11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài?
12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương?
13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương?
14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha?
15. Anh hùng đại thắng Đống Đa?
16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày?
17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây?
18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình?
19. Vua Bà lừng lẫy uy danh?
20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm cờ?
21. Vua nào nguyên-súy hội thơ?
22. Hùng-Vương quốc-tổ đền thờ ở đâu?
23. Đại vương bẻ gẫy sừng trâu?
24. Rừng Lam khởi nghĩa áo nâu anh hùng?
25. Hại dân bán nước tên Cung?
26. Đục chìm thuyền địch dưới sông Bạch-Đằng?
27. Lý triều nổi tiếng cao tăng?
28. Bình-Ngô ai soạn bản văn lưu truyền?
29. Mười ba liệt sĩ thành Yên?
30. Bỏ quan treo ấn tu tiên thủa nào?
31. Ai sinh trăm trứng đồng bào?
32. Bình-Khôi chức hiệu được trao cho người?
33. Tây-Sơn có nữ tướng tài?
34. Cần-vương chống Pháp bị đầy xứ xa?
35. Tổ ngành hát bội nước ta?
36.. Khúc ngâm Chinh-Phụ ai là tác nhân?
37. Vua nào sát hại công thần?
38. Nhà văn viết truyện Tố-Tâm trữ tình?
39. Thái-Nguyên chống Pháp dấy binh?
40. Hà-Ninh tổng đốc vị thành vong thân?
41. Vua nào mở nghiệp nhà Trần?
42. Nêu gương hiếu tử diễn âm lưu truyền?
43. Công lao văn học Nguyễn-Thuyên?
44. Lừng danh duyên hải Dinh-Điền là ai?
45. Nhà thơ sông Vị, biệt tài?
46. Vua nào chống Pháp bị đầy đảo xa?
47. Ngày nào kỷ niệm Đống Đa?
48. Biên thùy tiễn biệt lời cha dặn dò?
49. Mê-Linh xây dựng cơ đồ?
50. Bến Hàm-Tử bắt quân thù xâm lăng?
51. Húy danh Hoàng-Đế Gia-Long?
52. Tướng nào hương khói Lăng-Ông thủa giờ?
53. Rồng thiêng kết nghĩa Âu-Cơ?
54.. Thánh Trần nay có bàn thờ ở đâu?
55. Đời nào có chức Lạc-Hầu?
56. Tướng Châu-Văn-Tiếp, ở đâu bỏ mình?
57. Danh nho thường gọi Trạng Trình?
58. Cha con cùng quyết hy sinh với thành?
59. Đầm Dạ-Trạch nức uy danh?
60. Sớ dâng chém nịnh không thành, từ quan?
61. Công thần vì rắn thác oan?
62. Ai mời bô lão dự bàn chiến chinh?
63. Vua nào dòng dõi Đế-Minh?
64.. Vĩnh-Long thất thủ, liều mình tiết trung?
65. Ngày nào trẩy hội Đền Hùng?
66. Ngày nào sông Hát, nhị Trưng trẫm mình?
67. Núi nào ngự trị Sơn-Tinh?
68. Sông nào ghép lại bút danh thi hào?
69. Gốc nguồn hai chữ đồng bào?
70. Bôn ba tổ chức phong trào Đông du?
71. Hùm Thiêng trấn đóng chiến khu?
72. Vua nào thành lập Hội Thơ Tao-Đàn?
73. Dẹp Thanh giữ vững giang san?
74. Thiết triều nằm lả khiến tàn nghiệp Lê?
75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề?
76. Mười năm kháng chiến chẳng nề gian lao?
77. Móng rùa thần tặng vua nào?
78. Bình Chiêm, Dẹp Tống, Lý trào nổi danh?
79. Dâng vua sách lược "Trị-Bình"?
80. Trạng nguyên tướng xấu ví mình hoa sen?
81. Người Tàu dựng đất Hà-Tiên?
82. Họ Lương chống Pháp, Thái-Nguyên bỏ mình?
83. Quy-Nhơn thất thủ, quyên sinh?
84. Lê Triều sử ký soạn thành họ Ngô?
85. Công thần mà bị quật mồ?
86. "Vân-Tiên" tác giả lòa mù là ai?
87. Đại-Từ nổi tiếng tú tài?
88. Đem nghề in sách miệt mài dạy dân?
89. Dâng vua cải cách điều trần?
90. Sánh duyên công chúa Ngọc-Hân, vua nào?
91. Thi nhân nổi loạn họ Cao?
92. Xây thành đắp lũy, họ Đào là ai?
93. Họ Phan lãnh ấn khâm sai?
94. Phòng khuya vọng tiếng thuyền chài tương tư?
95. Đông y lừng tiếng danh sư?
96. Lời thề diệt địch trên bờ Hóa-Giang?
97. Vân-Đồn ai thắng danh vang?
98. Am mây ẩn dật chẳng màng lợi danh?
99. Mùa xuân nào phá quân Thanh?
100. Bao giờ trở lại thanh bình Việt Nam? 


