Thursday, February 25, 2010

Bàn về cải cách, hiện đại hóa ngành Hải quan (08-02-2010)

Cải cách và hiện đại là một yêu cầu cấp bách của Chính phủ đặt ra cho ngành trong xu thế chung. Bên cạnh đó, Hải quan còn chịu những áp lực từ bên ngoài đòi hỏi phải thay đổi toàn diện nhằm đáp ứng nhanh chóng với các nhu cầu của thương mại quốc tế ngày càng tăng và thách thức của môi trường ngày càng phức tạp do quá trình hội nhập và toàn cầu hoá mang lại.
Sự cần thiết của cải cách và hiện đại hóa hải quan
Khu vực công thường “cố thủ” trong “lô cốt an toàn” với ưu thế độc quyền, đặc quyền, đặc lợi chiếm lĩnh thị trường cung cấp các hàng hoá dịch vụ công gần như không có cạnh tranh. Nó đóng vai trò “độc diễn” và “tự khen mình” và “đòi hỏi” được nuông chiều trong nôi “quan liêu, bao cấp”. Vì vậy, nó ít khi quan tâm đến những khái niệm như “thoả mãn khách hàng”, “nâng cao chất lượng”, “cải tiến phương pháp”… những khái niệm mà khu vực tư luôn phải đáp ứng nếu muốn tồn tại. Chính những khuyết tật cố hữu đó đã làm cho bản chất của nền hành chính công kiểu cũ chậm trễ, trì trệ và thậm chí nội tại nó không có nhu cầu thay đổi, cải cách và hiện đại hoá chính mình. Tuy nhiên, cùng với thời gian các áp lực cả về chính trị và kinh tế đã buộc khu vực “thủ cựu” này phải thay đổi tư duy và hành động của mình nhằm tránh khỏi một kết cục mà có thể phải trả giá bằng chính sự tồn tại của nó. Trên thực tế, khu vực công không thể còn duy trì “quản lý cơ học” bằng cách “trói buộc” các hoạt động kinh tế xã hội “theo kiểu quan liêu, bao cấp” như trước khi mà nhu cầu nội tại của nền kinh tế xã hội đã chuyển mình mạnh mẽ cùng với tốc độ phát triển khoa học công nghệ và phương pháp quản lý. Chính vì vậy, các chính phủ đã nhận thức cần phải thay đổi, cải cách và hiện đại hoá khu vực công để đảm đương vai trò quản lý nhà nước, đối phó hiệu quả và hiệu lực hơn với sự thay đổi nhanh chóng và khách quan của đời sống kinh tế, xã hội. Khuynh hướng cải cách và hiện đại hoá các cơ quan chính phủ trở thành đòi hỏi cấp bách đối với tất cả các quốc gia muốn khẳng định vai trò quản lý nhà nước một cách hiệu quả, hiệu lực trong khuôn khổ nền kinh tế thị trường.

Với tư cách là cơ quan chính phủ để cung cấp dịch vụ công về hải quan, cơ quan Hải quan đương nhiên có những đặc thù của “cơ quan công quyền, quan liêu, bao cấp, bảo thủ và trì trệ”, vì vậy cải cách và hiện đại là một yêu cầu cấp bách của Chính phủ đặt ra cho ngành trong xu thế chung. Bên cạnh đó, Hải quan còn chịu những áp lực từ bên ngoài đòi hỏi phải thay đổi toàn diện nhằm đáp ứng nhanh chóng với các nhu cầu của thương mại quốc tế ngày càng tăng và thách thức của môi trường ngày càng phức tạp do quá trình hội nhập và toàn cầu hoá mang lại.

Với đặc thù của cơ quan quản lý biên giới, hoạt động quản lý và cung cấp “dịch vụ công” của Hải quan tác động mạnh mẽ đến quá trình thuận lợi hoá thương mại quốc tế. Vì vậy, áp lực đầu tiên đối với ngành Hải quan phải kể đến là sự phát triển nhanh chóng của thương mại quốc tế như hệ quả của quá trình ứng dụng những tiến bộ như vũ bão của khoa học, kỹ thuật công nghệ và đặc biệt công nghệ thông tin trong sản xuất, thương mại và dịch vụ diễn ra ở phạm vi quốc tế. Sự thay đổi trong phương thức thương mại khiến cho quá trình giao dịch thương mại gần như “không có khoảng cách” và nó xẩy gần như “mọi lúc và mọi nơi”. Quá trình này kéo theo nhu cầu phân công hoá lao động, chuyên môn hoá ngày càng cao trong phạm vi quốc tế đối với trao đổi thương mại. Số lượng và chất lượng các bên tham gia với các vai trò khác nhau đảm bảo dây chuyền cung cấp hàng hoá quốc tế ngày càng tăng trưởng. Kết quả là thương mại đã thay đổi nhanh chóng, phát triển về cả số lượng và chất lượng hàng hoá, dịch vụ và các bên tham gia, không còn nguyên bản chất của thương mại 30, 40 năm trước. Thương mại vừa đơn giản vừa phức tạp, đa dạng và phong phú hơn trước rất nhiều. Đơn giản vì nó dường như “nhanh, gọn, dễ dàng hơn” nhưng “phức tạp” đối với quản lý vì có nhiều bên tham gia vào quá trình này và đa dạng, phong phú về phương thức cung cấp. Điều này buộc ngành Hải quan phải có nhiều thay đổi, cải cách và hiện đại hoá ngành nhằm đảm đương vai trò quản lý “mới” trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của thương mại.

Việc tham gia vào nền thương mại thế giới giúp cho các quốc gia có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, những quốc gia hội nhập nhanh chóng với nền kinh tế toàn cầu chính là những nước có khả năng đạt tốc độ tăng trưởng cao. Toàn cầu hoá và hội nhập khu vực đã làm thị trường hàng hoá và dịch vụ ngày càng mở rộng và dường như không có biên giới, tạo ra thị trường cho thương mại quốc tế phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, để tận dụng hết những cơ hội quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cũng như vượt qua những thách thức mà quá trình này đặt ra, sức cạnh tranh của nền kinh tế trong nước cần phải được nâng cao. Số lượng các hiệp định, thoả thuận quốc tế liên quan đến thương mại ngày càng gia tăng nhanh chóng như việc hình thành các khu vực FTA, các khối liên minh hải quan, các trục phát triển, các diễn đàn hợp tác kinh tế và thậm chí cả cấp độ hội nhập cao như Liên minh Châu Âu. Điều này đồng nghĩa các rào cản thuế quan và phi thuế quan phải ngày càng giảm dần và xoá bỏ. Bên cạnh đó, các quốc gia phải cam kết vào các quá trình cải cách, thay đổi để đảm bảo tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu hoá hoạt động kiểm soát nhằm đảm bảo tạo thuận lợi tối đa thương mại hoạt động trong khuôn khổ các hiệp định, thoả thuận. Đương nhiên, thủ tục hải quan được xem là rào cản phi thuế, vì vậy nó cần được thay đổi, cách tân quy trình thủ tục theo các chuẩn mực quốc tế và đáp ứng các cam kết quốc tế. Đây là yêu cầu cấp thiết nhưng mang đầy tính thách thức với ngành Hải quan khi tiến hành các cải cách theo con đường hội nhập, đặc biệt với các nước đang hoặc kém phát triển khi mà nguồn lực cho cải cách còn quá hạn hẹp.

Ngoài ra, một áp lực lớn đối với hoạt động của Hải quan là phải đối phó hiệu quả với mặt trái của quá trình phát triển, mở cửa hội nhập về thương mại quốc tế. Cùng với mở cửa hội nhập, tạo thuận lợi, hoạt động buôn lận, gian lận, trốn thuế, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ phức tạp. Bên cạnh đó, khi bối cảnh thế giới có sự thay đổi với sự xuất hiện và gia tăng nhanh chóng của nguy cơ khủng bố quốc tế và tội phạm xuyên quốc gia, vai trò cũng như chức năng nhiệm vụ của cơ quan hải quan phải có những thay đổi kịp thời để đối phó hữu hiệu với các hoạt động này nhằm bảo vệ nguồn thu cho ngân sách, bảo vệ lợi ích cộng đồng.

Nói tóm lại, nếu ngành Hải quan không có những thay đổi kịp thời thì bản thân nó không đáp ứng với phát triển thương mại mà còn trở thành rào cản lớn đối với thương mại, không đối phó hiệu quả với các tác động bất lợi như buôn lận, giân lận, khủng bố, do đó không làm tròn chức năng bảo vệ nguồn thu và lợi ích cộng đồng, vô tình ngăn cản sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Vì vậy, con đường duy nhất để giải quyết bài toán gần như mâu thuẫn trong sứ mệnh của ngành Hải quan là tạo thuận lợi tối đa cho thương mại quốc tế vừa đảm bảo an ninh quốc gia, thực thi pháp luật và bảo vệ được các lợi ích chung của cộng đồng, hải quan cần phải nâng cao tính hiệu quả và hiệu lực các hoạt động của mình thông qua những nỗ lực cải cách và hiện đại hóa.

Các yếu tố cần thiết để thực hiện thành công cải cách và hiện đại hóa hải quan

Đầu tiên, chính phủ và ngành hải quan phải đặt ra quyết tâm chính trị đối với cải cách và hiện đại hoá như sứ mệnh sống còn của ngành, xác định là nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong quá trình thúc đẩy và phục vụ tốt nhất cho sự phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, công cuộc cải cách cần phải được thực hiện trên cơ sở nhận thức đúng đắn về môi trường hoạt động của hải quan và phải nhận được sự hỗ trợ từ phía chính phủ dưới dạng cam kết chính trị để có thể vượt qua những khó khăn và thách thức trong quá trình triển khai áp dụng các biện pháp mới. Từ quyết tâm chính trị, ngành Hải quan cần tự mình nhận thức và thay đổi tư duy quản lý, xác định chiến lược phục vụ, trở thành người cung cấp dịch vụ công về hải quan, người quản lý nhằm tạo thuận lợi cho thương mại hợp pháp như vai trò chính của ngành. Bên cạnh đó, Hải quan cần thay đổi tư duy về phương pháp quản lý để đảm bảo vừa tạo thuận lợi vừa nâng cao tính tuân thủ. Điều mấu chốt của vấn đề là xác định rõ tầm nhìn, sứ mệnh, nhiệm vụ của ngành trong chiến lược phát triển cải cách và hiện đại hoá, và tiến hành với tư duy “mới”, xoá bỏ những phương pháp “kiểm soát truyền thống”.

