Thursday, September 8, 2011

08/09 Chính phủ yêu cầu làm rõ nguyên nhân lạm phát


▪  NGUYÊN HÀ
08/09/2011 20:39 (GMT+7)
 
Theo định hướng của Chính phủ, CPI năm 2012 tăng dưới 10% - Ảnh: Việt Tuấn.
Tại nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 8 được Thủ tướng ký ban hành hôm nay (8/9), Chính phủ đã yêu cầu các cơ quan chức năng phân tích, làm rõ nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam.

Lạm phát tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao cũng được nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ đầu tiên của nhiệm kỳ 2011 - 2016 xếp ở vị trí đầu tiên trong số các tồn tại của tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng qua và cả năm 2011.

Các tồn tại tiếp theo là mặt bằng lãi suất cao ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh; thu hút đầu tư giảm; thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản giảm sút; tỷ lệ hộ nghèo giảm chậm hơn kế hoạch đề ra; đời sống nhân dân, nhất là người nghèo, công nhân ở các khu công nghiệp, vùng miền núi, dân tộc thiểu số… còn nhiều khó khăn; tệ nạn xã hội, tai nạn và ùn tắc giao thông còn nhiều bức xúc, nhất là còn xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng.

Để đạt được mục tiêu cả năm, ưu tiên kiềm chế lạm phát một lần nữa lại được Chính phủ tái khẳng định trong yêu cầu về nhiệm vụ cụ thể đối với các bộ, ngành liên quan.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước được yêu cầu tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, hiệu quả, bảo đảm đồng thời các mục tiêu kiềm chế lạm phát, giảm lãi suất, tăng trưởng GDP cả năm đạt khoảng 6%.

Bộ Tài chính cũng được giao nhiệm vụ tiếp tục điều hành chính sách tài khóa thắt chặt kết hợp hài hòa với chính sách tiền tệ chặt chẽ nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Yêu cầu với Bộ Kế hoạch và Đầu tư là chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương tiếp tục rà soát việc cắt giảm đầu công theo đúng tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP và Nghị quyết số 83/NQ-CP của Chính phủ.

Nghị quyết còn nêu rõ: “Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, phân tích làm rõ nguyên nhân lạm phát ở nước ta, từ đó đề xuất các giải pháp căn bản ứng phó có hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tiễn, trình Chính phủ xem xét tại phiên họp thường kỳ tháng 9 năm 2011”.

Chính phủ cũng xác định mục tiêu tổng quát của năm 2012 là: tiếp tục tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đạt tốc độ tăng trưởng hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Định hướng một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của năm 2012 được thống nhất: tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5%; nhập siêu, bội chi ngân sách nhà nước thấp hơn so với chỉ tiêu đạt được năm 2011… 

Đặc biệt, chỉ số giá tiêu dùng được định hướng tăng dưới 10%, với sự tiếp tục nhất quán triển khai chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa chặt chẽ, hiệu quả nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Kiềm chế cho được lạm phát, trong đó có phân tích rõ nguyên nhân khiến lạm phát ở Việt Nam liên tục cao cũng là yêu cầu được nhiều vị đại biểu Quốc hội khóa 13 đặt ra tại kỳ họp thứ nhất vừa qua. 

Bởi ngay trong quá trình thẩm tra báo cáo của Chính phủ cũng đã có không ít ý kiến cho rằng, nhìn nhận về nguyên nhân lạm phát cao tại báo cáo là "chưa thỏa đáng".

Đó là giá hàng hóa trên thị trường thế giới tăng mạnh; việc điều chỉnh tăng một số mặt hàng thiết yếu, tăng tỷ giá, lãi suất làm tăng giá hàng hóa; phản ứng tăng giá dây chuyền do tâm lý người tiêu dùng bị tác động và do thiệt hại, khó khăn trong sản xuất nông nghiệp làm giá lương thực, thực phẩm tăng cao…

Ngay trên diễn đàn Quốc hội, không ít đại biểu “đòi’ truy nguyên nhân gốc của lạm phát và cả trách nhiệm khiến cho lạm phát chậm được kiềm chế.

Một số vị đại diện của dân đã đề nghị Chính phủ nhiệm kỳ mới cần có cam kết kiềm chế lạm phát và giảm dần về mức ngang bằng với các nước trong khu vực. 

Có ý kiến đặt vấn đề kỳ họp thứ hai của Quốc hội vào cuối năm nay, Chính phủ cần có báo cáo chuyên sâu về lạm phát, nghiên cứu, phân tích làm rõ nguyên nhân lạm phát cao ở Việt Nam.
 
Thảo luận (9 ý kiến)
(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)
 
Nguyễn Trung 19:15 (GMT+7) - Thứ Sáu, 9/9/2011
Như vậy chỉ trong nửa ngày mà đã có nhiều ý kiến độc giả cho thấy rõ (và đầy đủ) nguyên nhân lạm phát, ngoài ảnh hưởng kinh tế thế giới thì tập trung vẫn là chính sách tài khóa (bội chi NS, chi tiêu công không hiệu quả) và chính sách tiền tệ (tính độc lập và biện pháp điều hành) cùng với 1 phần yếu tố giá cả bất thường.

Cũng vì thế mà CP mới có NQ 11. Trách nhiệm này là của Chính phủ và các Bộ liên quan phải cùng nhau xem xét để quyết tâm thực hiện, việc phân tích giải trình nguyên nhân nếu có nhằm thực hiện có kết quả tốt hơn thôi.
Nguyễn Đình Phương 11:27 (GMT+7) - Thứ Sáu, 9/9/2011
Sẽ khó hiểu nếu dùng từ lạm phát, đơn giản tôi hiểu đó là người dân càng ngày phải trả nhiều tiền hơn để mua hàng hóa và dịch vụ.

Để phân tích và tìm ra nguyên nhân của lạm phát, tôi thiết nghĩ chúng ta phải phân tích vấn đề một cách có hệ thống, tránh cách nhìn nhận một chiều, hạn hẹp, thầy bói xem voi. Khi nói đến giá cả chúng ta đều biết đó là hệ quả của quan hệ cung cầu.

Giá cả hàng hóa tăng cao là hệ quả của mối quan hệ giữa nhu cầu tiêu dùng và nguồn cung hàng hóa. Dưới đây là phân tích về nhu cầu tiêu dùng dựa trên nguồn cung tiền và tương quan với nguồn cung hàng hóa từ sản xuất trong nước và nhập khẩu.

1. Nhu cầu hàng hóa

a. Hàng dành cho xuất khẩu

- Hàng dùng cho xuất khẩu có thể bán được giá cao hơn tiêu thụ trong nước, do vậy xuất khẩu tăng mạnh có thể làm giảm lượng hàng hóa tiêu thụ trong nước. Giá sản phẩm trong nước sẽ dần tăng cao theo kịp giá hàng bán cho xuất khẩu.