Giải đáp của Nguyễn Xuân Vinh 
Trước đèn đọc sách Đào quân:
"Đố Vui Việt Sử", gieo vần họa thơ.
Duyên văn tao ngộ từ xưa,
Nặng lòng đất nước, bây giờ luyện thi. 

1. Vua nào mặt sắt đen sì ?
Tướng Mai-Hắc-Đế, sử ghi chống Đường. 

2. Quét chùa mà tướng đế-vương,
Lý-Công, tên Uẩn, xuất đường lên ngôi. 

3. Phò vua, chống giặc cõi ngoài,
Đức Trần-Hưng-Đạo dẹp suôi hận lòng. 

4. Bút thần đâu sợ Vương-Thông,
Thù cha, Nguyễn-Trãi có công dựng triều. 

5. Gậy thần, ngựa sắt cao siêu,
Thiên-Vương Phù-Đổng một chiều thét vang. 

6. Voi lầy, nhỏ lệ Hóa-Giang,
Đại-Vương Hưng-Đạo quyết đường dẹp Nguyên. 

7. Kiếm thần, lập quốc, báo đền,
Vua  trả lại rùa thiêng trên hồ. 

8. Vũ-Quang, chống Pháp lập đô,
Súng do Cao-Thắng, phất cờ cụ Phan. 

9. Lê-Lai đổi mặc áo vàng,
Để vua Lê-Lợi thoát vòng gian lao. 

10. Triệu, Trưng kể lại biết bao
Nữ nhi sánh với anh hào kém chi 

11. Ngang tàng cung, kiếm, cầm, thi,
Ông Cao-Bá-Quát sá gì phân thây! 

12. Thoát-Hoan, Vạn-Kiếp sa lầy,
Ống đồng chui rúc, từ đây kéo về. 

13. Nước Nam, làm quỷ ai thề ?
Tướng Trần-Bình-Trọng chẳng nề Bắc-Vương. 

14. Lông ngan làm chước dẫn đường,
Mỵ-Châu, Trọng-Thủy còn vương hận lòng. 

15. Đống-Đa thây giặc điệp-trùng,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ anh hùng phương Nam. 

16. Họ Phan có cụ  Sào-Nam,
Bôn ba khởi xướng, luận bàn Đông-Du. 

17. Nguyễn-Vương giữ vững cơ đồ,
Lũy xây Trường-Dục, Duy-Từ có công. 

18. Nguyễn-Du tạm lánh sơn trung,
Truyện Kiều thi phẩm, anh hùng nổi danh. 

19. Triệu-Bà Lệ-Hải Tài-Trinh,
Ngàn năm dân Việt tôn vinh, phụng thờ. 

20. Mục đồng tập trận ấu thơ,
Tiên-Hoàng Bộ-Lĩnh phất cờ bông lau. 

21. Thánh-Tôn, nguyên súy, công hầu,
Tao-Đàn lập hội, lựa câu họa vần. 

22. Đền Hùng, hương khói phong vân,
Lâm-Thao là chốn nhân dân hướng chầu. 