Tuy nhiên, do là cơ quan chính phủ, Hải quan cũng chịu chi phối bởi nguồn lực hạn hẹp và có khuynh hướng ngày càng giảm. Đây chính là áp lực lớn đối với hoạt động của Hải quan. Nhiệm vụ đặt ra đối với công cuộc cải cách và hiện đại hoá Hải quan là nâng cao chất lượng dịch vụ công về hải quan đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của doanh nghiệp, công dân nhưng phải tiết kiệm tối đa nguồn lực. Chính vì vậy, giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa áp lực công việc tăng lên về số lượng và độ phức tạp, do yêu cầu ngày càng nhiều từ cả chính phủ và doanh nghiệp; trong khi đó nguồn lực công rất hạn chế và giảm dần đòi hỏi phải thay đổi tư duy quản lý bằng cách tập trung nguồn lực vào các rủi ro, không thể và không cho phép dàn trải theo kiểu cũ kém hiệu quả và hiệu lực. Điều này đòi hỏi Hải quan phải áp dụng các công nghệ, khoa học kỹ thuật mới, ứng dụng tối đa công nghệ thông tin để thay đổi, hợp lý hoá quy trình thủ tục tiết kiệm chi phí cho cả Hải quan và doanh nghiệp. Như vậy, cải cách và hiện đại hoá phải đi liền quá trình áp dụng các phương pháp quản lý khoa học, lôgíc và phù hợp với thương mại, giảm các chi phí, tiết kiệm nguồn lực và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Vai trò ứng dụng khoa học, công nghệ vào phương pháp, kỹ thuật quản lý của Hải quan là vô cùng quan trọng để tiến hành thành công cải cách và hiện đại hóa.

Trong bối cảnh thương mại thế giới ngày một phát triển với sự gia tăng nhanh chóng của các hiệp định tự do thương mại và không ngừng cắt giảm hàng rào thuế quan, Hải quan có thể góp phần tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp của nước mình thông qua việc tạo thuận lợi thương mại, giúp các doanh nghiệp giảm thiểu tối đa các chi phí nhờ áp dụng các qui trình thủ tục hải quan hiện đại, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, các cam kết hội nhập. Tham gia vào sân chơi rộng lớn, có cả cơ hội và thách thức, Hải quan phải nhận thức rõ vai trò của mình trong “cộng đồng hải quan thế giới”, không thể tách mình ra để tìm một cách cải cách cho riêng mình. Hải quan chỉ có thể thành công trong cải cách nếu tìm ra hướng đi đúng đảm bảo lợi ích kinh tế của quốc gia, đóng góp tích cực và chủ động trong việc xây dựng và thực hiện các cam kết và tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến hoạt động hải quan như Công ước Kyoto sửa đổi, Công ước quốc tế về Hệ thống mã hóa và mô tả hài hòa hàng hóa, Hiệp định về Trị giá hải quan, Hiệp định về hài hoà Quy tắc xuất xứ hàng hóa...v.v.

Cải cách và hiện đại hoá bao giờ cũng dễ vấp phải các lực cản nhất định từ ngay nội bộ ngành và từ bên ngoài khi mà động chạm đến “đặc quyền, đặc lợi” của nhóm nhất định. Điều này đòi hỏi quá trình cải cách phải được tuyên truyền, vận động đến từng cá nhân, tạo ra cơ sở nhận thức đồng nhất, thấy được những lợi ích lâu dài và hy sinh trước mắt, đề ra các phương án giải quyết dân chủ và thoả đáng đối với nhóm lợi ích hợp pháp bị tổn thương do cải cách, tranh thủ sự đồng tình của đa số. Tuy nhiên, cải cách luôn đòi hỏi phải thực hiện những thay đổi triệt để và quyết liệt, thậm chí là những thay đổi về cắt giảm nhân sự, cách chức các quan chức lãnh đạo cấp cao hay cán bộ hải quan tham nhũng hoặc làm việc không hiệu quả. Nếu nhận thức không đầy đủ, không có quyết tâm và không có tầm nhìn chiến lược, các mục tiêu cải cách quan trọng như giảm bớt nạn tham nhũng và hỗ trợ thương mại có thể không được chuyển hóa thành các chương trình cụ thể, thậm chí bị gạt sang một bên để ưu tiên cho mục tiêu tăng thu ngân sách. Cải cách hải quan còn xuất phát từ mong muốn giảm chi phí kinh doanh và tăng tính minh bạch cho các hoạt động kinh doanh của công đồng doanh nghiệp cũng như mong muốn xóa bỏ tận gốc tệ nạn tham nhũng đối với doanh nghiệp và công dân.

Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho cải cách là yếu tố quyết định vì “con người luôn giữ vai trò trung tâm của các hoạt động”. Mọi phương pháp quản lý chiên lược đều xác định vai trò quyết định của nhân lực vì vậy cải cách và hiện đại hoá Hải quan cũng phải xác định công tác tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm và sử dụng đội ngũ cán bộ dựa trên nguyên tắc “quản lý xây dựng năng lực”, từ bỏ lối mòn “bầu cử, bỏ phiếu theo ý kiến chủ quan mà không quan tâm thích đáng đến yêu cầu năng lực, khả năng của người khi đảm đương nhiệm vụ”. Như vậy, chiên lược phát triển nguồn nhân lực phải được xác đinh chi tiết dựa trên yêu cầu của cải cách và hiện đại hoá.

Vấn đề quan trọng cần xem xét khi thực hiện cải cách là xây dựng mối quan hệ phối hợp, hợp tác nhiều mặt với các cơ quan liên quan, với doanh nghiệp và với hải quan các nước, các tổ chức liên quan. Hải quan không thể hoạt động độc lập tại biên giới bởi bản chất của kiểm soát biên giới đòi hỏi nhiều ngành chức năng của chính phủ tham gia kiểm soát. Chính điều này cũng dẫn đến sự chậm trễ, quan liêu và tăng đáng kể chi phí cho thương mại. Cải cách và hiện đại hoá theo mô hình quốc tế là tạo ra cơ chế kiểm soát 1 cửa, 1 lần tại biên giới và khi đó Hải quan sẽ đại diện cho các ngành khác tiến hành kiểm soát biên giới. Điều này chỉ thực hiện được khi có cơ chế phối hợp quốc gia và quốc tế. Khuynh hướng chung của quốc tế về chia xẻ thông tin, cơ sở hạ tầng và phối hợp kiêm soát sẽ là mục tiêu của cải cách hiện đại hoá ngành hải quan.

Tìm kiếm hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và các hỗ trợ khác cho cải cách là nhiệm vụ quan trọng, thâm chí quyết định mức độ thành công. Đây là vấn đề cần phải quan tâm đúng mực để quá trình cải cách có thể diễn ra một cách thuận lợi. Trên thực tế, các nguồn hỗ trợ này đóng vai trò quyết định tới mức độ thành công của các dự án hiện đại hóa và cải cách hải quan. Hỗ trợ về kỹ thuật trong lĩnh vực hải quan tương đối dồi dào và có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau như hỗ trợ từ các chuyên gia, các công ty tư vấn tư nhân hay các định chế tài chính quốc tế lớn bao gồm Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình thực thi, cần phải có sự phối hợp hay điều phối đầy đủ giữa các nguồn tư vấn khác nhau. Ngoài ra, hỗ trợ kỹ thuật thường gắn liền với hỗ trợ tài chính vì cả việc cung cấp lẫn tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật đều là những hoạt động tốn kém. Thêm vào đó, nhiều nội dung khác trong chương trình cải cách hải quan cũng đòi hỏi phải có nguồn tài chính lớn để thực hiện như nâng cấp để triển khai hệ thống tự động hay cung cấp hạ tầng truyền thông. Để đảm bảo được nguồn tài chính đáp ứng kịp thời được nhu cầu chi tiêu của chương trình cải cách, một trong những phương án tối ưu là xây dựng quan hệ với các tổ chức quốc tế có khả năng hỗ trợ tài chính cho các khoản chi phí lớn và khẩn cấp song song với việc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền cấp ngân sách cho các hoạt động trong khuôn khổ chương trình cải cách. Bên cạnh hỗ trợ kỹ thuật và hỗ trợ tài chính, sự phối hợp với các cơ quan chính phủ khác và các bên có liên quan cũng đóng vai trò rất tích cực đối với thành công của chương trình cải cách. Khi cải cách hải quan được mở rộng ra ngoài phạm vi của ngành hải quan và được đặt trong bối cảnh rộng lớn hơn của cải cách thương mại, hiệu quả của chương trình cải cách có thể được nâng cao đáng kể nhờ có hỗ trợ từ phía các cơ quan ban ngành khác có liên quan.

Công tác nghiên cứu, dự báo cũng đóng vai trò rất quan trọng vào khả năng thực hiện thành công cải cách. Do mức độ cải cách và mục tiêu hoạt động của hải quan mỗi nước không giống nhau nên việc nghiên cứu dự đoán để hiểu rõ tình hình hiện tại, dự báo xu hướng phát triển trong tương lai nhằm mục đích xây dựng chương trình cải cách phù hợp và đúng hướng là một trong những công việc phải ưu tiên hàng đầu trong quá trình cải cách. Công tác nghiên cứu dự đoán có thể được tiến hành trên cơ sở sử dụng các bộ công cụ và phương pháp khác nhau như các chỉ số dùng để đo lường lượng thất thoát trong thu thuế; Bộ công cụ hỗ trợ thương mại của Ngân hàng thế giới phục vụ cho công tác khảo sát các dịch vụ thương mại và vận tải; Hướng dẫn hải quan quốc tế của Phòng thương mại quốc tế; Bộ công cụ xây dựng năng lực của Tổ chức hải quan thế giới; Hướng dẫn chi tiết về đánh giá hiện trạng hải quan của Ủy ban Châu Âu.