- Tự do trao đổi thương mại sẽ làm cho mặt bằng giá tại trong nước và nước ngoài gần bằng nhau. Và giá hàng hóa trong nước sẽ không còn rẻ như trước đây nữa.

- Nhu cầu hàng hóa cho xuất khẩu sẽ càng tăng mạnh khi giao thương được mở rộng, vận tải biển, đường bộ và đường hàng không, …Ảnh hưởng mạnh hơn nữa bởi gỡ bỏ những hàng rào thuế quan, áp dụng những hiệp định thương mại, mậu dịch vào những thị trường xuất khẩu của Việt Nam.

- Nếu như hoạt động xuất khẩu bị dừng thì hàng hóa sẽ chuyển sang tiêu thụ trọng nước và giá thành sẽ giảm mạnh. Lạm phát có thể giảm bằng cách này nhưng không khả thi và không tốt chút nào.

b. Nhu cầu hàng cho tiều dùng trong nước

- Dân số Việt nam trẻ, nhu cầu hàng hóa càng tăng mạnh khi thu nhập của người dân tăng lên.

- Thu nhập đầu người tăng, nhưng giá cả hàng hóa sẽ còn tăng nhanh hơn mức độ tăng thu nhập của người dân.

- Đặc biệt, nhu cầu sử dụng hàng chất lượng cao, an toàn, của tầng lớp người có thu nhập cao tăng lên, bên cạnh đó tâm lý sính ngoại, sẵn sàng bỏ tiền để mua hàng hóa có nguồn gốc ngoại.

- Nhu cầu cao một phần do nhiều người kiếm tiền quá dễ dàng do không trực tiếp bỏ sức lao động ra kiếm tiền, buôn gian bán lận, tham ô tham nhũng, đầu tư tài chính, bất động sản..

- Văn hóa tiêu sài không tiết kiệm, hoang phí, phô trương, xe đẹp, ăn ngon, mặc đẹp mặc dù thu nhập không cao, sẵn sàng chấp nhận vay nợ để chi tiêu.

- Nhu cầu của khách du lịch mua sắm, do mặt bằng giá tại việt nam rẻ hơn nước ngoài. Người nước ngoài sẽ mua sắm nhiều hơn do hàng bán trong nước rẻ hơn nhiều so với ở nước ngoài.

- Nhu cầu mua sắm cho đầu tư sản xuất và đầu tư công.

2. Nguồn cung tiền

a. Ngoại tệ kiều hối gửi về

- Lượng kiều hối của người lao động việt nam ở khắp nơi gửi về cho gia đình và thân nhân, những cá nhân này có nhu cầu mua sắm chi tiêu làm mất cân bằng tiền – hàng trong rổ hàng hóa. Những người này có thể không phải lao động nhưng lại có nhu cầu chi tiêu.

b. Ngoại tệ thu từ xuất khẩu

- Hàng hóa xuất khẩu không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà ngược lại tạo ra cung tiền rất lớn, đáp ừng nhu cầu mua sắm các sản phẩm khác ở trong nước.

c. In tiền từ ngân hàng nhà nước:

- Chưa có thông kê rõ ràng về lượng tiền ngân hàng nhà nước in ra mỗi năm. Tiền sau khi được in, trở thành tài sản. In càng nhiều thì càng mất giá trị.

- Tiền sẽ được sử dụng cho chi tiêu của chính phủ, đầu tư công, xây dựng cơ bản, bơm cho các ngân hàng thương mại cho vay đảm bảo theo giới hạn tăng trưởng tín dụng của ngân hàng.

- Đầu tư cộng, cho vay công càng nhiều, nhưng không cần biết đến hiệu quả, giá trị của đồng tiền càng mất giá.

d. Đầu tư công với vốn vay từ nước ngoài

- Vốn do phát hành trái phiếu chính phủ, đầu tư từ vốn vay của nước ngoài cũng là một nguồn cung tiền lớn, nếu hiệu quả không đem lại sản phẩm với số lượng và chất lượng tương ứng thì cũng dẫn tới lạm phát (người dân cuối cùng cũng phải trả tiền cho những hoạt động đầu tư này, nhưng sản phẩm thì ít, mà chất lượng thì kém).

e. Cho vay sản xuất

- Tiền ngân hàng nhà nước in và thông qua các ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp vay để mua nguyên liệu, trả cho chi phí sản xuất, lao động. Nếu các hoạt động này không tạo ra một lượng hàng tương ứng thì giá trị của lượng tiền đổ vào cũng thấp tương ứng. Người tiêu dùng cũng phải bỏ một lượng tiền nhiều để mua một lượng hàng hóa có hạn.

f. Thu nhập từ lương

- Rất nhiều thu nhập của người Việt Nam không bắt nguồn từ việc tạo ra sản phẩm, có thể từ đầu tư công, vào giáo dục, nghiên cứu, hành chính, thất thoát qua tham ô tham nhũng.

- Thói quen làm những việc nhàn nhã, lắm thầy ít thợ, tạo ra ít sản phẩm mà chi phí cho nhưng hoạt động không tạo ra sảm phẩm lại cao.

- Thu nhập không tương ứng với sản phảm tạo ra, sản phẩm tạo ra ít mà chi phí nhân công cao

3. Nguồn cung hàng hóa

a. Hàng nhập khẩu

- Hàng hóa nhập khẩu cạnh tranh tốt với hàng hóa trong nước thậm chí với giá cao hơn, do chất lượng và tâm lý sính ngoại

- Hàng nhập khẩu còn chịu thêm rất nhiều thuế làm tăng giá thành lên cao, mặc dù nói rằng để bảo hộ trong nước nhưng là thiệt thòi cho người tiêu dùng, và là một lực cản cho sự phát triển cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước.

- Các doanh nghiệp nhập khẩu có thể nhập hàng hóa đắt hơn sản phẩm trong nước, nhưng vẫn bán được

- Việc tăng tỷ giá cũng làm giá hàng hóa tăng lên, làm cho lạm phát tăng cao.

- Tiền việt chỉ có thể có giá trị hơn khi cùng một lượng tiền có thể mua được nhiều hàng hóa hơn, tức là hiệu quả đầu tư sản xuất của việt Nam phải cao hơn hiện nay.

- Khi đó, thay vì việc phải nhập khẩu hàng hóa thì chúng ta có thể sử dụng hàng hóa trong nước sản xuất, và đem đi xuất khẩu thu ngoại tệ

b. Hàng sản xuất trong nước

- Mất mùa, thiên tai, dịch bệnh, nguồn cung không ổn đinh là một vài lý do dẫn tới nguồn cung hàng hóa hạn chế, làm tăng giá nhiều mặt hàng.