23. Phùng-Hưng bẻ gẫy sừng trâu,
Tôn thờ Bố-Cái, sức đâu hơn người. 

24. Lam-Sơn áo vải, lòng trời,
Vua  khởi nghĩa, muôn đời ghi công. 

25. Họ Hồ chính Nguyễn-Sinh-Cung,
Liên-Sô dâng nước, khốn cùng nhân dân. 

26. Yết-Kiêu, Dã-Tượng sả thân,
Đục chìm thuyền địch, mấy lần Đằng-Giang. 

27. Lý-Triều Vạn-Hạnh cao tăng,
Cùng Từ-Đạo-Hạnh tiếng vang pháp thiền. 

28. Bình-Ngô Đại-Cáo sách tuyên,
Văn tài  Nguyễn-Trãi lưu truyền mai sau. 

29. Thành Yên, liệt sĩ rơi đầu,
Vang danh Thái-Học, lưu sầu Quốc-Dân. 

30. Tiên-Du, treo ấn từ quan,
Giáng-Hương, Từ-Thức theo nàng lên tiên. 

31. Âu cơ, trăm trứng nở truyền,
Ngàn năm Hồng Lạc, con Tiên, cháu Rồng. 

32. Bình-Khôi, chức hiệu Nguyên-Nhung,
Lệnh Bà Trưng Nhị được phong tướng tài. 

33. Tây-Sơn lẫm liệt thần oai,
Quần thoa ai sánh tướng Bùi-Thị-Xuân

34. Cần-Vương vì nước gian truân,
Vua Hàm-Nghi trải tấm thân lưu đầy. 

35. Lập ngành Hát Bộ từ đây,
Tổ-sư Đào-Tấn, bậc thầy xướng ca. 

36. Đoàn thư, Chinh-Phụ dịch ra,
Trần-Côn trước tác khúc ca ngậm ngùi. 

37. Gia-Long từ độ lên ngôi,
Công thần giết hại, nhiều người thác oan. 

38. Tố-Tâm, tác giả Song-An,
Chữ Hoàng-Ngọc-Phách, lời than tự tình. 

39. Thái-Nguyên chống Pháp, dấy binh,
Lưu danh Đội Cấn, gây tình quốc gia. 

40. Pháp quân tiến đánh thành Hà.
Tuẫn trung, Hoàng-Diệu, Chính-Ca một thời. 

41. Chiêu-Hoàng nhà Lý truyền ngôi
Cho chồng Trần-Cảnh nối đời làm vua. 

42. Diễn âm gương hiếu ngày xưa,
Ghi công Văn-Phức, vốn thừa  gia. 

43. Hán văn chuyển tiếng nước nhà.
Thơ Nôm, Đường luật chính là Nguyễn-Thuyên

44. Kim-Sơn, Tiền-Hải, dinh điền,
Uy danh Công-Trứ, tiếng truyền đời sau. 

45. Tú Xương, sông Vị, không giầu,
Tiếng thơ cao ngạo, ai rầu mặc ai. 

46. Duy-Tân vì nước rời ngai,
Thực dân uy hiếp đưa ngài đảo xa. 

47. Mồng Năm kỷ niệm Đống-Đa,
Tháng Giêng chiến thắng, hùng ca Ngọc-Hồi. 

48. Tiễn cha, Nguyễn-Trãi nhớ lời
Phi-Khanh còn vẳng núi đồi Nam-Quan. 

49. Bà Trưng khôi phục giang san,
Mê-Linh khởi nghĩa, dẹp tan quân thù. 

50. Danh Trần-Quang-Khải ngàn thu,
Chương-Dương cướp giáo, bắt tù Hàm-Quan. 

51. Nguyễn-Triều, khởi sự gian nan,
Bôn ba Phúc-Ánh, Bắc Nam hợp lòng. 

52. Tả-Quân, thờ phụng Lăng-Ông,
Tướng Lê-Văn-Duyệt có công phá thành. 

53. Âu-Cơ, tiên nữ giáng trần,
Hợp duyên cùng Lạc-Long-Quân giống Rồng. 

54. Đức Trần-Hưng-Đạo phá Mông,
Đền thờ Kiếp-Bạc, tôn sùng khói hương. 