Rõ ràng, lợi ích mà các sáng kiến cải cách và hiện đại hóa hải quan mang lại là rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, nhất là khi các sáng kiến này tập trung vào cải cách chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. Cải cách và hiện đại hóa hải quan thành công có thể góp phần giảm đáng kể các chi phí thương mại và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình cải cách dễ gặp phải những cản trở bắt nguồn từ thái độ thiếu hợp tác giữa các cơ quan biên giới, phản ứng tiêu cực do những thay đổi nhân sự trong ngành cũng như hiệu quả thấp trong cuộc chiến chống tham nhũng. Để quá trình hiện đại hóa hải quan đạt được cơ hội thành công lớn hơn, các phản ứng có tác động tiêu cực cần phải được tính đến ngay trong quá trình xây dựng chương trình cải cách.

Cải cách và hiện đại hóa Hải quan Việt Nam

Cũng giống như hải quan nhiều nước khác trên thế giới, yêu cầu cải cách và hiện đại hóa là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho hải quan Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam tăng cường và thúc đẩy ngày càng mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của mình. Về cơ bản, cải cách và hiện đại hóa hải quan Việt Nam cần dựa trên những nguyên tắc áp dụng chung cho tất cả các nước nhưng phải được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh riêng của nước mình.

Sau khi triển khai giai đoạn đầu, công cuộc cải cách và hiện đại hóa của hải quan Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định. Đáng chú ý là các kết quả liên quan đến nhận thức của cán bộ công chức về hiện đại hóa hải quan; hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động hải quan; đổi mới phương pháp quản lý hải quan từ tiền kiểm sang hậu kiểm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; kiện toàn hệ thống tổ chức; tăng thu cho ngân sách nhà nước; áp dụng phương pháp quản lý rủi ro cũng như các phương pháp quản lý hải quan hiện đại. Những kết quả đạt được đã chuẩn bị những điều kiện cần thiết về thể chế, nguồn nhân lực, quy trình thủ tục và trang thiết bị để hải quan Việt Nam có thể tiếp tục triển khai chương trình cải cách hiện đại hóa trong các giai đoạn tiếp theo.

Mặc dù những kết quả đạt được rất đáng khích lệ, một số vấn đề vẫn còn tồn tại trong quá trình cải cách hiện đại hóa, chủ yếu là các vấn đề liên quan đến nhận thức của cán bộ công chức hải quan, xây dựng cũng như tổ chức thực hiện kế hoạch và sự tham gia của các bên liên quan. Những tồn tại này cần phải được giải quyết và khắc phục sớm để có thể tiếp tục triển khai chương trình cải cách trong những giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh đó, dựa vào kinh nghiệm rút ra từ việc triển khai kế hoạch cải cách hiện đại hóa hải quan giai đoạn trước, công cuộc cải cách trong giai đoạn tiếp theo cần phải lưu ý và chú trọng đến xây dựng chiến lược, công tác cán bộ, lãnh đạo, công tác phối hợp với các bên liên quan cũng như công tác giáo dục tuyên truyền.

Thứ nhất, cần phải xây dựng chiến lược phát triển ngành hải quan mang tính chất định hướng lâu dài cho cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành;

Thứ hai, đánh giá đúng vai trò trọng tâm của công tác cán bộ trong cải cách hiện đại hóa hải quan; tiến hành xây dựng, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ song song với công tác đánh giá, bố trí sắp xếp, đề bạt và luân chuyển cán bộ;

Thứ ba, công tác lãnh đạo của hải quan các cấp phải đảm bảo bám sát mục tiêu đã đề ra trong chương trình cải cách và đảm bảo tính thiết thực. Ngoài ra, công tác điều phối, kiểm tra giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện kế hoạch để rút kinh nghiệm cũng cần phải được chú trọng để nâng cao tính hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo;

Thứ tư, cơ quan hải quan cần phải chủ động nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phối hợp với các cơ quan Bộ, ngành có liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chung để đạt được hiệu quả cao nhất trong cải cách hiện đại hóa. Thứ năm, công tác giáo dục tuyên truyền cần phải được đẩy mạnh nhằm nâng cao nhận thức và quyết tâm thực hiện các mục tiêu cải cách cho đội ngũ cán bộ; tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác của khối doanh nghiệp và các đối tác khác cũng như đảm bảo hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra trong quá trình cải cách, hiện đại hóa hải quan.

Ths. Ngô Minh Tuấn (Viện NCHQ)

http://www.tapchitaichinh.vn/Qu%e1%ba%a3ntr%e1%bb%8bn%e1%bb%99idung/ViewArticleDetail/tabid/56/Key/ViewArticleContent/ArticleId/1488/Default.aspx

Monday, February 22, 2010

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Đưa Việt Nam thành nước mạnh về CNTT sau 7 năm nữa

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho biết, Chính phủ sẽ cùng các DN CNTT, các đơn vị đào tạo đặt quyết tâm sau 7 năm nữa, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT trên thế giới, đồng thời đưa ngành CNPM và các dịch vụ CNTT thành hướng phát triển mũi nhọn của nền kinh tế.

Với chủ đề “Xây dựng Chính quyền điện tử tại địa phương”, Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử (CPĐT) đã được tổ chức ngày 16/7 tại TP. Hồ Chí Minh. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Trưởng ban chỉ đạo công nghệ thông tin (CNTT) quốc gia đã tới dự và phát biểu chỉ đạo.

Văn bản pháp lý chưa theo kịp sự phát triển

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: CNTT quyết định tới 90% năng suất lao động của cán bộ, công chức. Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra bất cập trong quá trình xây dựng CPĐT, đó là chuyện “người cũ làm việc mới” mà cụ thể là hầu hết cán bộ lãnh đạo, quản lý CNTT ở các địa phương đều không được đào tạo cơ bản về CNTT.

Ngoài ra, một vấn đề nữa cần phải khắc phục ngay là mâu thuẫn giữa văn bản pháp luật về quản lý đầu tư và việc mua sắm, đầu tư thiết bị CNTT. Trong khi các thiết bị CNTT, phần mềm thay đổi nhanh chóng thì các văn bản quy định về đầu tư mua sắm thiết bị “chưa theo kịp” nên đã gây ra những cản trở nhất định. Phó Thủ tướng cho rằng, công tác xây dựng CPĐT đòi hỏi quyết tâm cao của các địa phương.

Tại Hội thảo, báo cáo tham luận của Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) đã chỉ ra xu hướng của Chính phủ điện tử đang chuyển dần sang một giai đoạn mới mà nhân tố quan trọng nhất là thông tin. Tương lai của CPĐT sẽ là một hệ thống mới xoay quanh việc hình thành, chia sẻ và luân chuyển của các luồng thông tin trong nội bộ các cơ quan Chính phủ cũng như giữa Chính phủ với người dân và các DN. Có thể coi đây là một hệ thống “mở” về thông tin. Trong hệ thống này, thông tin sẽ được lưu chuyển rộng rãi trên mạng và được chọn lọc để sử dụng một cách hiệu quả nhất tùy vào người và mục đích sử dụng.

Tuy nhiên, như với bất kỳ một hệ thống “mở” nào, hệ thống thông tin này gắn liền với những thách thức về quản lý, công nghệ, đầu tư và đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải lường trước được sự phức tạp nảy sinh từ thực tế, từ đó, có biện pháp quản lý phù hợp.

Theo Bộ TT&TT, việc triển khai ứng dụng hệ thống thư điện tử cho cán bộ, công chức trên cả nước tính đến hết năm 2008 như sau: Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: có 80% cán bộ được cung cấp hộp thư điện tử công vụ, nhưng chỉ 47% thường xuyên sử dụng và chỉ có 21% Bộ, cơ quan ngang Bộ ứng dụng thành công CNTT trong quản lý.

Ở địa phương: chỉ có 43% cán bộ, công chức được cấp hộp thư công vụ nhưng chỉ có 24% trong số này thường xuyên sử dụng hộp thư điện tử. 80% công chức các Bộ được trang bị máy tính; các tỉnh là 60%.

Tỷ lệ tổ chức họp theo hình thức trực tuyến đối với các Bộ, ngành là 63%, các địa phương là 38%.

Hiện còn 2 Bộ chưa xây dựng Cổng TTĐT là Bộ Quốc phòng và Bộ Công an; 3 địa phương chưa có trang tin điện tử là Hòa Bình, Ninh Bình và Đắk Nông.

Những kinh nghiệm từ ứng dụng CNTT tại các địa phương thời gian qua cho thấy, cần phải tìm hiểu nhu cầu của người dân, của DN trước khi thực hiện “tin học hóa” các thủ tục hành chính để cho các dịch vụ này đi vào cuộc sống một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Đào tạo nhân lực CNTT: Chính phủ sẽ chi 900 tỷ đồng

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cũng cho biết, Chính phủ sẽ cùng các DN CNTT, các đơn vị đào tạo đặt quyết tâm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT sau 7 năm nữa.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh: Trong 10 năm tới, ngành CNTT thế giới sẽ có những sự thay đổi rất nhanh chóng. Ngành CNTT nói chung và CNPM chắc chắn là lợi thế của Việt Nam trong tương lai. CNTT rất phù hợp với tố chất của con người Việt Nam vốn sáng tạo và thông minh. Vì vậy trong thời gian tới Bộ GD-ĐT và Bộ TT&TT sẽ phải phác họa chính xác bức tranh về nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực CNTT. Theo đó, sớm nghiên cứu thành lập một đơn vị đầu mối đủ mạnh để chuyên thực hiện việc đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực CNTT, đáp ứng đòi hỏi rất lớn của ngành CNTT trong thời gian tới.

Năm 2008, ngành CNTT Việt Nam vẫn tăng trưởng cao. Tổng doanh thu đạt 4,74 tỷ USD, mức tăng trưởng bình quân 49% (trong đó phần cứng là 19%, phần mềm và dịch vụ tăng trưởng 87%). Tổng nhân lực toàn ngành phần mềm và dịch vụ CNTT ở nước ta khoảng 30.000 người, năng suất bình quân đạt 11.000 USD/người/năm.