- Doanh nghiệp chịu lãi suất cao phải thu hẹp sản xuất, đóng cửa, phá sản cũng làm nguồn cung bị giảm.

- Bên cạnh đó tình trạng đầu cơ, làm giá, cũng đóng góp vào làm tăng giá hàng hóa.

- Những công nghệ cũ, lạc hậu chỉ có thể cung cấp một lượng hàng có hạn không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng.

- Hàng sản xuất kém chất lượng, không phù hợp với như cầu tiêu dùng, không có hệ thống phân phối và bán hàng hiệu quả cũng là lý do để người tiêu dùng tìm đến các sản phẩm ngoại đắt tiền hơn.

- Chi phí sản xuất cao: do sử dụng công nghệ lạc hậu, làm ăn trên quy mô nhỏ, nguyên liệu nhập từ nước ngoài.

- Chi phí cho những hoạt động hành chính, tiêu cực trong các hoạt động cấp phép, tham ô, tham nhũng, nhũng nhiễu

- Ít coi trọng đến hoạt động cải tiến, tối ưu hóa trong sản xuất, cải tiến công nghệ, tiết kiệm chi phí trong sản xuất

- Cơ chế quản lý yếu kém, hoạt động cồng kềnh làm tăng chi phí vào giá thành sản phẩm

- Sưu cao thuế nặng: xăng phải chịu đủ loại thuế, phí. Ô tô chịu thuế quá cao so với ở nước ngoài. Tất cả những thuế này cuối cùng đội giá thành sản phẩm lên cao. Tương tự là thuế cao đối với các mặt hàng nhập khẩu khác cũng là nguyên nhân giá hàng hóa tăng cao.

- Vẫn quen với cơ chế chính sách xin cho, các công ty tập đoàn nhà nước vốn được bảo hộ bởi thuế quan, chưa phải chịu cạnh tranh với các đối thủ bên ngoài.

- Nhiều mặt hàng do các tập đoàn lớn độc quyền bán hàng và phân phối, đương nhiên giá thành hoàn toàn áp đặt nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho những đơn vị độc quyền.
Trần Văn Thiện 11:17 (GMT+7) - Thứ Sáu, 9/9/2011
Vấn đề đối với NHNN Việt Nam hiện tại là tính không độc lập tương đối với hoạt động của Chính phủ (NHNN là cơ quan ngang bộ), chính vì thế thay vì thực hiện nhiệm vụ nguyên thủy của nó là ổn định sức mua của đồng tiền, thì NHNN Việt Nam phải đảm bảo thực hiện một lô lốc các mục tiêu: kiềm chế lạm phát, giảm lãi suất, đảm bảo tăng trưởng. Những mục tiêu dường như trái ngược nhau như thế thì thực hiện làm sao?

Về chính sách tài khóa, chủ trương thì có rồi, có điều việc thực hiện. Khó!

Hơn thế nữa, tôi nghĩ rằng, việc cắt giảm đầu tư công không thực sự đúng khi phân bổ chỉ tiêu 10%, vấn đề là phải xác định đúng các dự án chưa thực sự hiệu quả, chưa thực sự cần thiết để cắt giảm.

Tuy nhiên, để coi dự án nào là chưa hiệu quả thì phải đánh giá, mà hiện nay hình như chưa thực sự có cơ chế đánh giá khoa học và chính xác!
Nguyễn Việt Thanh 10:32 (GMT+7) - Thứ Sáu, 9/9/2011
Xin góp ý, nguyên nhân cơ bản lạm phát cao của Việt Nam là:

1. Đầu tư công lớn nhưng kém hiệu quả, lãng phí, thất thoát ghê gớm. Số tiền thất thoát lãng phí này trở thành nguồn tiền "thừa" đẩy lạm phát lên cao

2. Do chiến lược phát triển không phù hợp (cả ở tầm quốc gia lẫn doanh nghiệp) nên năng suất lao động thấp, giá trị gia tăng thấp, nhập siêu cao.

3. Doanh nghiệp nhà nước nhiều đặc quyền dặc lợi nhưng hiệu quả thấp.
Mai Thanh Tùng 09:59 (GMT+7) - Thứ Sáu, 9/9/2011
Theo tôi, nguồn gốc sâu xa của lạm phát là sử dụng vốn không hiệu quả.

Thứ nhất: Các tập đoàn kinh tế nhà nước làm thất thoát vốn

Thứ hai: Tham nhũng

Thứ ba: Đầu tư dàn trải không hiệu quả

Thứ tư: Thủ tục hành chính rườm rà tụt hạng cạnh tranh và niềm tin tín dụng và đầu tư quốc tế
Đặng Xuân Tấn 09:26 (GMT+7) - Thứ Sáu, 9/9/2011
"Đi trên sa mạc không có la bàn" (Như ông Lê Xuân Nghĩa thừa nhận là đến 2014 chưa chắc đã có MIS - hệ thống thông tin quản trị để phân tích sâu tình hình). Rõ ràng trước tiên đây là vấn đề của quản trị chứ chưa nói đến tiền tệ tài khóa.
DucTung 08:10 (GMT+7) - Thứ Sáu, 9/9/2011
Lạm phát xảy ra xuất phát từ nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

Nguyên nhân khách quan thì ai cũng biết: tình hình kinh tế thế giới biến động, giá vàng, dầu liên tục tăng, khủng hỏang nợ công ở Mỹ và Châu Âu...

Xét về nguyên nhân chủ quan, lạm phát tăng trước hết do sự tăng giá của các mặt hàng chủ chốt như: xăng dầu, điện, than... Nguyên nhân tăng thì có nhiều nhưng chủ yếu là do tỷ giá tăng.

Tỷ giá tăng là do dự trữ ngọai tệ thấp bởi vì nguồn thu thì ít ( vốn đầu tư nước ngòai giảm, giá dầu giảm làm giá trị hàng xuất không tăng mặc dù kim ngạch xuất khẩu nông sản có tăng đáng kể) mà dự tóan chi thì nhiều. Tuy nhiên, sự biến động tỷ giá lại chủ yếu từ kết quả của sự gia tăng nợ công và chính sách tỷ giá không phù hợp.

Họat động kém hiệu quả của các tập đòan nhà nước cộng với sự kiểm tra kiểm sóat lỏng lẻo là yếu tố làm nợ công ngày càng lớn (ví dụ: Vinashin), kể cả nợ của chính phủ và nợ do chính phủ bảo lãnh.