55. Ngàn năm thời đại Hùng-Vương,
Lạc-Hầu, Lạc-Tướng, chức thường gọi quan. 

56. Tướng Châu-Văn-Tiếp thân tàn,
Vĩnh-Long, Mang-Thít đầu hàng Tây-Sơn ! 

57. Trạng Trình phong tước Quốc-Công,
Bỉnh-Khiêm họ Nguyễn, vốn dòng Cổ-Am. 

58. Hùm thiêng sớm đã về âm,
Tri-Phương cùng với Nguyễn-Lâm giữ thành. 

59. Chống Lương, Dạ-Trạch uy danh,
Triệu-Vương, Quang-Phục hiển vinh một thời. 

60. Chu hiền xin chém bẩy người,
Vua nghe kẻ nịnh, ông rời chức quan. 

61. Vì tay Thị Lộ thác oan,
Công thần Nguyễn-Trãi gia toàn chu di. 

62. Diên-Hồng quyết chiến còn ghi,
Đời Trần bô lão kém gì tráng sinh. 

63. Tổ Hùng tên hiệu Đế Minh,
Dương-Vương Lộc-Tục, con mình phong vua. 

64. Vĩnh-Long chống Pháp đành thua,
Ông Phan-Thanh-Giản, ơn vua tuẫn người. 

65. Dù ai buôn bán ngược xuôi,
Đền Hùng trẩy hội mồng Mười tháng Ba

66. Hàng năm kỷ niệm Hai Bà,
Tháng Hai, mồng Sáu trầm hà Hát-Giang. 

67. Tản-Viên che phủ mây vàng,
Sơn-Tinh chuyện cũ đưa nàng lên cao. 

68. Tản-Đà, bút hiệu thi hào,
Núi sông hai chữ ghép vào thành tên. 

69. Cùng trong một bọc Rồng Tiên,
Trứng trăm con nở, nối truyền đời ta. 

70. Đông-Du cách mạng sơn hà,
Bội Châu lừng lẫy tiếng nhà họ Phan

71. Hùm thiêng Yên-Thế họ Hoàng,
Nổi danh Hoa-Thám giữ vùng chiến khu. 

72. Đời  bình trị thiên thu,
Thánh-Tôn mới lập hội thơ Tao-Đàn. 

73. Thăng-Long giữ vững giang san,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ đánh tàn quân Thanh. 

74. Ngọa triều, tửu sắc liệt mình,
Uổng cho Long-Đĩnh tan tành nghiệp ê

75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề,
Thánh Trần không thắng không về tới sông. 

76. Mười năm kháng chiến thành công,
Ơn vua Lê-Lợi, non sông phục hồi. 

77. Kim-Quy chuyện móng ngàn đời,
An-Dương-Vương được Rùa trời ban giao. 

78. Bình Chiêm, dẹp Tống, Lý hào,
Câu thơ Thường-Kiệt: Nam trào, Nam cư. 

79. Đời Lê, Lương đống tâm tư,
Đắc Bằng, quốc sách dâng thư trị bình. 

80. Trạng nguyên họ Mạc thấp mình,
Đĩnh Chi thảo phú ví tình hoa sen. 

81. Hà-Tiên Nam Việt cuối miền,
Nhờ tay Mạc-Cửu dựng nên mật trù. 

82. Thái-Nguyên chống Pháp, giặc thù,
Ông Lương-Ngọc-Quyến thiên thu tuyệt mình. 

83. Quy-Nhơn, Võ-Tánh quyên sinh,
Đài cao đốt lửa, chiếm thành Tây-Sơn. 

84. Sĩ-Liên, Sử-Ký Đại-Toàn,
Triều Lê soạn thảo, danh thần họ Ngô

85. Nguyễn phò, gây dựng cơ đồ,
Tướng Lê-Văn-Duyệt, quật mồ thảm thay. 

86. Vân-Tiên, tác giả ai hay ?
Cụ đồ Đình-Chiểu, xưa nay mù lòa. 

87. Đại-Từ, cách mạng sơn hà,
Hải-Thần, cụ Nguyễn bôn ba nước ngoài. 

88. Thám-Hoa Nhữ-Học, thiên tài,
Học nghề in sách miệt mài dạy dân. 

89. Tâu vua, Trường-Tộ điều trần,
Tiếc thay Tự-Đức canh tân không màng. 

90. Ngọc-Hân tài sắc vẹn toàn,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ điện vàng sánh duyên. 

91. Văn tài  Bá-Quát vô tiền,
Quốc-Oai treo ấn, cự thiên, kháng đình. 

92. Lũy-Thầy, Đồng-Hới, Quảng-Bình,
Duy-Từ nổi tiếng xây thành, khai sơn. 

93. Khâm sai Bắc Việt chiêu dân,
Cụ Phan-Kế-Toại, văn thần vua phong. 

94. Trương-Chi hát vọng khuê phòng,
Mỵ-Nương nghe tiếng, đem lòng tương tư. 

95. Đông-Y Hải-Thượng danh sư,
Dương-An Toàn-Trạch, đề thư dụng truyền. 