Trong 5 năm tới, Chính phủ sẽ chi 900 tỷ đồng cho công tác đào tạo nguồn nhân lực CNTT. Các trường đại học đều sẵn sàng tham gia đào tạo CNTT, đặc biệt là nhu cầu các DN trong và ngoài nước đều rất cần nguồn nhân lực này. Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ TT&TT cần nhanh chóng có phương án giải quyết vấn đề cung cấp nhân lực để ngành CNTT Việt Nam phát triển nhanh và bền vững. Phó Thủ tướng cũng yêu cầu, các thành viên của Ban chỉ đạo quốc gia về CNTT cần sát sao, chủ động hơn nữa trong công tác tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ với những ý tưởng sáng tạo, để trong 3 năm tới, chúng ta đạt được kết quả tốt hơn.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho biết, Chính phủ sẽ cùng các DN CNTT, các đơn vị đào tạo đặt quyết tâm sau 7 năm nữa, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT trên thế giới, đồng thời đưa ngành CNPM và các dịch vụ CNTT thành hướng phát triển mũi nhọn của nền kinh tế.

Theo các báo cáo tại Hội thảo, ngành CNPM và CNTT ở nước ta chỉ đóng góp 0,5% trong GDP; có tới 70% DN quy mô rất nhỏ (dưới 10 người, số vốn dưới 1 tỷ đồng); đa số hoạt động tự phát, chưa tạo ra những định hướng sáng tạo, phát triển bền vững.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Công ty Nghiên cứu thị trường KPMG: Từ năm 2007 đến nay, Việt Nam đã lọt vào top 30 thế giới (Canada đứng đầu với 33 điểm, Việt Nam xếp hạng 28 với 9 điểm). Về tốc độ phát triển Internet, Việt Nam hiện đứng thứ 18 thế giới, thứ 6 châu Á với 21 triệu người sử dụng Internet. Đến năm 2015 dự kiến Việt Nam sẽ có 600.000 chuyên gia về CNTT, năm 2020 con số này sẽ là 1 triệu người.

(Tổng hợp theo Cổng TTĐT chính phủ)
(Nguồn: VietnamNet)

http://www.hca.org.vn/tin_tuc/hd_hoi/nam2009/thang7/cnttmanhsau7namnua

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng truyền thông điệp tại WITFOR 2009

Việt Nam mong muốn là thành viên tích cực của cộng đồng CNTT thế giới, Chính phủ Việt Nam sẽ dành sự quan tâm đặc biệt cho các tập đoàn CNTT đa quốc gia, xây dựng, triển khai và khuyến khích việc ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực đời sống, tạo ra một thị trường CNTT năng động. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã truyền thông điệp đó khi phát biểu khai mạc Diễn đàn CNTT thế giới (WITFOR 2009) tổ chức tại Hà Nội, sáng 26/8/2009.

* Toàn văn phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Việt Nam mong muốn là thành viên tích cực của cộng đồng CNTT thế giới - Ảnh Chinhphu.vn

Dự Diễn đàn có gần 1.500 đại biểu là Bộ trưởng phụ trách CNTT, Bộ trưởng các ngành mà CNTT đóng vai trò quan trọng như hàng không, tài chính; lãnh đạo các tổ chức quốc tế, các hiệp hội, doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, trường đại học đến từ hơn 70 quốc gia, vùng lãnh thổ và nước chủ nhà Việt Nam tham dự.

CNTT là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, CNTT đặc biệt là Internet đã làm cho thế giới ngày càng gần gũi hơn, tăng cường sự hiểu biết, giao lưu và hợp tác giữa các dân tộc, các quốc gia. Việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đã góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Đồng thời CNTT cũng tạo thêm nhiều cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển.

Thủ tướng nêu rõ: Việt Nam coi CNTT và truyền thông là một công cụ quan trọng hàng đầu, là ngành kinh tế mũi nhọn để thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, xây dựng xã hội thông tin, rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước. Năm 2008, doanh thu của ngành công nghệ thông tin và truyền thông đạt trên 10 tỷ USD, tỷ lệ sử dụng Internet đạt khoảng 25% và phổ cập điện thoại ở mức độ cao, góp phần quan trọng vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng, nâng cao hiệu quả kinh tế của Việt Nam, nâng cao đời sống vật chất-tinh thần của người dân, đẩy nhanh sự hội nhập của Việt Nam với thế giới.

Thủ tướng cho biết: Việt Nam đang xây dựng chiến lược tăng tốc để sớm trở thành quốc gia mạnh về CNTT, trong đó tập trung vào việc hoàn thiện môi trường pháp lý, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thông tin, phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong các ngành kinh tế-xã hội, đặc biệt chú trọng việc phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đông đảo và có chất lượng cao. Thủ tướng đánh giá cao sự ủng hộ và hợp tác của các nước và cộng đồng quốc tế.

Quang cảnh Diễn đàn WITFOR 2009 - Ảnh Chinhphu.vn

Công nghệ thông tin vì sự phát triển bền vững

Thủ tướng hoan nghênh và đánh giá cao việc Diễn đàn Công nghệ thông tin thế giới lần này đã lựa chọn chủ đề "Công nghệ thông tin vì sự phát triển bền vững" và cho rằng, chủ đề này có ý nghĩa thiết thực trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ do Liên Hợp Quốc đề ra.

Diễn đàn còn là cơ hội để thảo luận một cách toàn diện và sâu sắc về các chính sách, kinh nghiệm, cơ hội hợp tác phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giải quyết các thách thức đối với sự phát triển bền vững trong đó có phát triển nông nghiệp và nông thôn, cơ sở hạ tầng truyền thông, giáo dục, y tế, bình đẳng giới, môi trường, Chính phủ điện tử, cơ hội kinh tế, chính sách hỗ trợ, mô hình hợp tác về công nghệ thông tin, việc sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng, nguồn tài nguyên thiên nhiên, đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu, dịch bệnh, đói nghèo và khủng hoảng kinh tế toàn cầu,…

Thủ tướng hy vọng, thông qua Diễn đàn này, sẽ đưa ra các sáng kiến, các chương trình hợp tác và các giải pháp chung cho các nước đang phát triển, đồng thời trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về các xu hướng công nghệ mới phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội bền vững và tin tưởng CNTT sẽ góp phần tích cực vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, sự phồn vinh và thịnh vượng chung của khu vực và trên thế giới.

Thông điệp của Việt Nam

Các đại biểu tham dự Diễn đàn WITFOR 2009 - Ảnh Chinhphu.vn

Tại Diễn đàn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chuyển đến các vị đại biểu thông điệp: Việt Nam mong muốn là thành viên tích cực của cộng đồng CNTT thế giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển bền vững; Chính phủ Việt Nam sẽ dành sự quan tâm đặc biệt cho các tập đoàn CNTT đa quốc gia, xây dựng, triển khai và khuyến khích việc ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội và tạo ra một thị trường CNTT năng động; doanh nghiệp CNTT Việt Nam là những đối tác tin cậy, mong muốn hợp tác với nước ngoài trong các dự án kinh doanh, ứng dụng công nghệ thông tin của mình.

WITFOR 2009 diễn ra từ 26-28/8 sẽ bao gồm 7 phiên họp toàn thể và 32 phiên họp song song của 8 Ủy ban chuyên môn với các chủ đề: Vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội trong thúc đẩy ứng dụng, phát triển CNTT, CNTT vì sự phát triển bền vững, vai trò của phụ nữ đối với phát triển CNTT, phần mềm nguồn mở, các đóng góp của doanh nghiệp trong ngành CNTT, kinh nghiệm điển hình của một số nước về chính sách phát triển, hợp tác nhà nước - tư nhân và các khuyến nghị về chính sách.

Bên lề WITFOR còn có các hoạt động: Chương trình Đối thoại “CNTT – Đánh giá đa chiều” với sự tham gia chủ trì của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và lãnh đạo các Bộ, ngành, tập đoàn CNTT trong và ngoài nước, Chương trình “Máy tính cho cuộc sống” nhằm gây dựng quỹ máy tính cho người dân nghèo thông qua hình thức vận động, quyên góp từ các tổ chức, doanh nghiệp hảo tâm cả trong và ngoài nước.

Diễn đàn Công nghệ thông tin thế giới (WITFOR) được tổ chức theo sáng kiến của Liên Hiệp Quốc tế về Khoa học Công nghệ thông tin (IFIP) từ năm 2003 tại Vilnius (Lithuania); tiếp đó là Gaborone (Botswana) năm 2005; Addis Ababa (Ethiopia) năm 2007. WITFOR 2009 lần đầu tiên tổ chức tại một nước châu Á là Việt Nam từ 26-28/10/2009. Chủ đề của WITFOR 2009 là “Công nghệ thông tin vì sự phát triển bền vững”. WITFOR 2009 được nhiều chuyên gia đánh giá sẽ có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển CNTT của Việt Nam và tạo cơ hội giao thương, hợp tác đầu tư trong lĩnh vực CNTT trong khu vực và quốc tế.


Diễn đàn Công nghệ thông tin thế giới (WITFOR) được tổ chức theo sáng kiến của Liên Hiệp Quốc tế về Khoa học Công nghệ thông tin (IFIP) từ năm 2003 tại Vilnius (Lithuania); tiếp đó là Gaborone (Botswana) năm 2005; Addis Ababa (Ethiopia) năm 2007. WITFOR 2009 lần đầu tiên tổ chức tại một nước châu Á là Việt Nam từ 26-28/10/2009. Chủ đề của WITFOR 2009 là “Công nghệ thông tin vì sự phát triển bền vững”. WITFOR 2009 được nhiều chuyên gia đánh giá sẽ có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển CNTT của Việt Nam và tạo cơ hội giao thương, hợp tác đầu tư trong lĩnh vực CNTT trong khu vực và quốc tế.


Việt Đông
Ảnh: Nhật Bắc
(Nguồn: Chinhphu.vn)

http://www.hca.org.vn/tin_tuc/hd_hoi/nam2009/thang8/truyenthongdieptaiwitfor?b_start:int=20

Triển lãm hàng Điện tử và CNTT lần đầu tiên tại Việt Nam

Sáng ngày 7/8/2009, Hội tin học Tp HCM (HCA) đã tổ chức buổi Họp báo công bố sự kiện Hội chợ Triển lãm Hàng Điện tử và Công nghệ Thông tin 2009 (FECIT 2009) lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.