Chính sách tỷ giá không theo kịp biến động thị trường, lúc thì kiềm chế quá chặt, lúc thì mở ra quá cỡ làm nền kinh tế không tiếp thu kịp, các thành phần khác thì tranh thủ trục lợi với lý do tỷ giá tăng, làm cho giá cả hàng hóa tăng cao hơn mức thực tế, đẩy giá thị trường tăng theo tác động dây chuyền, chỉ có không ngừng tăng mà không có giảm. Một điều đáng lưu ý là trong khi giá USD giảm so với các đồng tiền khác thì lại tăng giá so với VND, làm cho giá trị thực của VND bị giảm giá kép.

Nói tóm lại, mặc dù có một số tác động tích cực thì chính sách tài chính và chính sách tiền tệ không nhất quán giai đọan vừa qua đã góp phần gia tăng lạm phát.

Tuy nhiên, việc Chính phủ yêu cầu làm rõ nguyên nhân lạm phát để có đối sách tốt cho nền kinh tế sẽ tạo niềm tin thúc đẩy thị trường bùng nổ trong thời gian tới.
Quang Vũ 23:28 (GMT+7) - Thứ Năm, 8/9/2011
Theo tôi:

Lạm phát cao thường xuyên = đầu tư công lợi nhuận quá thấp so với đồng vốn bỏ ra + chi tiêu công bừa bãi + thất thoát lớn + tham nhũng tràn lan + thiếu minh bạch thông tin.

Giải pháp:

Đại biểu QH đề nghị điều chỉnh các luật theo hướng tăng cường quyền lực của QH đối với chính phủ nhất là Luật sử dụng ngân sách nhà nước. Chế tài xử lý các thành viên chính phủ theo hướng gay gắt hơn, đòi hỏi hơn.

Một trong các đòi hỏi là: Các thành viên chính phủ phải có kế hoạch làm việc theo nhiệm kỳ của mình, phải cụ thể 5 năm ra sao, 3 năm thế nào, 1 năm, 6 tháng...

Sửa đổi luật liên quan đến điều kiện tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm theo hướng dễ dàng hơn, để tăng giám sát cũng như quyền lực của QH.
Bùi Huy Tuấn 22:35 (GMT+7) - Thứ Năm, 8/9/2011
Từ cuối năm ngoái đến nay chúng ta chống lạm phát bằng biện pháp thắt chặt tiền tệ, nhưng kết quả không được như mong muốn.

Chúng ta cần nhận thức sự đặc thù trong việc cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam khác với các nước phát triển: Ở VN dư nợ cho vay của các NHTM chủ yếu là cho vay đối với DN SXKD, cho cá nhân vay tiêu dùng chiếm tỷ trọng thấp. Ở các nước phát triển thì ngược lại, tỷ trọng cho vay tiêu dùng đối với cá nhân chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ, do vậy khi lạm phát xảy ra thì sử dụng biện pháp tăng lãi suất sẽ có tác dụng tốt (làm hạn chế cầu tiêu dùng ngay).

Ở VN việc chống lạm phát bằng thắt chặt tiền tệ đã không có tác dụng nhiều (vay tiêu dùng ở VN chiếm tỷ trọng khoảng 10% tổng dư nợ ở các ngân hàng), đồng thời thắt chặt tiền tệ đã làm cho các DN SXKD gặp rất nhiều khó khăn (vì họ hoạt động chủ yếu vào vốn vay ngân hàng chiếm 70 – 80% tổng dư nợ ở các ngân hàng), đẩy chi phí sản xuất lên cao, có thể phải thu hẹp SX hoặc dừng SX tạo áp lực tăng giá hàng hóa dịch vụ được cung ứng ra thị trường. Chúng ta cần thay đổi các biện pháp chống lạm phát hiện nay đang sử dụng mới mong đạt được kết quả

Một nguyên nhân khác tác động đến lạm phát đó là cơ chế tạo nguồn vốn bù đắp thiếu hụt ngân sách hiện nay của nước ta.
Chi ngân sách lớn hơn thu ngân sách gọi là bội chi ngân sách. Việc bội chi ngân sách là phổ biến ở các quốc gia bao gồm các nước đang phát triển và các nước phát triển, đặc biệt các nước đang phát triển áp lực bội chi ngân sách rất lớn do phải chi tiêu công cho đầu tư nhiều vào cơ sở hạ tầng…

Bội chi ngân sách chủ yếu được dùng vào mục đích chi tiêu công, sẽ được bù đắp bằng các khoản vay của chính phủ ở trong nước và vay nước ngoài dưới các hình thức vay nợ khác nhau nhưng phổ biến nhất là hình thức phát hành trái phiếu. Ở Việt nam các khoản nợ công theo báo cáo của bộ Tài chính thì vẫn ở mức an toàn, hiện tại đang dưới 50% GDP. Mức độ nợ công ở ngưỡng an toàn ở từng quốc gia là khác nhau, nó phụ thụ vào khả năng chịu đựng của từng nền kinh tế.

Chi tiêu công có khả năng ảnh hưởng đến lạm phát. Ở Việt Nam nợ công chưa lớn nhưng đã tác động rất lớn tới lạm phát.Theo Tôi thì có nhiều lý do như: Hiệu quả của chi tiêu công, việc này chúng ta đã phân tích nhiều do vậy Tôi sẽ không phân tích thêm. Một vấn đề ảnh hưởng tới lạm phát do chi tiêu công đó là nguồn vốn để chi tiêu công, theo Tôi đây là một trong những lý do sinh ra lạm phát ở Việt Nam đã tác động không nhỏ tới lạm phát.

Trong thực tế trái phiếu phát hành ra được các ngân hàng thương mại mua là chủ yếu. Các ngân hàng thương mại sau khi mua trái phiếu chính phủ thường thì họ không giữ ở trong két sắt của mình, họ mang lên Ngân hàng nhà nước (NHNN) đặt để tham gia thị trường mở và tại đây họ được rút một lượng tiền tương ứng ra từ NHNN. Qua cơ chế này một lượng tiền đã được bơm ra từ NHNN và làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế.

Nếu phân tích theo dòng tiền và loại bỏ yếu tố trung gian là các ngân hàng thương mại, sẽ thấy dòng tiền được bơm ra từ NHNN thông qua cơ chế thị trường mở và đích cuối cùng lại là bù đắp thiếu hụt chi tiêu ngân sách. Như vậy đã làm tăng tổng cầu của toàn xã hội và là áp lực tạo ra lạm phát.

NHNN cần xem lại cơ chế thị trường mở, hạn chế việc cho các ngân hàng thương mại mang đặt trái phiếu chính phủ để rút tiền ra từ NHNN.

Wednesday, September 7, 2011

07/09 Tìm giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông



Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
CÁC TIN LIÊN QUAN
TQ coi trọng phát triển hợp tác toàn diện với VN
Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc nhấn mạnh, Chính phủ nước này hết sức coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Việt Nam.