96. Trận này không phá giặc Nguyên,
Không về sông Hóa, lời nguyền Đạo-Vương

97. Vân-Đồn thắng địch tuyệt lương,
Quân Nguyên nản chí, công dường Khánh-Dư

98. Bạch-Vân về ngụ, tâm tư,
Thi văn, lý đoán, ẩn cư Trạng Trình

99. Quang-Trung thần tốc phát binh,
Mùa xuân Kỷ-Dậu chiếm thành Thăng-Long. 

100. Lời ca con cháu Tiên Rồng :
Cộng nô tiêu diệt, non sông thanh bình.


__._,_.___


__,_._,___


----- Forwarded Message -----
From: TRAN TRONG-NHAN <trn_trongnhan@yahoo.com>
Sent: Saturday, August 27, 2011 2:00 AM
Subject: [HUYET-HOA] Fw: [TINH-NGHE-SI] Fw: Đố vui VIET SU (RAT HAY VA GIA TRI __DUNG DELETE )



Subject: [diendancuuhocsinhPhanboiChau] Đố vui VIET SU (RAT HAY VA GIA TRI __DUNG DELETE )







----- Forwarded Message -----
From: Thang Cao Nguyen <nguyenthangcao@yahoo.com>
To: "ThoVan@yahoogroups.com" <ThoVan@yahoogroups.com>; "tinhnghesi @yahoogroups.com" <tinhnghesi@yahoogroups.com>; "DaiHocVanKhoaSG@yahoogroups.com" <DaiHocVanKhoaSG@yahoogroups.com>; "nguyenbatong@yahoogroups.com" <nguyenbatong@yahoogroups.com>; "viethai712@yahoo.com" <viethai712@yahoo.com>; "trn_trongnhan@yahoo.com" <trn_trongnhan@yahoo.com>;
Sent: Friday, August 26, 2011 9:49 AM
Subject: [TINH-NGHE-SI] Fw: Đố vui VIET SU (RAT HAY VA GIA TRI __DUNG DELETE )


quy vi yeu men van hoa lich su VN.gui cho cac trung Tam Viet Ngu Hai ngoai, xem va tuy nghi xu dung.
thangcaonguyen,26/8

27/08 Mất cơ hội huy động vốn nước ngoài

07:21 | 27/08/2011
Các doanh nghiệp Việt Nam đang phải vay vốn bằng tiền đồng trong nước với lãi suất 20% - 25%/năm. Thế nhưng, một kênh quan trọng là vay vốn nước ngoài với lãi suất thấp hơn nhiều lại chưa thể tận dụng được do có quá nhiều quy định cản trở.