Đây là sự kiện nằm trong kế hoạch chương trình hoạt động của Thành phố HCM nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong lĩnh vực Công nghệ Thông tin – Truyền thông - Điện tử dân dụng có cơ hội tham gia, tiếp cận với các khách hàng tiềm năng cũng như quảng bá sản phẩm, dịch vụ, công nghệ mới trên thị trường với các doanh nghiệp lớn đang hoạt động tại Việt Nam.

Dự kiến, sự kiện sẽ được tổ chức hàng năm vào giữa tháng 10 để các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Điện tử, phần cứng, phần mềm, Viễn thông, Internet, game… có dịp tụ hội về triển lãm và cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu các công nghệ, giải pháp mới và cùng giúp nhau đẩy mạnh hoạt động sản xuất nhất là trong thời kỳ nền kinh tế đang có dấu hiệu hồi phục hiện nay.

Năm nay, sự kiện sẽ diễn ra từ ngày 15-18/10/2009 tại nhà thi đấu Phú Thọ (Tp HCM) với diện tích triển lãm là 8,000m2, trên 150 gian hàng trưng bày và bán sản phẩm. Đặc biệt, Ban Tổ chức còn dành diện tích đáng kể cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (những doanh nghiệp chưa có điều kiện giới thiệu thương hiệu ở các cuộc triển lãm qui mô lớn).

Bên cạnh đó, tại đây sinh viên và người tiêu dùng có thể mua những sản phẩm công nghệ mới với giá chỉ bằng 80% đến 50% giá bán trên thị trường. Hơn nữa, Ban Tổ chức còn bố trí một khu vực dành riêng cho những người yêu thích chụp ảnh (Photo Corner) với hơn 10 gian hàng Digital Photo trưng bày các thiết bị và phụ tùng của ngành nhiếp ảnh để thử tài sáng tác ảnh tại chỗ cùng với các công nghệ mới, hiện đại của các hãng lớn như Canon, Sony, Nikon, Olympus, Panasonic, Epson… với những giải thưởng cực kỳ hấp dẫn. Sự kiện hứa hẹn sẽ thu hút được khoảng 30 nghìn lượt khách tham quan.

Cũng trong khuôn khổ sự kiện, Ban tổ chức còn tổ chức "Ngày hội việc làm" với mục đích hướng dẫn, rèn luyện kỹ năng cho sinh viên khi học và chuẩn bị ra trường; khởi nghiệp cho các em cũng như tạo cơ hội cho các em tìm kiếm các vị trí việc làm mới.

Hà Bùi
(Nguồn: VnMedia)

http://www.hca.org.vn/tin_tuc/hd_hoi/nam2009/thang8/fecitlandautien

HCA họp báo giới thiệu sự kiện FECIT 2009 - HỘI CHỢ TRIỂN LÃM HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 2009 - LẦN THỨ I

Ngày 7/8/2009, Hội tin học TP.HCM (HCA) đã tổ chức buổi họp báo giới thiệu sự kiện FECIT 2009 - HỘI CHỢ TRIỂN LÃM HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 2009 - LẦN THỨ I tại K/S Sofitel Plaza TP.HCM. Tham dự buối lễ có Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM, Ông Chu Tiến Dũng - Chủ tịch HCA cùng đại diện các doanh nghiệp CNTT-TT, Điện tử TP.HCM và đông đảo giới báo chí tham dự.

Được sự bảo trợ của Sở Thông tin và Truyền thông Tp. Hồ Chí Minh và Sở Công thương Tp. Hồ Chí Minh, Hội Tin Học Tp.HCM (HCA) dưới sự phối hợp thực hiện của Công ty TNHH Tư vấn Hỗ trợ CNTT – Hội Tin Học Tp.HCM (ITP Co., Ltd.) và Công ty TriStar Event tổ chức sự kiện Hội chợ Triển lãm Hàng Điện tử và Công nghệ Thông tin 2009, tên tiếng anh Fair of Electronics Communication Information Technology 2009 (viết tắt FECIT 2009) từ ngày 15-18/10/2009 tại Khu Liên hợp Thể dục Thể thao Phú Thọ - 221 Lý Thường Kiệt, Quận 11, Tp.HCM. Đây là lần đầu tiên sự kiện FECIT được tổ chức và sẽ được tổ chức thường niên vào giữa tháng 10. Hội chợ Triển lãm này được tổ chức với mục đích hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước có cơ hội giới thiệu các công nghệ mới, thiết bị điện hội tụ nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Điện tử, phần cứng, phần mềm, Viễn thông, Internet, game…

Đây là Hội chợ Triển lãm được tổ chức nằm trong kế hoạch chương trình hoạt động của Thành phố nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong lĩnh vực Công nghệ Thông tin – Truyền thông - Điện tử dân dụng có cơ hội tham gia, tiếp cận với các khách hàng tiềm năng, quảng bá sản phẩm, dịch vụ, công nghệ mới trên thị trường cùng với các doanh nghiệp lớn đang hoạt động tại Việt Nam. Đây là một trong những chương trình để doanh nghiệp đẩy mạnh, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là trong tình hình ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang có dấu hiệu hồi phục.

Hội chợ Triển lãm FECIT 2009 tại Nhà Thi Đấu Phú Thọ từ ngày 15 dến 18 tháng 10 năm 2009 mang nhiều dấu ấn Hội chợ, dành diện tích đáng kể cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những doanh nghiệp chưa có điều kiện giới thiệu thương hiệu ở các cuộc triển lãm qui mô lớn. Ngoài ra trong thời gian này cũng là ngày hội của những người tiêu dùng, nơi có thể mua được những sản phẩm công nghệ mới với giá rẻ hơn giá thị trường từ 20% đến 50%, ngày hội của giới sinh viên học sinh, giới yêu thích sản phẩm kỹ thuật số.

CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRONG SỰ KIỆN FECIT 2009
1. Hội chợ Triển lãm (từ ngày 15-18/10/2009): với 8,000m2, khoảng trên 150 gian hàng trưng bày và bán các sản phẩm phần cứng, Phần mềm, Điện tử dân dụng, Game… Hội chợ Triển lãm FECIT 2009 sẽ có sự tham gia của doanh nghiệp thuộc các câu Lạc Bộ của Hội Tin Học Tp.HCM như: CLB Bán lẻ ICT (ICT Reseller Club), Câu Lạc Bộ các Doanh nghiệp CNTT-TT Việt Nam Hàng đầu (Top ICT Companies Club), CLB Nhiếp ảnh Hội Tin Học Tp.HCM (HCA Photo Club) và hai CLB thuộc Hiệp hội doanh nghiệp Điện tử Việt Nam là CLB Doanh nghiệp Sản xuất Máy tính Việt Nam (VCM Club) và Câu lạc bộ các nhà phân phối ICT ( ICT Distributor Club). Đây là hội chợ triển lãm sẽ trưng bày và bán sản phẩm CNTT-TT và Điện tử dân dụng công nghệ mới với giá ưu đãi nhất từ trước đến nay theo chương trình giờ vàng diễn ra liên tục trong 4 ngày triển lãm (giảm từ 25% - 50%) cho nhiều loại sản phẩm. Chương trình giờ vàng được các hãng lớn như Gigabyte, Asus, Kingston, Kingmax, Samsung, LG, HP, CMS, Tiến Đạt… hỗ trợ cho các đại lý tham gia triển lãm FECIT 2009 thực hiện (các sản phẩm như màn hình LCD, laptop, máy in,….), chương trình giờ vàng chi tiết sẽ được Ban Tổ chức thông tin chi tiết qua các phương tiện báo chí, vé mời triển lãm, tài liệu quảng cáo sự kiện, website: www.hca.org.vn. Bên cạnh đó, một điểm rất mới của hội chợ triển lãm lần này là Ban Tổ Chức sẽ bố trí một khu vực dành riêng cho các bạn yêu thích chụp ảnh (Photo Corner) với hơn 10 gian hàng Digital Photo trưng bày các thiết bị và phụ tùng của ngành nhiếp ảnh để thử tài sáng tác ảnh tại chỗ cùng với các công nghệ mới, hiện đại của các hãng lớn như Canon, Sony, Nikon, Olympus, Panasonic, Epson… với những giải thưởng cực kỳ hấp dẫn.

FECIT 2009 là Hội chợ Triển lãm mang rõ sắc thái hội chợ dành cho người tiêu dùng, người tham quan hội chợ sẽ mua được các sản phẩm kỹ thuật mới với các giá khuyến mãi thấp có thể chỉ bằng 50% giá thị trường. Hội chợ Triển lãm FECIT 2009 kỳ vọng sẽ thu hút được 30,000 lượt khách tham quan.

FECIT 2009 cũng được sự ủng hộ và bảo trợ thông tin của các báo đài trong và ngoài ngành nhằm quảng bá & giới thiệu sự kiện rộng rãi đến người tiêu dùng: Tạp chí Thế Giới Vi Tính – PCW World Việt Nam, Tin học & Đời Sống, Thế Giới Số, Tạp chí Thương Mại, báo Đầu Tư / VIR, Đài truyền hình Infor TV….,

2. Ngày hội việc làm (ngày 17 & 18/10/2009):
- Tổ chức thuyết trình hướng dẫn, rèn luyện các kỹ năng cho sinh viên khi trong khi học, chuẩn bị ra trường, khởi nghiệp.
- Ngày hội tuyển dụng việc làm cho sinh viên mới ra trường hay những người muốn có cơ hội làm việc ở vị trí mới.

3. Hội thảo giới thiệu những sản phẩm, giải pháp công nghệ mới (16&17/10/2009): các đơn vị tham gia triển lãm có cơ hội được giới thiệu những sản phẩm, công nghệ, giải pháp mới tại hội chợ triển lãm trong hai ngày 16 và 17/10/2009.