Phiên họp lần 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác Việt-Trung
Phiên họp lần thứ 5 của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc đã diễn ra vào ngày 6/9 tại thành phố Hà Nội.

Chiều 7/9, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Ủy viên Quốc vụ Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc đang thăm làm việc tại Việt Nam.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ hoan nghênh ông Đới Bình Quốc dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Trung Quốc sang dự Phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc và đánh giá cao kết quả phiên họp lần này.

Gửi lời thăm hỏi và lời chúc tốt đẹp đến các vị lãnh đạo Trung Quốc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc dành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.

Thủ tướng khẳng định Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam hết sức coi trọng và mong muốn cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc tiếp tục đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, theo đúng phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng điều này phù hợp với lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.

Về vấn đề biên giới lãnh thổ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao kết quả hai bên đạt được trong việc thực hiện 3 văn kiện liên quan đến biên giới trên đất liền, góp phần xây dựng đường biên giới hai nước thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Về vấn đề Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, qua trao đổi hai bên đã hiểu rõ lập trường của nhau, việc hai bên còn khác biệt là thực tế khách quan. Hai bên cần thông qua đối thoại chân thành, tôn trọng và tin cậy lẫn nhau, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) để tìm kiếm giải pháp cơ bản lâu dài mà hai bên có thể chấp nhận được. Thủ tướng cho rằng hai bên cần đẩy nhanh đàm phán để sớm ký Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển, tạo cơ sở để hai bên giải quyết các vấn đề cụ thể trên biển.

Cảm ơn Thủ tướng dành thời gian tiếp, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc, Đới Bỉnh Quốc chuyển lời chúc tốt đẹp và lời thăm hỏi thân thiết của Thủ tướng Ôn Gia Bảo tới Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Thông báo kết quả Phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc, ông Đới Bỉnh Quốc cho biết, hai bên đã tổng kết, đánh giá tình hình hợp tác quan hệ hai nước trong thời gian qua, đồng thời đi sâu trao đổi ý kiến về phương hướng, biện pháp làm sâu sắc thêm quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước trên mọi lĩnh vực, làm cho mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc không ngừng phát triển tích cực.

Ông Đới Bỉnh Quốc khẳng định, Đảng, Chính phủ Trung Quốc trước sau như một kiên trì chính sách hữu nghị hợp tác với Việt Nam, tin tưởng quan hệ hai nước ngày càng tiến triển tốt đẹp hơn.

Đồng tình với ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông Đới Bỉnh Quốc đề nghị, trên tinh thần vừa là đồng chí, vừa là anh em, hai bên khẩn trương cùng nhau đàm phán, thảo luận những vấn đề mà hai bên còn khác biệt trên Biển Đông để tìm ra những giải pháp mang tính cơ bản, lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được./.
Thiện Thuật (TTXVN/Vietnam+)

07/09 TQ coi trọng phát triển hợp tác toàn diện với VN


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
CÁC TIN LIÊN QUAN
Tìm giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông
Tại buổi tiếp, Thủ tướng cho rằng Việt-Trung cần sớm ký Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên Biển Đông.

Phiên họp lần 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác Việt-Trung
Phiên họp lần thứ 5 của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc đã diễn ra vào ngày 6/9 tại thành phố Hà Nội.

Chiều ngày 7/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp thân mật Đoàn đại biểu Trung Quốc do ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ, dẫn đầu sang thăm Việt Nam và tham dự Phiên họp lần thứ 5 của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc.

Cùng dự có ông Hoàng Bình Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương; ông Hồ Xuân Sơn, Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; ông Hồ Mẫu Ngoạt, Ủy viên Trung ương Đảng, Trợ lý Tổng Bí thư; ông Nguyễn Văn Thơ, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc.

Ông Đới Bỉnh Quốc trân trọng chuyển tới Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước Việt Nam lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc sức khỏe của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào và các lãnh đạo Đảng và Chính phủ Trung Quốc.

Ông Đới Bỉnh Quốc nhiệt liệt chúc mừng thành công của Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVIII, chúc mừng những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.

Ông bày tỏ tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ giành được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa trong công cuộc đổi mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Ông Đới Bỉnh Quốc đã báo cáo với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về những kết quả tích cực của Phiên họp lần thứ 5 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc.

Ông nhấn mạnh, Đảng, Chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Việt Nam. Mặc dù hiện nay hai bên còn có những vấn đề tồn tại, nhưng hai bên có chung lý tưởng, có lợi ích chung, vận mệnh gắn liền với nhau, không có lý do gì không cố gắng thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển tốt đẹp. Ông bày tỏ các lãnh đạo Trung Quốc mong Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sớm sang thăm Trung Quốc.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiệt liệt hoan nghênh ông Đới Bỉnh Quốc và đoàn sang thăm Việt Nam; đánh giá cao kết quả cuộc họp Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương; khẳng định đây là cơ chế hợp tác quan trọng, hết sức hiệu quả, cần phát huy hơn nữa trong thời gian tới.

Tổng Bí thư đề nghị hai Chủ tịch và các thành viên Ủy ban hai bên phát huy tinh thần trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ với nhau thúc đẩy giao lưu, hợp tác trên mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ, kịp thời giải quyết những vướng mắc trong quan hệ, nâng hiệu quả hợp tác lên một tầm cao mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng những thành tựu to lớn mà nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giành được trong công cuộc cải cách mở cửa. Tổng Bí thư nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc.

Về tình hình Biển Đông, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ mong muốn hai bên thông qua đàm phán hòa bình, hiệp thương hữu nghị, nỗ lực tìm ra giải pháp thỏa đáng, tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam-Trung Quốc tiếp tục phát triển./.
(Vietnam+)

07/09 Lãnh đạo Toyota Việt Nam sẽ bị kiện vì xâm phạm bí mật thư tín?