Nguồn: sunlaw.com.vn
Thế nào là doanh nghiệp nước ngoài?
Theo Luật sư Trần Anh Đức (TP Hồ Chí Minh), hiện tại việc tiếp cận các nguồn vốn vay từ nước ngoài là rất quan trọng, vì các công ty ở ngoài Việt Nam có thể vay vốn với lãi suất dưới 5%/năm và họ đã tích cực hỗ trợ các công ty con tại Việt Nam thông qua việc cho vay lại giữa công ty mẹ và công ty con. Thế nhưng, việc cho vay này lại đang gặp phải một số rào cản.
Rào cản pháp lý đầu tiên phải kể đến định nghĩa về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo Luật Đầu tư, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần. Với quy định như vậy thì chỉ cần bán 1 cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam đã bị coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và ngay lập tức bị hạn chế gia nhập thị trường theo cam kết WTO, bị giới hạn khi tham gia kinh doanh phân phối sản phẩm. Thực tế: một doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam (Mekophar) đã bị từ chối không được phân phối dược phẩm vì có cổ đông nước ngoài đã mua 4% cổ phần. Mekophar đã phải tính đến quyết định hủy niêm yết, loại bỏ cổ đông nước ngoài để có thể kinh doanh phân phối dược phẩm. Quy định về hạn chế gia nhập thị trường theo cam kết WTO là nhằm mục đích áp đặt hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài để bảo vệ doanh nghiệp Việt Nam nhưng đã vô tình gây thiệt hại nặng nề cho chính doanh nghiệp Việt Nam.
Thực tế, Nghị định 102/2010/NĐ -CP của Chính phủ ngày 1.10.2010 khẳng định: doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ dưới 49% cổ phần được áp dụng các điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư trong nước tức là doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, ông Đức cho rằng: dường như quy định tiến bộ này đã không đi vào thực tế. Nếu Nghị định 102 được áp dụng, Mekophar đã không phải xin hủy niêm yết và sẽ không cần phải xin Giấy chứng nhận đầu tư khi nhà đầu tư nước ngoài sở hữu dưới 49% cổ phần.
Trước tình hình thiếu vốn, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã lựa chọn niêm yết để dễ dàng tiếp cận các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài lại không dễ dàng tham gia giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam vì yêu cầu phải xin được cấp Mã số giao dịch chứng khoán - thực chất là 1 loại giấy phép. Để có giấy phép này, nhà đầu tư nước ngoài phải chuẩn bị một bộ hồ sơ phức tạp, bao gồm các giấy tờ pháp lý về việc thành lập đối với nhà đầu tư là tổ chức và lý lịch tư pháp đối với nhà đầu tư là cá nhân (tài liệu tiếng Anh phải được hợp pháp hóa lãnh sự và tiếng Việt phải có xác nhận của công chứng Việt Nam) để gửi lên Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam để xin cấp Mã số giao dịch chứng khoán. Phải mất thời gian từ 1 - 2 tháng để chuẩn bị hồ sơ và xin được cấp Mã số giao dịch chứng khoán. Thủ tục này đã làm nản lòng nhiều nhà đầu tư nước ngoài có ý định tham gia giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Mất cơ hội vì thế chấp
Có những doanh nghiệp nặng gánh với lãi suất cao đã tính đến giải pháp đi vay vốn nước ngoài với lãi suất thấp để trả nợ trước hạn khoản vay trong nước với lãi suất cao. Tuy nhiên, quy chế quản lý vốn vay nước ngoài yêu cầu mục đích của các khoản vay nước ngoài là để phục vụ dự án đầu tư đã được phê duyệt. Ngân hàng Nhà nước sẽ không cho đăng ký khoản vay nước ngoài với mục đích để trả nợ trước hạn cho khoản vay trong nước. Một số chuyên gia cho rằng, trong trường hợp này, luật pháp Việt Nam đã tước mất một cơ hội cơ cấu lại khoản nợ cho doanh nghiệp Việt Nam.
Vay vốn nước ngoài còn gặp khó khăn bởi quy định thế chấp lỗi thời của Luật Đất đai khi không cho bên cho vay nước ngoài được nhận thế chấp đối với quyền sử dụng đất và nhà xưởng. Quy định hạn chế thế chấp xuất phát từ lo ngại: thế chấp bất động sản cho bên cho vay nước ngoài sẽ dẫn đến việc đất đai bị nước ngoài kiểm soát và Nhà nước sẽ mất quyền quản lý với đất đai. Đúng là có rủi ro, nhưng đây là rủi ro có thể kiểm soát để đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của doanh nghiệp. Một số ý kiến cho rằng: thế chấp không có nghĩa là bán đất cho nước ngoài. Nhà nước hoàn toàn có thể kiểm soát việc thế chấp thông qua: cơ chế đăng ký thế chấp; yêu cầu việc thế chấp phải thông qua một ngân hàng hoạt động tại Việt Nam; khi xử lý tài sản bảo đảm thì phải chuyển nhượng bất động sản cho một pháp nhân hoặc công dân Việt Nam. Thực tế, Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28.8.2001, Chính phủ đã từng ra nghị quyết về việc nghiên cứu các giải quyết yêu cầu của doanh nghiệp nước ngoài đầu tư thực hiện dự án lớn ở Việt Nam. Trong đó, có điều kiện cần thế chấp giá trị quyền sử dụng đất đã được giao hoặc cho thuê dài hạn để vay vốn của các tổ chức tín dụng hoạt động ở nước ngoài trong trường hợp các tổ chức tín dụng ở Việt Nam không có khả năng đáp ứng nhu cầu vốn. Đến nay, thế chấp bất động sản cho bên cho vay nước ngoài vẫn không được phép.
Hải Dương