VAI TRÒ CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ IT TRONG FECIT 2009
Hội chợ và Triển lãm này là tập hợp lực lượng của nhiều câu lạc bộ IT hỗ trợ trực tiếp

1. Câu lạc bộ các Doanh nghiệp IT hàng đầu Việt Nam (Top Vietnam ICT Companies Club) bảo trợ trong việc tổ chức.
2. Câu lạc bộ các Doanh nghiệp bán lẻ ICT (ICT Reseller Club) sẽ là nòng cốt trong việc tham gia bán hàng giảm giá trong giờ vàng,
3. Câu lạc bộ Nhiếp Ảnh Hội Tin học Tp.HCM (HCA Photo Club) tham gia tổ chức gian hàng nhiếp ảnh và là nhà tổ chức cuộc thi sáng tác ảnh.
4. Câu lạc bộ các Doanh nghiệp sản xuất máy tình Việt Nam (VCM Club) tham gia trưng bày sản phẩm mới và bán hàng giảm giá.
5. Câu lạc bộ Các doanh nghiệp phân phối ICT (ICT Ditributor Club) tham gia cung ứng hàng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia với giá khuyến mãi hấp dẫn.
6. Câu lạc bộ Phóng viên CNTT-VT Tp.HCM (HCMC ICT Press Club) tham gia truyền thông quảng bá cho Hội chợ triển lãm FECIT 2009.


Một số hình tại buổi họp báo:








Ông Chu Tiến Dũng - Chủ tịch HCA - Phát biểu khai mạc

Ông Phạm Thiện Nghệ - Tổng Thư ký HCA - Phát biểu giới thiệu FECIT 2009

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM - Phát biểu ý kiến về việc hỗ trợ tổ chức FECIT 2009

Ông Lê Hoàng Sơn - Phó Tổng Giám đốc Công ty Viễn Sơn, Đại diện Ban Chủ nhiệm CLB các Doanh nghiệp CNTT -TT Việt Nam hàng đầu - Phát biểu công tác chuẩn bị Chương trình giờ vàng trong Hội chợ Triễn lãm FECIT 2009

Phát Ông Phí Anh Tuấn - Giám đốc Tập đoàn CMC phía Nam - phát biểu công tác chuẩn bị Ngày hội việc làm trong Hội chợ Triển lãm FECIT 2009

PHẦN HỎI - ĐÁP

Từ phải qua: Ông Phạm Thiện Nghệ, Ông Chu Tiến Dũng, Ông Nguyễn Anh Tuấn, Ông Lê Hoàng Sơn, Ông Nguyễn Phúc Tuấn - Giám đốc Công ty NOVA, Phó Chủ nhiệm ICT Resseler Club.



http://www.hca.org.vn/tin_tuc/hd_hoi/nam2009/thang8/hopbaofecit2009

Vietnam’s ICT outlook brightens

01:45' 16/07/2008 (GMT+7)
Mr. Le Truong Tung


VietNamNet – Almost all indexes of Vietnam in the world ICT 2008 ranking increased by 3.0, bringing the country into the middle of the ranking list, a considerable advance for Vietnam’s ICT industry, said Deputy Chairman of the Vietnam Association for Information Processing (VAIP), Dr Le Truong Tung.


Mr. Le Truong Tung




The Vietnam ICT Outlook 2008 report released on Tuesday, July 15, 2008, in HCM City showed that the World Bank rated Vietnam’s Knowledge Index (KI) and Knowledge Economy Index (KEI) at 3.17 and 3.27 respectively, ranking 96 out of 140 countries.



Tuesday, January 5, 2010

05/01 Triết gia Trần Đức Thảo: Thơm mãi cỏ Khang Thành


Thứ ba, 05/01/2010 07:00 AM
…Triết gia Trần Đức Thảo là người tôi được nghe kể với nhiều giai thoại và ngậm ngùi, tiếc nuối. Cuộc đời ông như một trích tiên biếm trần, cốt cách của ông vững vàng như tùng bách đã dạn tuyết sương, còn sự nghiệp ông để lại giống như loài cỏ ở thư viện Khang Thành của học giả Trịnh Huyền thời Đông Hán (Trung Quốc) còn thơm mãi mãi.
"Phong vận kỳ oan ngã tự cư"
(NGUYỄN DU)
***
GS.NGND Nguyễn Đình Chú - trợ giảng của thầy Trần Đức Thảo tại trường ĐHSP Văn khoa năm 1957 - tâm sự rằng được làm học trò của nhà triết học Trần Đức Thảo "là một may mắn lớn nhưng cũng có phần vất vả. Có điều cái vất vả thì đã qua đi cái may mắn thì còn mãi mãi".
Ông tiếc nuối vì sai lầm của một thời đã khiến ông không còn được theo chân nối gót Thầy trên con đường nghiên cứu triết học. Cái họa "dậu đổ bìm leo" đã khiến nhà giáo trẻ Nguyễn Đình Chú im lặng rồi lặng lẽ tự nghiên cứu và giảng dạy văn học. Ông cũng không ngờ mình lại có được danh vọng cùng với học hàm, học vị, học hiệu như ngày hôm nay. Đối với ông, có được thành công này một phần là nhờ bản thân không ngừng tự phấn đấu nhưng quan trọng hơn cả, ông chịu ơn dạy dỗ, chỉ đường dẫn lối của các Thầy, đặc biệt: "Thầy Trần Đức Thảo là một con người siêu việt của Việt Nam đã đành, Thầy còn đáng cho nền văn hoá Pháp tự hào. Con người đó cũng có phần cấu thành của chung nhân loại..."
GS. Trần Đức Thảo. Ảnh tư liệu
GS. NGND Nguyễn Đình Chú trăn trở, sắp sang tuổi 80, ông muốn tạ ơn và nghĩa của các Thầy nhưng một chữ viết ra, một lời nói về các Thầy nặng tựa Thái Sơn, ông không cho phép tự dễ dãi với chính bản thân mình: đức độ của thầy Đặng Thai Mai, uyên bác của thầy Cao Xuân Huy, trí tuệ của thầy Trần Đức Thảo, nhân cách của thầy Nguyễn Mạnh Tường và thầy Trương Tửu... Tại lễ kỷ niệm 55 năm thành lập trường ĐHSP Hà Nội (11/101951 - 11/10/2006) ông đã có bài phát biểu Tự hào biết ơn và mong ước rằng : " Cái đáng kể, có thể nói là một đi nhưng không bao giờ trở lại chính là chỗ nhà trường trong buổi đầu này đã có những thầy giáo là những ông trùm văn hóa, ông trùm khoa học cho đất nước, không chỉ là sáng danh thời đó mà cả với muôn thuở non sông ..."
***
Năm 1951, Trần Đức Thảo "tung cánh chim tìm về tổ ấm". Một nhà trí thức siêu việt đã từ bỏ kinh thành Paris hoa lệ lại sau lưng, khước từ mọi vinh quang và tương lai huy hoàng để về Việt Nam tham gia kháng chiến đối diện với hoàn cảnh khổ cực thiếu thốn đủ thứ và cái chết nhiều khi sẵn sàng chờ đón, biết bao trí thức không chịu nổi đã dinh tê (enter - vào thành) với thực dân Pháp.
Sự kiện này đã gây sửng sốt đối với mọi người. Chỉ có những con người với tình yêu Tổ quốc cháy bỏng mới thấu hiểu hành động này. GS Nguyễn Đình Chú cho biết, ngày đó Tổng Bí thư Trường Chinh đã cử ông Vương Hoàng Tuyên cán bộ Văn phòng Tổng Bí thư sang tận Khu học xá Nam Ninh - Trung Quốc đón triết gia về Việt Bắc. Bắt đầu từ đây, triết gia Trần Đức Thảo tham gia công tác tại Ban Văn - Sử - Địa Trung ương (tiền thân của UB KHXH&NVQG Việt Nam), trường Đại học Sư phạm Văn khoa, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Sau vụ "Nhân Văn giai phẩm", Trần Đức Thảo phải chia tay với giảng đường, lúc đó ông đang trên cương vị Phó Giám đốc trường ĐHSP Hà Nội kiêm Trưởng khoa Lịch sử chung cho cả ĐHSP và ĐH Tổng hợp Hà Nội về làm công tác dịch thuật cho Nxb Sự Thật (Nxb CTQG ngày nay).
Nhập thế không thành công, triết gia lặng lẽ sống và làm việc trong mọi khó khăn tại căn hộ ở khu tập thể Kim Liên, không vợ con, không người thân bên cạnh. Với những người hàng xóm, ông nổi tiếng là người đãng trí, ngơ ngác trong các sự việc đang diễn ra trước cuộc đời. Biết bao khó khăn, thiếu thốn, nhất là thiếu thốn về tư liệu mới của tri thức học thuật nhưng ông vẫn không nản. Từ khối óc của con người lặng lẽ đó những tác phẩm lần lượt ra đời: Sự hình thành con người; Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người; Tìm hiểu nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức... Những công trình này được in tại châu Âu đã làm các nhà khoa học phương Tây kính nể. Không ít người mỏi mắt ngóng chờ Trần Đức Thảo từ Việt Nam. Một số người còn đến Việt Nam để tìm "ông Trần". Vậy mà tại Việt Nam nhiều người không rõ Trần Đức Thảo là ai, làm gì, ở đâu. Một số người biết ông lại muốn "Quét sạch những nọc độc của Trần Đức Thảo trong việc giảng dạy triết học" (xin xem bài của Khắc Thành, Tạp chí Học Tập - 1958).
"...Những tâm hồn thấp kém không thể hiểu thấu các bậc vĩ nhân, cũng như kẻ nô lệ nhe răng cười khi nghe hai tiếng tự do". Trần Đức Thảo thấu hiểu những lời trên của đại văn hào Pháp J.J. Rousseau viết trong sách Khế ước xã hội ra đời từ năm 1762. Trong cuộc gặp giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trần Đức Thảo khi Người là thượng khách sang thăm hữu nghị chính thức nước Pháp năm 1946, triết gia đã bày tỏ nguyện vọng trở về nước hoạt động. Việt Nam đang đứng bên bờ một cuộc chiến tranh khó tránh khỏi, vì quyền lực đang nằm trong tay những tên thực dân hiếu chiến. Hồ Chủ tịch đã đồng ý với yêu cầu về nước của nhiều nhà khoa học như kỹ sư Trần Đại Nghĩa, kỹ sư Võ Quý Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước... Còn Trần Đức Thảo?
***
Theo lời chỉ dẫn, tôi lần đến cậy nhờ nhà văn Sơn Tùng,một nhà văn đã dành tâm huyết cả cuộc đời để nghiên cứu, viết sách về Hồ Chủ tịch và các danh nhân. Nhà văn Sơn Tùng đón tôi bằng cái nhìn thân thiện, ấm áp. Tôi rụt rè trình bày mong muốn của mình. Nghe xong, lời ông nhè nhẹ trong nỗi đau sâu thăm thẳm, cao vời vợi. Thời gian Bác Hồ sang Pháp, cụ Vũ Đình Huỳnh - Bí thư của Người đã tín trọng trao lại cho nhà văn những ký ức suốt cuộc đời không thể nào quên về Hồ Chí Minh với những nhà trí thức yêu nước.
GS. Trần Đức Thảo. Ảnh tư liệu
Trời Paris trong tuần Hạ chí cao thăm thẳm không gợn một bóng mây. Nước sông Sein hòa lẫn màu da trời. Hồ Chủ tịch tiếp chuyện triết gia Trần Đức Thảo hồi 10h ngày 25/6/1946, Người băn khoăn:
"Sớm muộn gì cuộc chiến tranh Việt - Pháp sẽ không tránh khỏi phải diễn ra. Chú Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa - chú thích của tác giả), chú Võ Qúy Huân về nước sẽ chế tạo được vũ khí đánh giặc. Chú Trần Hữu Tước bào chế thuốc men... Đó là những yêu cầu khẩn thiết nhất lúc này. Còn chú, nhà triết học... Người nở nụ cười nhìn Trần Đức Thảo dí dỏm ... Chú về lúc này sẽ không có đất mà cắm dùi đâu...". Thật không ngờ, tầm nhìn xa của vị lãnh tụ hay một lời tiên tri, câu nói ấy đã vận vào cuộc đời triết gia Trần Đức Thảo.
Một buổi tối mùa đông năm 2006, theo thư của nhà văn Thái Vũ từ TP. Hồ Chí Minh gửi ra, tôi tìm đến TS Phạm Thành Hưng cựu Tổng biên tập Nxb ĐHQG Hà Nội. TS Phạm Thành Hưng là "người đỡ đầu" cho nhiều cuốn sách, trong đó có cuốn: Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo (Nxb ĐHQG Hà Nội 2006). Câu chuyện về Trần Đức Thảo đã làm tan biến không khí vốn yên tĩnh của ngôi nhà riêng ông ở trong khu tập thể ĐH Bách Khoa và làm cho chúng tôi thấy ấm áp trước những cơn gió lạnh giá của mùa đông.
Hơn 10 năm sau ngày triết gia Trần Đức Thảo về cõi thiên thu, TS Phạm Thành Hưng lo xin giấy phép xuất bản rồi bồi hồi chờ từng ngày cho đến khi sách được in ấn vẹn toàn. "Đọc sách của cụ Trần Đức Thảo khó vô cùng em ạ - ông Phạm Thành Hưng tâm sự - thế hệ trẻ các em hiện nay gần như chỉ cảm nhận được thôi. Nhưng mà đọc những bài viết về cụ mình thấy xúc động nghẹn lòng... Trong quá trình để cuốn sách đến tay độc giả gặp rất nhiều khó khăn vì những lý do tế nhị. Tuy nhiên Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 (năm 2000) truy tặng triết gia Trần Đức Thảo đó là sự khẳng định và đánh giá công lao của Đảng - Nhà nước đối với cụ".
Một niềm vui đối với vị Tổng biên tập là ban đầu ông xin được trợ cấp cho sách trước khi in vì sợ ế nhưng khi "Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo" vừa phát hành đã tạo nên một cơn sốt. Tiếp đó là sự kiện nhà thơ Việt Phương - Thư ký riêng đầu tiên của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - trao lại toàn bộ di cảo của triết gia Trần Đức Thảo đã gửi cụ Đồng cho Nxb ĐHQG Hà Nội.
"Vậy là vẫn còn di sản triết học và văn hóa học thuật của Trần Đức Thảo cả Việt văn lẫn Pháp văn như chuỗi ngọc lấm bụi lịch sử, đòi hỏi sự sưu tầm, tập hợp, dịch thuật, nghiên cứu, mài dũa để làm lộ sáng tất cả" - Ông Phạm Thành Hưng không giấu được nỗi vui mừng xúc động.
Nhà văn Sơn Tùng cho biết rằng, năm 2000 khi xét tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, GS Phan Ngọc là người giải trình về các công trình triết học của cụ Trần Đức Thảo trước hội đồng khoa học. Được sự giúp đỡ của nhà văn Sơn Tùng, tôi mon men đến cửa "Nhà bách khoa cuối cùng của một thế hệ".
GS Phan Ngọc kể rằng, thuở ở An toàn khu Việt Bắc hai anh em cùng nằm chung một cái sạp trao đổi kiến thức. Đêm trước Phan Ngọc nói chuyện về triết học và văn học phương Đông, đêm sau Trần Đức Thảo dạy về triết học và văn học phương Tây.
"Anh Trần Đức Thảo chỉ hỏi những điều sâu sa, khó, và huyền bí của triết học phương Đông thôi. Còn những cái khác anh ấy biết hết rồi".
Kết thúc câu chuyện, GS Phan Ngọc nhắc lại điều ông đã phát biểu tại hội đồng khoa học nhân dịp xét giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 (năm 2000):
"Có lẽ không nên bàn đến chuyện Trần Đức Thảo xứng đáng với giải thưởng. Sự nghiệp của ông là khách quan, của cả thế giới. Trí thức Việt kiều nhìn vào cách đối xử với ông để đánh giá thái độ của Đảng đối với trí thức do phương Tây đào tạo. Một người như Trần Đức Thảo tất nhiên có những suy nghĩ riêng về học thuyết Xtalin, học thuyết Mao Trạch Đông... Chỉ tiếc là ông đã thấy quá sớm. Cho nên tôi nhắc lại việc trao phần thưởng cho nhà triết học Trần Đức Thảo đã vượt ra ngoài phạm vi một giải thưởng, mà khẳng định một đường lối của Đảng ta đối với những lao động trí óc nói chung và đối với Việt kiều làm việc trí óc nói riêng".