SGTT.VN - Trong biên bản xử lý kỷ luật với nhân viên của mình – kỹ sư Lê Văn Tạch, lãnh đạo công ty Toyota Việt Nam (TMV) đã “thừa nhận” có truy cập vào hòm thư riêng của kỹ sư Tạch (do công ty lập). Kỹ sư Lê Văn Tạch khẳng định lãnh đạo TMV đã vi phạm bí mật thư tín, và anh đang xem xét để khởi kiện về hành vi xâm phạm bí mật thư tín của lãnh đạo TMV.
Công khai chuyện truy cập
KS Lê Văn Tạch.
Sự việc cụ thể là, tại cuộc họp xem xét xử lý kỷ luật lao động đối với anh, ngày 24.8, ông Akito Tachibana – tổng giám đốc TMV đã công bố trước những người dự họp rằng: phòng hệ thống (của TMV) đã tiến hành kiểm tra nội dung hộp thư nội bộ có địa chỉ là prtachlv@toyotavn.com.vn – được lưu trên mạng nội bộ của công ty. “Kết quả kiểm tra cho thấy ông Lê Văn Tạch đã viết hàng chục bức thư tình gửi cho một người phụ nữ”. Tại cuộc họp đó, lãnh đạo TVM đã tiết lộ một số bí mật đời tư của anh Tạch trong những bức thư này. Theo kỹ sư Tạch, qua nội dung công bố nêu trên của tổng giám đốc TMV, có thể thấy rằng một số lãnh đạo của TMV đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật thư tín của anh.
Luật sư Phạm Văn Phất, trưởng văn phòng luật An Phát Phạm, người đại diện pháp lý cho kỹ sư Tạch cho biết đã có đọc nội quy của TMV, song chưa thấy có quy định cấm gửi thư ngoài công việc và không rõ có quy định riêng nào khác không (?). Song, theo ông Phất, ngay cả khi TMV có quy định này thì điều quan trọng hơn vẫn là quy định của TMV, dù có – cũng không được trái quy định của pháp luật. “Trong điều 38 bộ luật Dân sự đã quy định bí mật đời tư, đọc thư cá nhân phải được sự đồng ý của cá nhân đó. Hoặc chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được kiểm soát nó theo quy định của pháp luật”, vị luật sư nhấn mạnh.
Cũng theo luật sư Phất, trong trường hợp này, cách hành xử đúng phải là: lãnh đạo TMV có thể lập biên bản anh Tạch vì đã gửi thư cho người khác, sau đó chỉ ra những địa chỉ không nằm trong phạm vi công ty. Nếu anh Tạch nhận ra đã sử dụng thư nhưng không phục vụ cho công việc thì sẽ ký vào biên bản. Còn nếu không thừa nhận mà nói rằng đó là gửi thư cho công việc chung, thì hai bên mới thống nhất đọc nội dung đó để làm rõ việc gửi thư công việc hay thư riêng tư. “Tất nhiên bây giờ dựa vào công nghệ, một số quản trị IT có thể đọc, nhưng họ không nói ra thì không có bằng chứng cho việc đó, song ở đây – trong cuộc họp – các lãnh đạo TMV đã nêu ra và chính các ông nói đã đọc, nên có dấu hiệu xâm phạm bí mật thư tín”, luật sư Phất nói.
Kiện được
Ngày 6.9, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị, rằng nội quy của TMV có cấm gửi email cho mục đích riêng tư, đồng thời có quy định nào cho phép lãnh đạo TMV được truy cập email nhân viên không?, ông Trần Quốc Hưng, tổng trưởng ban kế hoạch và sản phẩm của TMV cho hay, TMV quy định sử dụng mail công ty thì không được dùng để gửi cho người khác ngoài giao dịch công việc của cơ quan. Dù không chỉ ra điều khoản cụ thể cho phép lãnh đạo công ty được truy cập email cá nhân, nhưng ông Hưng cũng nói rằng chính sách quản lý bảo mật của công ty, quy định về quản lý IT của công ty đều đề cập đến vấn đề sở hữu và quản lý tài sản email. “Điều này cho phép người chủ sử dụng lao động có quyền quản lý, sử dụng”, ông Hưng nói.
Tuy nhiên, luật sư Phất bác bỏ lập luận này: không thể nói đây là hòm thư của công ty lập thì tôi có quyền đọc hết, thế là trái quy định bí mật thư tín của pháp luật. “Quy định công ty không thể “đè” lên quy định của pháp luật. Nói ví dụ, có những quy định của công ty không phù hợp với quy định của pháp luật như công ty phạt vì vi phạm này kia, thu phí sử dụng này kia, nhưng rõ ràng phí và lệ phí thì chỉ Nhà nước mới được phép quy định”.
Luật sư Trần Đình Triển, trưởng văn phòng luật Vì Dân cũng cho rằng: “Email đã lập riêng cho bản thân tôi là mail của cá nhân mình chứ không phải của công ty, trừ trường hợp đó là mail chung cho tất cả mọi người trong công ty. Nếu mail chung của cả cơ quan thì khác, nhưng mail đã lập cho riêng tôi thì khi muốn truy cập, anh phải xin ý kiến của cá nhân tôi. Trong trường hợp anh truy cập không xin phép thì tôi hoàn toàn có thể kiện anh vì xâm phạm bí mật thư tín”.
Khi được hỏi về động thái “xem xét khởi kiện” của kỹ sư Lê Văn Tạch, ông Trần Quốc Hưng nói “không bình luận gì động thái này”, nhưng “người ta có bước tiếp theo thế nào thì công ty cũng sẽ theo”!
Còn người đại diện pháp lý của kỹ sư Tạch cũng thông tin, đến thời điểm này vẫn chưa quyết định yêu cầu điều tra làm rõ nội dung này với lý do “thời điểm chưa thích hợp”. “Có thể chúng tôi sẽ nêu ra trong một thời điểm thích hợp hơn. Hiện chúng tôi sẽ tập trung chỉ ra những sai phạm của họ trong vấn đề xử lý kỷ luật lao động, bởi lãnh đạo TMV nói họ chỉ dựa vào hành vi là anh Tạch có gửi hai thư cho lãnh đạo, chúng tôi cho rằng công ty xử lý vì hai lần viết thư là không thoả đáng, vì có thể nó phù hợp với nội quy của TMV nhưng không phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam”, luật sư Phất chốt lại.
CHÍ HIẾU
Hành vi kiểm tra email, công bố những thông tin riêng tư của cá nhân, theo quy định của pháp luật, xứ lý như thế nào?
LS Nguyễn Văn Trường (đoàn Luật sư TP.HCM):
Điều 125 bộ luật Hình sự có quy định tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác. Cụ thể,
1 - Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 5 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.
2 - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm:
a) Có tổ chức; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c) Phạm tội nhiều lần; d) Gây hậu quả nghiêm trọng; đ) Tái phạm.
3 - Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 20 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.
Ngoài ra, người bị hại có thể khởi kiện dân sự. Quyền lợi khi khởi kiện sẽ được tính theo điều 611 bộ luật Dân sự: thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại. Để khởi kiện, anh Tạch sẽ chứng minh thiệt hại vật chất và tinh thần rồi buộc đơn vị gây thiệt hại bồi thường.
Hiện nay có quy định nào của pháp luật về việc các cơ quan chức năng có thẩm quyền kiểm tra thư tín, nghe điện thoại của người dân?
Tinh thần của luật pháp là bảo vệ những quyền căn bản của con người như bí mật đời tư và không ai có quyền xâm phạm. Vì vậy, các cá nhân, tổ chức đều không có quyền kiểm tra những thông tin đời tư của bất kỳ ai.
Thanh Nhã (ghi)

07/09 Ớn lạnh phòng khám Trung Quốc: Từ vá “cái ngàn vàng” đến “chữa xuất tinh sớm”


Từ một ấn phẩm 36 trang có tên “Sức khoẻ thời đại” do phòng khám Trung Quốc ở 141 Phan Đăng Lưu, quận Phú Nhuận in ấn và phát khắp nơi, ngày 27.8, các phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị đã tìm hiểu phòng khám này bằng cách đến khám bệnh tại đây...
Chỉ là phòng chẩn trị y học cổ truyền nhưng ở đây nhận khám chữa các loại bệnh khác nhau. Ảnh: L.H.T
Sốc với chiêu quảng cáo
Trong ấn phẩm do phòng khám này in ấn, cơ sở tự nhận thuộc tập đoàn Trung Vũ – Thượng Hải, “là một tập đoàn lớn bao gồm các nhóm doanh nghiệp hiện đại đầu tư, là công ty con của tập đoàn y khoa Singapore tại Trung Quốc”(?). Trong hơn 30 trang của ấn phẩm in màu này, người ta có thể đọc những tin “hot” của thế giới và Việt Nam như: “Sét lớn hiếm gặp tấn công tượng Nữ thần tự do”, “Ngôi nhà điên ở Đà Lạt”, “Heo đi bằng hai chân”…
Tuy nhiên, điều đáng nói nhất của ấn phẩm này là những quảng cáo chân trang cực sốc và cường điệu về kỹ thuật và khả năng chữa trị của phòng khám. Đơn cử với “kỹ thuật cắt bỏ bao quy đầu không đau của Hàn Quốc”, phòng khám khẳng định “có tác dụng giúp bộ phận sinh dục tiếp tục phát triển, dài và lớn hơn, kéo dài thời gian làm việc. Cho đàn ông tự tin hơn, cho phụ nữ kinh ngạc hơn”! Với “kỹ thuật thu nhỏ âm đạo – làm nhỏ âm đạo”, phòng khám cam đoan sẽ giúp “tăng thêm tính đàn hồi âm đạo, nâng cao chất lượng sinh hoạt tình dục, chỉ cần một giờ sẽ phục hồi lại thân thể cô gái trẻ cho bạn, giữ được trái tim của người đàn ông”. Hoặc những hứa hẹn như: “15 phút sẽ giải quyết dứt điểm các bệnh trĩ ngoan cố”, “vĩnh biệt bệnh hiếm muộn con, chỉ mất 30 phút sẽ nhẹ nhàng thực hiện được mơ ước làm cha mẹ của bạn”...
Chỉ là phòng chẩn trị y học cổ truyền
Bác sĩ Lê Minh Hải, trưởng phòng quản lý dịch vụ y tế – sở Y tế TP.HCM cho biết, phòng khám phụ khoa Trung Quốc (141 Phan Đăng Lưu) được cấp phép là phòng chẩn trị y học cổ truyền với phạm vi chuyên môn hành nghề là khám, chẩn trị bằng y học cổ truyền. Nếu đúng như phản ánh, phòng khám đã hành nghề vượt quá khả năng cho phép khi lấn sân sang tây y và chữa cả những bệnh không đúng chuyên môn như trĩ, hiếm muộn, xuất tinh sớm, liệt dương. Chưa kể, theo quy định hiện hành, phòng khám chỉ có chức năng khám bệnh chứ không được thực hiện phẫu thuật. Việc phòng khám này quảng cáo và tự nhận làm tại chỗ các kỹ thuật thu nhỏ âm đạo, tái tạo màng trinh, cắt trĩ, cắt bao quy đầu hay cắt cổ tử cung là quá sai.
Nhưng những quảng cáo này vẫn chưa là gì so với quảng cáo về kỹ thuật chữa ung bướu của phòng khám. Với bệnh u xơ tử cung, u nang buồng trứng, phòng khám cho biết có cách điều trị “không cần mổ, không phẫu thuật, chỉ 1 – 2 chu kỳ điều trị sẽ nhẹ nhàng loại bỏ u nang tử cung, u nang buồng trứng”. Còn đối với ung thư cổ tử cung, phòng khám áp dụng kỹ thuật dao mổ LEEP của Mỹ, chỉ mất mười phút là bệnh nhân “sẽ xa lánh được các biến chứng ung thư cổ tử cung…”!
“Làm ngay tại chỗ”
Khi biết nhu cầu thu nhỏ âm đạo và vá màng trinh của tôi, một nhân viên dẫn tôi đến gặp nữ bác sĩ Kim Shi Mei để tư vấn. Bác sĩ này cũng được giới thiệu sẽ là người trực tiếp phẫu thuật cho tôi. Cùng tiếp tôi là phiên dịch viên Huỳnh Thanh Lan.
Theo bác sĩ Mei, có hai cách thu hẹp âm đạo: một là khâu bên ngoài, làm rất đơn giản trong vòng chưa đầy một giờ, giá 4 triệu đồng. Cách thứ hai là khâu cả ngoài lẫn trong, mất nhiều thời gian, giá gấp đôi, nhưng được cái mang lại cảm giác khi quan hệ với bạn tình hơn. Khi tôi thắc mắc không biết phẫu thuật ở đâu, có phải kết hợp với bệnh viện nào không, bác sĩ Mei cho biết sẽ phẫu thuật ngay tại phòng khám do bác sĩ phòng khám thực hiện.
Với yêu cầu thứ nhì, sau khi tôi cho biết đã từng “điều hoà” một lần, bác sĩ Mei cam kết sẽ “phục hồi” lại cái ngàn vàng của tôi ở mức tốt nhất. Bà nói: “Nếu muốn vá màng trinh, cô phải trả thêm 4 triệu đồng nữa. Thời gian thu nhỏ và vá màng trinh khoảng hai giờ đồng hồ”.
Mặc dù mang tên phòng khám phụ khoa, nhưng cơ sở 141 Phan Đăng Lưu lại quảng cáo chữa cả nhiều loại bệnh khác, trong đó chữa cả hiếm muộn và những căn bệnh làm khổ quý ông như xuất tinh sớm và liệt dương. Ngày 30.8, khi nghe đồng nghiệp nam khai bị hiếm muộn bảy năm trời kèm theo xuất tinh sớm, một nhân viên đề nghị đóng 20.000 đồng tiền khám bệnh. Ở một phòng trên lầu, sau khi khám cho anh ấy, một bác sĩ nam giải thích: “Tinh hoàn của anh có lẽ bị viêm, tạo ra nhiều bạch cầu, chúng “nuốt” tinh trùng của anh nên làm anh không thể có con”. Anh ấy hỏi: “Vậy chữa thế nào?” Bác sĩ nói: “Trước nhất tôi cho anh làm một số xét nghiệm kiểm tra, sau đó là chữa đông – tây y kết hợp. Còn đối với chứng xuất tinh sớm, anh sẽ được phẫu thuật thần kinh nhạy cảm”. Thấy anh ấy lo lắng, người phiên dịch trấn an: “Bác sĩ Trung Quốc sẽ phẫu thuật cho anh ngay tại phòng khám. Các bác sĩ ở đây rất giỏi, sẽ chữa cho anh hết bệnh, anh yên tâm”.
Khôi hài!
Dưới góc độ chuyên môn y khoa thật sự, những hứa hẹn trên được nhìn nhận thế nào? ThS.BS Bùi Văn Kiệt, giảng viên bộ môn ngoại – niệu đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch TP.HCM, nhận định, cho đến nay không bác sĩ nào có thể phẫu thuật trong vòng 15 phút đối với các trường hợp trĩ phức tạp. Đối với kỹ thuật cắt bỏ thần kinh lưng dương vật (không phải thần kinh cột sống dương vật hay thần kinh dị ứng dương vật như tài liệu gọi!), theo ông đây không phải là phương pháp chuẩn để điều trị xuất tinh sớm, vì bị nhiều nhà khoa học phản đối do để lại nhiều di chứng không tốt. Về cắt da quy đầu, ThS.BS Bùi Văn Kiệt nói: “Phương pháp này áp dụng trong trường hợp da quy đầu bị chít hẹp để giúp người bệnh vệ sinh dễ dàng, ngừa ung thư dương vật, và giúp dương vật cương không đau. Cắt da quy đầu mà làm dương vật to và dài ra thì quả là chuyện khôi hài!”
Trong khi đó, đặt câu hỏi với các chuyên gia hiếm muộn Việt Nam về kỹ thuật ống dẫn tinh COOK mà phòng khám Trung Quốc ca ngợi có đặc điểm chính xác, hiệu quả cao, an toàn nhẹ nhàng giúp chữa hiếm muộn, các chuyên gia này cho biết chưa nghe nói gì về phương pháp này. BS Hồ Mạnh Tường, tổng thư ký hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP.HCM nói: “Tôi chưa biết và chưa nghe ai nói về kỹ thuật COOK. Thực tế là trong những kỹ thuật tiên tiến nhất hiện nay về điều trị vô sinh hiếm muộn, chưa có kỹ thuật nào có thể giúp các bậc cha mẹ có con trong vòng 30 phút”.
N. NHÂN – B. MINH
Vai trò cơ quan chức năng ở đâu?
Theo luật sư Trịnh Thanh, trưởng văn phòng luật sư Người Nghèo (TP.HCM) ấn phẩm “Sức khoẻ thời đại” do phòng khám này phát hành đã vi phạm ít nhất ba lỗi, đó là không có giấy phép xuất bản, không có giấy phép quảng cáo và nội dung quảng cáo có tính cường điệu, không đúng sự thật. Ở đây, có vai trò quan trọng của ngành y tế trong cấp phép nội dung quảng cáo và thẩm định chức năng của phòng khám.
Theo bác sĩ Lê Minh Hải, trưởng phòng quản lý dịch vụ y tế – sở Y tế TP.HCM, hàng năm sở Y tế chỉ kiểm tra định kỳ những cơ sở y tế công lập. Đối với những cơ sở y tế tư nhân, sở chỉ tiến hành hậu kiểm sau khi cấp phép, việc kiểm tra các phòng khám y tế tư nhân hàng năm trên địa bàn là trách nhiệm của phòng y tế quận/huyện. Nếu đúng thế thì thật lạ khi phòng y tế địa phương không phát hiện được sai phạm ở phòng khám phụ khoa Trung Quốc. Chỉ cần bước vào phòng chờ, người ta dễ dàng lấy được những tài liệu quảng cáo về phòng khám, trong đó chủ yếu là chữa trị các bệnh vượt quá chức năng hành nghề cho phép.
N. NHÂN