Tuesday, December 29, 2009

World Bank Expands its Support to Higher Education in Vietnam

Ngân hàng Thế giới Tăng cường Hỗ trợ Giáo dục Đại học của Việt nam
Viện trợ Chính sách Phát triển Đại học (DPL)



Cũng có ở: English


Ngày 3 tháng 8 năm 2009 - Ngân hàng Thế giới gần đây đã thông qua khoản tín dụng trị giá 50 triệu đô la cho Chương trình Chính sách Phát triển Giáo dục Đại học của Việt Nam và 127 triệu đô la cho Chương trình Bảo đảm Chất lượng Giáo dục Trường học. Trong cuộc phỏng vấn này, Jeffrey Waite, Chuyên gia đầu ngành về Giáo dục và Phát triển nhân lực tại Văn phòng Ngân hàng Thế giới ở Việt Nam nói rõ thêm về sự hợp tác giữa Ngân hàng Thế giới với Chính phủ Việt Nam trong nỗ lực nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

Báo Cáo Phát Triển Việt Nam 2010 by World Bank

Báo Cáo Phát Triển Việt Nam 2010

Country Brief

Overview

Source: World Development Indicators 2007


Vietnam’s poverty reduction and economic growth achievements in the last 15 years are one of the most spectacular success stories in economic development. During this period, the World Bank Group’s relationship with Vietnam has also matured and grown considerably. The Country Partnership Strategy for FY07-FY11 supports the Government’s Socio-Economic Development Plan 2006-2010, which lays out a path of transition towards a market economy with socialist orientation, with the goal of attaining middle income country status by 2010.


Development Progress


Economic and Institutional Development

Vietnam is one of the best performing economies in the world over the last decade. Real GDP has on average grown by 7.3 percent per year during 1995-2005 and per capita income by 6.2 percent per year. The economy has proven resilient to shocks and negative impacts from SARS, avian influenza, poor weather, high commodity prices, inflation, and anti-dumping suits. In US dollar terms, income per capita rose from US$260 in 1995 to a 2007 level of US$835. At this pace Vietnam would enter the ranks of middle income countries by surpassing US$1,000 per capita in 2010.

Vietnam has become increasingly integrated with the world economy and has become a member of the WTO. Exports have been the main drivers for growth, and foreign investments have been buoyant in recent years. Main manufacturing exports are garments, footwear, and wood products, reflecting Vietnam’s comparative advantage of a low-cost but high-quality labor force. While external demand conditions have been generally favorable, the supply response has been made possible by domestic reforms that have dismantled controls on economic activity and strengthened the investment climate. Between 1995 and 2005, the share of agriculture in GDP has declined from 27 percent to 21 percent, while that of industry has risen from 29 percent to 41 percent. In January 2007, Vietnam became the 150th member of the WTO after several years of intensive negotiations.

Recent growth is driven by the rising importance of the private sector. The role of the state sector in manufacturing activity has declined appreciably: from 52 percent in 1995 to under 35 percent in 2006. But this has resulted more from the emergence of a vibrant private sector than from the dismantling of the state sector, which is being restructured and focused on more “strategic” activities. Macroeconomic policies in Vietnam have been generally prudent and key economic balances have been maintained at manageable levels. The Government’s fiscal and monetary stance reflects a determination to not repeat past mistakes that resulted in a short period of hyperinflation in 1992-1996.

Economic transition accompanied by an institutional overhaul. There has been significant progress in public financial management with the implementation of a new State Budget Law in 2004. The entire 2005 budget was disclosed to the public for the first time. The National Assembly is responsible now for the approval of budget, including allocations to lower levels of government. Decentralization is another important trait of the ongoing institutional transition. The planning process, as evidenced by the rafting process of the latest Socio Economic Development Plan, has also become considerably participatory.

A New Socio-Economic Development Plan for 2006-2010 was approved by the National Assembly in June 2006. The SEDP aims at rapid development, carefully balanced between its four pillars of economic, social, environmental development, and improved governance and institutions. The main challenges for the SEDP implementation are to address entrenched poverty among ethnic minorities, improve the quality and efficiency of public investments and development strong systems and institutions for transparent and efficient public sector management.