07/09 Tạm dừng cấp phép thăm dò và khai thác khoáng sản


picture
Những bộ, ngành liên quan sẽ phải báo cáo Chính phủ về thực trạng cấp phép, thăm dò, khai thác khoáng sản.
▪  NGUYỄN VŨ
09:00 (GMT+7) - Thứ Tư, 7/9/2011

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản gửi các cơ quan liên quan ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý hoạt động khoáng sản trên phạm vi cả nước.

Theo đó, Thủ tướng yêu cầu từ ngày 30/8/2011 tạm dừng việc cấp phép thăm dò và khai thác khoáng sản trên phạm vi cả nước cho đến khi có chỉ đạo mới.

Tại phiên họp thường kỳ tháng 9/2011 của Chính phủ, các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Công Thương, Xây dựng sẽ phải báo cáo một số nội dung cụ thể liên quan đến nội dung nói trên.
 
Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo thực trạng trong việc cấp phép thăm dò, khai thác các loại khoáng sản trên cả nước và những biện pháp cần chấn chỉnh tăng cường quản lý.

Bộ Công Thương có nhiệm vụ báo cáo quy hoạch và thực trạng khai thác, chế biến và xuất khẩu của từng loại khoáng sản hiện nay. Thủ tướng yêu cầu báo cáo nêu rõ mặt được, chưa được và có báo cáo rõ loại khoáng sản nào phải chế biến sâu, sâu đến mức nào và biện pháp chấn chỉnh quản lý.

Bộ Xây dựng báo cáo Quy hoạch và tình hình thực hiện khai thác, chế biến và xuất khẩu của từng loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng hiện nay, nêu rõ mặt được, chưa được và biện pháp chấn chỉnh quản lý.

Những yếu kém trong cấp phép, thăm dò và khai thác khoáng sản đã từng là vấn đề nóng được mổ xẻ tại nhiều diễn đàn.

Có hiệu lực thi hành từ ngày1/7/2011, Luật Khoáng sản (sửa đổi) đã quy định về điều kiện chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản, quyền khai thác khoáng sản nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ trong hoạt động khoáng sản. Thời hạn tối đa cho một giấy phép thăm dò khoáng sản cũng điều chỉnh từ 4 năm lên 8 năm để phù hợp với thực tiễn, nhất là đối với thăm dò khoáng sản kim loại.

Đồng thời, luật này cũng điều chỉnh quy định theo hướng tăng cường sự quản lý của Trung ương trong việc cấp phép: đối với các diện tích khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ chỉ phân cấp cho UBND cấp tỉnh cấp phép (thăm dò, khai thác khoáng sản) ở các khu vực đã được Bộ Tài nguyên Môi trường khoanh định và công bố.