Medium Term Economic Outlook and Debt Sustainability

Growth performance was solid in 2007. Economic growth accelerated slightly, to 8.5 percent, making 2007 the third consecutive year above the 8-percent benchmark. Some of the potentially adverse shocks that were feared from WTO accession, especially in relation to agriculture and retail trade, did not materialize. The business climate continued to improve: business sentiment surveys consistently show an upbeat mood among enterprises, with a large majority of them foreseeing an expansion in 2008. The investment rate attained 40.4 percent of GDP in 2007. Growth was increasingly driven by the private sector, with 59,000 new enterprises registering during the year, an increase of 26 percent with respect to the previous year. Foreign Direct Investment (FDI) commitments almost doubled, to $20.3 billion, whereas stock market capitalization reached 43 percent of GDP by end 2007, compared to 1.5 percent two years earlier.

Some deceleration of economic growth can be expected in the short term, but medium-term prospects remain strong. High inflation and a large current account deficit have affected the investment sentiment, resulting in a slowdown of short-term capital inflows. The stabilization package adopted by the government in March 2008 has also resulted in a decline in stock prices and a much cooled down real estate market. As part of the package the government decided to reduce its growth target for 2008 to 7 percent. However, due to statistical inertia the growth rate for the entire year can be expected to be higher than the target. Over the medium-term, the magnitude of the investments being implemented suggests that economic growth will continue at a sustained pace.

Selected Economic Indicators:
Source: General Statistics Office (GSO) and State Bank of Vietnam (SBV) for 2006 and 2007; World Bank forecasts (base case scenario) for 2008 and 2009.

The fiscal stance of the government remains prudent. The official deficit was lower than budgeted in 2007, and stood at around 1 percent of GDP. The overall fiscal balance including off-budget investment expenditure was around 6 percent of GDP, similar to that of previous years. Off-budget investments include the issuance of government bonds for education, infrastructure and the re-capitalization of state-owned commercial banks (SOCBs). However, they are off-budget only in name. The choice of these investments reflects the priorities spelled out in the SEDP, and issuance of such bonds is subject to approval by the National Assembly. The stabilization program being implemented by the government includes a reduction of recurrent expenditures by 10 percent and a discontinuation of public investment projects which are not essential or lack appropriate funding.

Poverty Profile

The level of public debt, at 42 percent of GDP, is moderate and is considered to be sustainable. The indebtedness is similar to other ASEAN countries. The baseline scenario of the most recent Debt Sustainability Analysis (DSA) by the World Bank and the International Monetary Fund (IMF) is broadly in line with the investment and growth outlook of the SEDP. It estimates public and publicly-guaranteed debt to increase from 44 percent of the GDP in 2007 to around 51 percent by 2016, and decline slightly thereafter. This increase, though significant, is still considered within manageable limits, especially since more than half of it will remain on highly concessional terms. The concessional component of Vietnam’s debt, embodied in long repayment periods and low interest rates, is reflected in the gap between the nominal level of public debt and its net present value (about 35 percent of GDP). External debt, both public and private, is projected to decline somewhat: from a little over 30 percent of GDP to just under 26 percent in 2017. The ratio of external debt service payments to exports is estimated to remain about 4 percent during 2007 to 2017. Vietnam should thus remain at low risk of external debt distress.

A remarkable success in reducing poverty: New household data indicate that the general poverty rate fell from 58.1 percent in 1993 to 16% in 2006. The standard metrics tracking inequality suggest that the high growth and rapid poverty reduction were accompanied by only very modest increases in inequality. The Gini coefficient, for example rose from 0.34 to 0.37 between 1993 and 2004 and declined to 0.36 in 2006. This favorable trend of shared growth is considered attributed to an egalitarian redistribution of land, the liberalization of agricultural markets, and booming low-skill labor. The data also indicate that poverty reduction accelerated in the past two years.



Challenges Remain in Tackling both Persistent Pockets of Poverty and Poverty among Ethnic Minorities. These impressive achievements in reducing poverty and the absence of striking increases in inequality sit alongside slower progress for an important sub-group of the population: ethnic minorities. In 2006, 10.2 percent of the Kinh and Chinese people were living in poverty, compared to 52.2 percent of ethnic minority people. Though accounting for only 13.5 percent of the total population, ethnic minorities now constitute 44.4 percent of the poor. The poverty gap for ethnic minorities is 15.4 percent, compared to only 2 percent for Kinh people. (Poverty gaps reflect the average distance between the expenditures of the poor and the poverty line, in percentage of the latter.)






Development Outcomes

Vietnam has outperformed many other countries in terms of progress towards achieving the Millennium Development Goals (MDGs). Five of the ten main MDG targets set for 2015 have already been attained, and another three could be reached ahead of time. However, Vietnam might only partially achieve the target on reversing the loss of environmental resources and could miss the target on halving the share of the population without drinking water and sanitation. Also, it should be noted that alongside a remarkable performance on nearly all of the MDGs, important disparities in achievement remain between the Kinh majority and ethnic minority groups. For example, fewer ethnic minority children are enrolled in school, especially girls. Maternal mortality and child mortality rates are much higher in mountainous areas where many ethnic minorities live than in the rest of Vietnam.

Progress Towards The Millennium Development Goals:


Source: United Nations Development Program, GSO and World Bank


Challenges Ahead

For Vietnam to achieve middle income status by 2010, it is imperative that the foundations of a modern market economy are established. Key challenges include:

1. Completing the structural reform agenda, including the implementation of WTO commitments and the banking reform roadmap

2. Establishing an efficient regulatory framework for infrastructure while expanding the capacity to fill the supply gap in energy, transport and water;

3. Setting up social security systems that would provide for health care financing, pensions for retirees and support for temporary unemployed; and improving the quality of education throughout the system;

4. Protecting the environment and better managing natural resources;

5. Establishing a public administration based on principles of efficiency, accountability and transparency, and

6. Implementing the Anti-Corruption Law and regulations effectively.

Vietnam's Economy Shows Signs of Recovery

- The global financial crisis and economic recession has slowed economic growth in Vietnam. However positive signs of recovery have been emerging as results of government efforts to support economic activity
- The recession has had a significant impact on Vietnam’s external sector
- The fiscal deficit is expected to widen to about 9.4 person of GDP in 2009, reflecting a decline in revenues and a significant increase in expenditures
- Monetary policy has been loosened substantially to support domestic demand after a period of tightening in 2008 to tackle overheating

People in the center of the global crisis

Tran Thi Thanh is waiting to cross the road in the busy street near Hoan Kiem lake – the very centre of Hanoi. The 20-year-old, vain-looking and tiny girl feels much pressure of the rocketing price on her daily life.

Being a sophomore at the University of Labor and Society, Tran has to work at night as a baby-wear seller with a meagre 800 thousand dong per month wage (roughly 40 USD) to afford her study and living in the big city. Because of the job, she has to sacrifice time for studying, resulting in losing her scholarship accordingly.



Tran Thi Thanh - Student


She says her life is getting more difficult as all of her classmates and friends at school, especially those from the countryside.

“If not due to the global crisis, the price of living, the room rent would be lower. But since the global crisis wreck the havoc on people, all the prices of room rent, electricity, water increased dramatically. A bunch of vegetable was 500 Dong before and now it is about 3-4-thousand dong. The doubling price makes our life harder.”

Figures that speak

Tran is possibly the luckier than the 14 other million people in Asia, which according to a recent World Bank Report will fall into poverty as a result of the recent crisis.

In Vietnam, the global financial crisis and economic recession certainly slowed economic growth. Export of garments and other industrial products collapsed in the fourth quarter of 2008, and a slowdown in manufacturing became noticeable, resulting in workers losing their jobs or being underemployed. The impact was apparent in the first quarter of 2009, when GDP increased only by 3.1 percent from a year earlier, or 4 percentage points below the average first-quarter growth for the last few years.

The government announced its stimulus package which included various measures, from an interest rate subsidy, to tax breaks, and to additional capital spending. As a result, GDP grew by 4.5 percent in the second quarter and 5.8 percent in the third, raising real GDP growth to 4.6 percent year-on-year for January – September. Fiscal deficit is expected to widen to about 9.4 person of GDP in 2009, reflecting a decline in revenues and a significant increase in expenditures. Monetary policy has been loosened substantially to support domestic demand after a period of tightening in 2008 to tackle overheating.

The picture isn’t that bright when it comes to challenges that Vietnam has to face in the future in its quest for poverty reduction. The pockets of poverty in the poorer and mountainous regions of Vietnam with high concentration of ethnic minorities, urban poor and migrants workers, workers in the informal sectors and households enterprises are specifically vulnerable.


Do Thi Thao - Street Vendor

Do Thi Thao has sold conical hats on the street of Hanoi to tourists for more than a year now. The 17- year-old girl sends money home reguarly to help her parents in Thanh Hoa province in the Northeast support the education of other three brothers and sister.

Today, she has not sold anything since the morning and it was the same for the past several days. She stresses being a street vendor is a very difficult way of earning money.

“Everyone has his/her own destiny. Being a street vendor is extremely difficult. I have to go out no matter how it rains or sun shines.”

Looking ahead

The reports praised Vietnam for doing relatively well in reducing poverty levels, despite the sharp increase in food and fuel prices in the first half of 2008, and the slow growth in late 2008 and early 2009.

At the same time, there are things that still need attention. Greater and more effective investment in education and training of Vietnam’s future workforce, for example, is expected to help reduce vulnerabilities and growing economic opportunities. For people like Tran Thi Thanh, this is definitely important as education will give her a better tomorrow than selling baby clothes like now.

The report also suggests a system of social protection, which is underdeveloped in Vietnam but absolutely necessary if the country moves forward. This will help provide basic services for the most vulnerable people, including ethnic minority people, poor migrants so that they can seek for better opportunities and not having to care for their basic needs. But for now, Do Thi Thao will still have to make ends meet by selling conical hats and crossing her fingers for more tourists to come by.


Permanent URL for this page: http://go.worldbank.org/5DDXAE2LP0